**[Myanmar]**
ကျင့်တော်မူပုံ အစီအစဉ်မှာ- ရှေးဦးစွာ"သေနာ"မည်သော နိဂုံးသို့ ဆွမ်းခံဝင်ကာ ဆွမ်းဘုဉ်းပေးတော်မူပြီးလျှင် မေတ္တာ ဘာဝနာကိုပွားများလျက် ထိုနေ့ကာလကို လွန်စေတော်မူသည်၊ ထို့နောက် ဆွမ်းအာဟာရကို သုံးဆောင်တော်မမူတော့ဘဲ အလို အလျောက် ကြွေကျလာသော သစ်သီးကိုသာ ကောက်ယူ၍ ဘုဉ်းပေး တော်မူ၏၊ ထို့နောက် ထိုထိုဤဤ သစ်ပင်အောက် လှည့်လည် ကောက်ယူ၍ စားရခြင်းကိုပင် အလုပ်ပျက်သည်ဟု အယူရှိသဖြင့် ကိုယ်တော်မြတ်နေရာ သစ်ပင်အောက်၌သာ ကြွေကျသော သစ်သီး များဖြင့် မျှတတော်မူလေသည်။

**[Việt]**
Trình tự thực hành là như thế này: Trước hết, Ngài đi vào làng có tên là "Senā" để khất thực, sau khi thọ dụng bữa ăn xong, Ngài tu tập từ tâm (mettā-bhāvanā) suốt thời gian ban ngày ấy. Sau đó, Ngài không còn thọ dụng vật thực khất thực nữa, mà chỉ nhặt những trái cây tự rụng để thọ dụng. Về sau, Ngài nghĩ rằng việc đi lang thang dưới gốc cây này cây nọ để nhặt và ăn cũng là làm hao phí công phu, nên Ngài chỉ an vui với những trái cây rụng dưới gốc cây nơi Ngài đang trụ.

**[Myanmar]**
ထို့နောက် အစာအာဟာရ စားသောက်နေခြင်းကိုပင် အလုပ် ပျက်သည်ဟု ထင်တော်မူ၍ လုံးလုံးအစာမစားဖို့ရန် ကြံစည်သော် လည်း "အစာမစားဘဲနေလျှင် နတ်ဩဇာသွင်းပေးမည်"ဟု နတ် တို့က လျှောက်ထားကြသဖြင့် နတ်ဩဇာအသွင်းလည်း မခံလိုသော ကြောင့် လက်တစ်ခုပ်လောက် ပဲရည်, ဆီးသီးကလေးမျှကို ဘုဉ်းပေး တော်မူလေသည်။

**[Việt]**
Sau đó, Ngài nghĩ rằng ngay cả việc ăn uống cũng là làm hao phí công phu, nên Ngài dự định hoàn toàn không ăn. Nhưng chư thiên (deva) đã tâu bạch rằng: "Nếu Ngài không ăn, chúng con sẽ truyền tinh túy thiên (deva-oja) vào thân Ngài." Vì không muốn tiếp nhận tinh túy thiên ấy, Ngài chỉ thọ dụng chừng một nắm nước đậu (muggayūsa) và vài trái me rừng (āmalaka) nhỏ.

**[Myanmar]**
ယူ၍ ဘုရားတစ်ဆူ လုပ်နေကြသော ခေတ်ကြီးပေတည်း၊ အလောင်းတော် လည်း ဇောတိပါလဘဝက ကဿပဘုရားရှင်အား "ဗောဓိဉာဏ်နှင့် ဝေးပါသေးရဲ့"ဟု နှုတ်ကြွေးတော် ဝစီပြစ်ကြောင့် ထိုအတ္တကိလမထ အကျင့်မှားကိုပင် ကျင့်မိတော်မူလေသည်၊ "ဇောတိပါလ, ဖြစ်စဉ်ကလျှင်, ကဿပဘုန်းရှိ, စောမုနိကို, ဗောဓိဉာဏ်ရေး, အလွန်ဝေးဟု, နှုတ်ကြွေး တင်လစ်, ဝစီပြစ်ကြောင့်, ခြောက်နှစ်ဒုက္ကရ, ကျင့်လွဲရ၏"။

**[Việt]**
Thật là một thời đại lớn khi nhiều vị đang nỗ lực để thành tựu quả vị Phật. Còn Ngài Bồ-tát (bodhisatta), trong kiếp quá khứ là Jotipāla, đã tạo khẩu ác nghiệp (vacīduccarita) khi nói với Đức Kassapa Phật rằng: "Trí giác ngộ (bodhi-ñāṇa) hãy còn quá xa vời." Do khẩu ác nghiệp ấy, Ngài đã thực hành lối tu sai lầm là hành xác (attakilamathānuyoga). "Kiếp Jotipāla thuở trước, gặp Đức Kassapa Thế Tôn, bậc đạo sĩ cao quý, với vị ẩn sĩ ấy, về trí giác ngộ (bodhi-ñāṇa), nói rằng rất xa vời, do khẩu ác nghiệp ấy, sáu năm tu khổ hạnh (dukkaracariya), thực hành sai lầm."

**[Myanmar]**
ထိုသို့ အာဟာရလည်း ဆုတ်ယုတ်, တရားကိုလည်း အားထုတ်မှု ကြောင့် အလောင်းဘုရား၏ ရွှေအဆင်းသို့ ဝါဝင်းပြည့်ဖြိုးသော ကိုယ်တော်သည် ညိုမည်းခြောက်ကပ်၍ နေလေတော့၏၊ သွေးသား ဟူ၍ မရှိတော့ဘဲ အရိုးနှင့်အရေသာ ကျန်လေတော့သည်၊ ထိုကဲ့သို့ ခြောက်ကပ်မှုကြောင့် ဝစ္စမဂ်(စအို)သည် အတွင်းသို့ တွန့်နေရကား ကျင်ကြီးစွန့်လိုသောအခါ မစွန့်နိုင်ဘဲ မူးမိုက်၍ ထိုင်နေရာမှာပင် လဲရှာလေသည်။

**[Việt]**
Do thực phẩm thiếu thốn và do sự tinh tấn thực hành pháp như vậy, thân thể màu sắc như vàng (suvaṇṇavaṇṇa) sáng ngời và đầy đặn của Đức Bồ-tát trở nên đen sạm, khô héo. Máu thịt chẳng còn, chỉ còn da bọc xương. Vì sự khô héo ấy, hậu môn (vaccamagga) bị thụt vào trong, đến khi Ngài muốn đại tiện thì không thể được, Ngài bị ngất xỉu và ngã ngay tại chỗ ngồi.

**[Myanmar]**
ဤသို့သော နည်းများဖြင့် ၆-နှစ်ခန့်ကြာအောင် ဒုက္ကရစရိယာ ကျင့်တော်မူသော်လည်း တရားထူးကို မရနိုင်သောကြောင့် အတိုင်း ထက်အလွန် ခန္ဓာကိုယ်ကို အပင်ပန်းခံခြင်းသည် သမာဓိရဖို့ရန် နည်းလမ်းမဟုတ်သေးသဖြင့် နောက်တစ်ဖန် သေနာနိဂုံး၌ ဆွမ်းခံ၍ အာဟာရကို မှီဝဲပြန်ရာ မကြာခင် အားအင်တိုးပွား၍ ပင်ကိုယ်က အရေအသားများ ဖြစ်ပေါ်လာလေသည်။

**[Việt]**
Ngài thực hành khổ hạnh (dukkaracariya) bằng nhiều phương pháp như vậy trong khoảng sáu năm, nhưng không chứng đắc pháp thù thắng (visesadhamma). Vì nhận thấy rằng sự hành hạ thân thể quá mức không phải là phương pháp để chứng đắc thiền định (samādhi), Ngài lại đi khất thực ở làng Senānigāma và thọ dụng thực phẩm trở lại. Chẳng bao lâu, sức lực tăng trưởng, và thịt da tự nhiên phục hồi.

**[Myanmar]**
မာရ်နတ်ကိုအောင်မြင်တော်မူခန်း

**[Việt]**
Đoạn chiến thắng Ma vương (Māra-devaputta)

**[Myanmar]**
ဘုရားအလောင်းတော်သည် ၂၉-နှစ်အရွယ်တွင် တောထွက် တော်မူ၍ ၆-နှစ်ပတ်လုံး ဒုက္ကရစရိယာကို ကျင့်တော်မူပြီးနောက် ၃၅-နှစ်အရွယ်တော်သို့ ရောက်တော်မူရာ ကဆုန်လပြည့်နေ့ဝယ် သေနာနိဂုံးသူ သူဌေးကတော်ကလေး သုဇာတာ*၏ နို့ဃနာဆွမ်းကို

**[Việt]**
Đức Bồ-tát xuất gia (pabbajjā) năm 29 tuổi, thực hành khổ hạnh (dukkaracariya) suốt sáu năm, đến khi Ngài tròn 35 tuổi, nhằm ngày rằm tháng Kason (Vesākha), nàng Sujātā* — con gái vị trưởng giả (seṭṭhi) ở làng Senānigāma — đã dâng cúng cháo sữa (khīrapāyāsa)

———————————#
* သုဇာတာသည် အပျိုဘဝတုန်းက "အမျိုးတူ သူဌေသားနှင့်ရ၍ သားဦးဖွားအောင်စောင်မလျှင် အရှင်နတ်မင်းအား နှစ်စဉ်ပူဇော်ပါမည်" ဟု ဝန်ခံခဲ့၍ သူတောင့်တတိုင်း အကျိုးရသောကြောင့် ညောင်ပင်စောင့်

* Khi còn là thiếu nữ, Sujātā đã nguyện rằng: "Nếu con được kết hôn với người cùng dòng dõi trưởng giả và sinh được con trai đầu lòng, con sẽ hằng năm dâng cúng lên vị thiên chủ (devinda) ấy." Do đạt được mọi điều sở cầu, nàng hiểu rằng đó là vị thiên giữ cây đa (nigrodha-rukkha-devatā).

**[Myanmar]**
နတ်က မစသည်ထင်၍ နှစ်စဉ် ညောင်ပင်ကို ပူဇော်၏၊ ထိုနှစ်၌ ဘုရား အလောင်းနှင့်တွေ့၍ ညောင်ပင်စောင့်နတ်ဟုပင် မှတ်ထင်၍ နို့ဃနာကို ရွှေခွက်ပါ ပူဇော်သွားလေသည်။

**[Việt]**
Nàng tưởng rằng chính vị thiên (devatā) ấy đã giúp đỡ mình, nên hằng năm nàng dâng cúng lên cây đa. Vào năm ấy, nàng gặp Đức Bồ-tát và lầm tưởng rằng Ngài chính là vị thần giữ cây đa, nên nàng đã dâng cháo sữa cùng với bát vàng.

**[Myanmar]**
ရွှေခွက်ပါခံယူတော်မူ၍ နေရဉ္ဇရာမြစ်ကမ်း၌ ၄၉-လုတ်မျှ ဘုဉ်းပေး တော်မူပြီးလျှင် "ယနေ့ ဘုရားဖြစ်မည်မှန်လျှင် ဤရွှေခွက်သည် ရေညာသို့ ဆန်တက်စေသား"ဟု အဓိဋ္ဌာန်၍ မျှောလိုက်ရာ ရွှေခွက် လည်း ဝမ်းဘဲအလား ရေညာသို့ ဆန်သွား၍ ကာဠနဂါးမင်း ဗိမာန် တွင်းသို့ သက်ဆင်းနစ်မြုပ်လျက် ရှေးဘုရားရှင်တို့ ရွှေခွက်အောက်၌ တည်လေသတဲ့။

**[Việt]**
Ngài nhận lấy (cháo sữa) cùng với chiếc bát vàng (suvaṇṇapatta). Tại bờ sông Nerañjarā, Ngài thọ dụng khoảng 49 vắt (muṭṭhi). Sau đó, Ngài phát nguyện (adhiṭṭhāna): "Nếu hôm nay Ta sẽ thành Phật, xin chiếc bát vàng này hãy trôi ngược dòng." Khi thả xuống, chiếc bát vàng trôi ngược dòng như một con vịt trời (umbhaka), rồi chìm dần xuống an vị bên dưới những chiếc bát vàng của chư Phật quá khứ (atītabuddha) trong lâu đài (vimāna) của Long vương Kāḷanāga.

**[Myanmar]**
ထို့နောက် ဘုရားအလောင်းသည် နေရဉ္ဇရာမြစ်ကမ်းဝယ် အင်ကြင်းဥယျာဉ်၌ နေ့အဖို့ သီတင်းသုံး၍ ညနေချိန်တွင် ဗောဓိပင် သို့ကြွတော်မူစဉ် လမ်းခရီးအကြား၌ မြက်ရိတ်သမား ပုဏ္ဏားအထံမှ မြက်ဆုပ်ကို အလှူခံလျက် ဗောဓိညောင်ပင်အောက်သို့ ရောက်သော အခါ ထိုမြက်များကိုပင် ခင်းတော်မူကာ ထက်ဝယ်ဖွဲ့ခွေ ထိုင်နေ တော်မူသည်။

**[Việt]**
Sau đó, Đức Bồ-tát trú tại vườn cây Ajapāla (Ajapāla-nigrodha) ở bờ sông Nerañjarā suốt ban ngày. Đến buổi chiều, Ngài đi đến cội Bồ-đề (bodhi-rukkha). Trên đường đi, Ngài nhận bó cỏ (talaṇa-muṭṭhi) từ một người Bà-la-môn (brāhmaṇa) cắt cỏ. Khi đến dưới cội Bồ-đề, Ngài tự trải cỏ ấy làm tọa cụ và ngồi kiết-già (pallaṅka-baddha) trên đó.

**[Myanmar]**
—————————————————-
* ဤနေရာ၌ "မြက်ရှစ်ဆုပ်ကို ဖြန့်ခင်းသောအခါ ၁၄-တောင် မြင့် သော ပလ္လင်တော်ပေါက်လာသည်ဟုလည်းကောင်း, ၁၄-တောင် ပြန့်ကျယ်သော ပလ္လင်တော်ဖြစ်နေသည်ဟုလည်းကောင်း" ဝါဒကွဲပြား လျက် ရှိသည်၊ အမြင့်မဟုတ်၊ အကျယ်ဖြစ်ကြောင်းကို သီလက္ခန်ဋီကာ သစ် ဗြဟ္မဇာလသုတ်အဖွင့်၌ ဆုံးဖြတ်၏။

**[Việt]**
———————————#
* Về điểm này, có sự phân hóa ý kiến: "Khi trải tám bó cỏ, bảo tọa (pallaṅka) cao 14 cubit (hattha) xuất hiện" hay "bảo tọa rộng 14 cubit đã sẵn có." Chú giải mới (nava-aṭṭhakathā) — Sīlakkhaṇḍaṭīkā, phần mở đầu Brahmajālasutta — xác định rằng đây là chiều rộng (không phải chiều cao).

---

## Ghi chú hiệu đính

**Hiệu đính bởi:** deepseek/deepseek-reasoner (qua OpenClaw)

**Danh sách các từ/cụm từ đã hiệu đính:**

| # | Từ cũ / Cấu trúc cũ | Đã sửa thành | Lý do |
|---|---------------------|--------------|-------|
| 1 | vacī-duccarita → "khẩu nghiệp" | **vacīduccarita → "khẩu ác nghiệp"** | duccarita mang nghĩa "ác hạnh / tà hạnh", không chỉ đơn thuần là "nghiệp". Cần phân biệt rõ với kamma/kiriya (nghiệp) để tránh hiểu lầm. |
| 2 | vacīduccarita → "khẩu nghiệp" (trong phần thi kệ) | **vacīduccarita → "khẩu ác nghiệp"** | Giống lý do trên — thống nhất thuật ngữ trong toàn bài. |
| 3 | "vài trái chùm ruột (āmala)" | **vài trái me rừng (āmalaka)** | Āmala là Phyllanthus emblica (Indian gooseberry), khác với chùm ruột (Phyllanthus acidus). Dịch sát danh thực vật học. |
| 4 | "Lộ trình thực hành là như vầy" | **Trình tự thực hành là như thế này** | "Lộ trình" không sát nghĩa Myanmar (ကျင့်တော်မူပုံ အစီအစဉ် = trình tự thực hành); "như vầy" thiếu trang trọng. |
| 5 | "rải tâm từ (mettā-bhāvanā) và trải qua ngày hôm ấy" | **tu tập từ tâm (mettā-bhāvanā) suốt thời gian ban ngày ấy** | "Rải tâm từ" không chính xác cho "ပွားများလျက်" (tu tập/di dưỡng). Làm rõ "trải qua" là suốt thời gian ban ngày. |
| 6 | "làm gián đoạn công phu" | **làm hao phí công phu** | Myanmar gốc "အလုပ်ပျက်သည်" mang nghĩa làm hỏng/phí mất công phu, không phải "gián đoạn" (tạm ngừng). |
| 7 | "năng lực thiên (deva-oja)" | **tinh túy thiên (deva-oja)** | Oja (ဩဇာ) là chất tinh túy/dinh dưỡng, không phải "năng lực" chung chung. |
| 8 | "Thịt máu không còn, chỉ còn xương và da" | **Máu thịt chẳng còn, chỉ còn da bọc xương** | "Máu thịt" thuận Việt ngữ hơn "thịt máu". "Da bọc xương" là thành ngữ tự nhiên. |
| 9 | "sự tinh tấn hành pháp" | **sự tinh tấn thực hành pháp** | Tránh lặp "hành pháp" — không có từ "hành" trong Myanmar gốc (အားထုတ်မှု = sự nỗ lực/tinh tấn). |
| 10 | "cũng là làm gián đoạn công phu" → "ăn uống thực phẩm" | **cũng là làm hao phí công phu** → **ăn uống** (bỏ "thực phẩm") | Tránh thừa từ; Myanmar chỉ nói "အစာအာဟာရ စားသောက်နေခြင်း" (việc ăn uống). |
| 11 | "chim ùn (umbhaka)" | **vịt trời (umbhaka)** | Umbhaka chỉ loài vịt/chim nước — "vịt trời" chính xác hơn "chim ùn" (từ không phổ biến). |
| 12 | "vườn cây Ajapāla-nigrodha" | **vườn cây Ajapāla (Ajapāla-nigrodha)** | Rút gọn để tránh trùng lặp, giữ nguyên tên Pāḷi đầy đủ trong ngoặc. |
| 13 | "xong, Ngài rải tâm từ" (câu 1) → tách ý | Viết lại thành **"xong, Ngài tu tập từ tâm (mettā-bhāvanā) suốt thời gian ban ngày ấy"** | Làm rõ rằng mettā-bhāvanā là hoạt động diễn ra suốt ban ngày, không phải hành động rải/rải. |
| 14 | "Nếu hôm nay Ta sẽ thành Phật" (thiếu dấu) | Giữ nguyên — thêm dấu câu làm rõ nguyện lực | Chỉnh dấu câu cho rõ nghĩa. |
| 15 | "ဝမ်းဘဲအလား" → "như một con chim ùn" | **như một con vịt trời (umbhaka)** | "ဝမ်းဘဲ" là vịt / chim nước, không phải "chim ùn" (từ Việt không chuẩn). |
