# Ân Đức Tam Bảo (Ratanàtthagunaram) - Dịch Song Ngữ
*Batch: Trang 41 đến Trang 45*

---

## Trang 41

**[Myanmar]**
လောကသုံးပါး။ ။သတ္တလောက, ဩကာသလောက, သင်္ခါရ လောကဟု လောကသုံးပါးရှိ၏၊ 

**[Việt]**
**Ba loại Thế gian (Loka):** Có ba loại thế gian gồm: Sattaloka (Chúng sinh thế gian), Okāsaloka (Không gian thế gian) và Saṅkhāraloka (Hành thế gian).

**[Myanmar]**
သက်ရှိသတ္တဝါအပေါင်းသည် သတ္တလောကမည်၏၊ သတ္တဝါတို့၏ တည်နေရာဘုံဌာနသည်လည်း ကောင်း, ဘုံမရှိသော နေရာဌာနသည်လည်းကောင်း ဩကာသ လောကမည်၏၊ ရုပ်တရား, နာမ်တရားအားလုံးသည် သင်္ခါရလောက မည်၏။

**[Việt]**
Toàn bộ chúng sinh có sinh mạng được gọi là Sattaloka. Chỗ trú ngụ, cõi sở tại của chúng sinh, cũng như những nơi chốn không hình thành cõi sở tại, được gọi là Okāsaloka. Tất cả các Danh pháp (Nāma) và Sắc pháp (Rūpa) được gọi chung là Saṅkhāraloka.

**[Myanmar]**
သတ္တလောက သိတော်မူပုံ ။ ။ “ဤကမ္ဘာလောကကြီး၌ အပါယ်လေးပါးတွင် ခြတောင်ပို့တစ်ခု၌ ခြသတ္တဝါပေါင်းများစွာ, ပုရွက်တွင်း တစ်တွင်း၌ ပုရွက်သတ္တဝါပေါင်းများစွာ, ငါးဥတစ်ဥ၌ ငါးသတ္တဝါလေးတွေများစွာ, ပြိတ္တာသတ္တဝါတွေများစွာ, ငရဲ သတ္တဝါတွေများစွာ, လူနတ်ဗြဟ္မာသတ္တဝါတွေ များစွာရှိသည်”ဟု သိမှုမှာ ဆန်းကျယ်လှသည် မဟုတ်ပါ၊ 

**[Việt]**
**Sự thấu triệt về Sattaloka (Chúng sinh thế gian):** Sự thấu biết theo kiểu: "Trong cõi thế gian này, tại 4 cõi Khổ (Apāya), trong một tổ mối có vô số sinh vật mối, trong một hang kiến có vô số sinh vật kiến, trong một ổ trứng cá có vô số sinh vật cá con; có vô số chúng sinh Ngạ quỷ (Peta), có vô số chúng sinh Địa ngục (Niraya), có vô số chúng sinh là nhân loại, chư thiên và Phạm thiên", thực ra sự biết ấy chưa có gì là vi diệu cả.

**[Myanmar]**
ဘုရားရှင်ကား ထိုသိမှုမျိုး ထက် လွန်၍ သတ္တဝါတစ်ယောက်ကို “ဤသူသည် စရိုက်အမျိုးမျိုး တွင် မည်သည့်စရိုက်က လွန်ကဲနေ၏၊ အနုသယအမျိုးမျိုးတွင် မည်သည့်အနုသယက ထက်သန်နေ၏၊ ပင်ကိုယ်ဆန္ဒ ညံ့ဖျင်း၏၊ သို့မဟုတ် ထက်သန်၏၊ သဒ္ဓါစသော ဣန္ဒြေ ၅-ပါးတွင် မည်သည့် ဣန္ဒြေက ထက်မြက်၍ မည်သည့်ဣန္ဒြေက ညံ့သေး၏” စသည်ဖြင့် သိတော်မူပါသည်။

**[Việt]**
Đức Phật thì vượt qua khỏi kiểu thấu biết thông thường đó. Đối với từng chúng sinh một, Ngài thấu triệt cặn kẽ: "Người này trong số các Tập tính (Carita) thì tập tính nào đang nổi trội; trong các loại Phiền não ngủ ngầm (Anusaya) thì loại nào đang hoạt động mạnh; Tâm nguyện (Chanda) gốc rễ của họ là thấp kém hay mãnh liệt; Trong 5 căn (Indriya) bắt đầu bằng Đức tin (Saddhā) thì căn nào đang bén nhạy, căn nào còn yếu kém" v.v...

**[Myanmar]**
ထိုသို့ သိတော်မူရာ၌ အတွေးအဆအားဖြင့် မှန်းဆ၍ သိတော် မူခြင်း မဟုတ်၊ ဆရာဝန်သည် ပြဒါးတိုင်ဖြင့် လူနာ၏ အပူဒီဂရီကို ချိန်ကြည့်သောအခါ တက်သောအပူဒီဂရီကို သိနိုင်သကဲ့သို့ ထို

**[Việt]**
Trong sự thấu triệt ấy, Ngài không hề dựa vào tư duy phỏng đoán (suy luận logic) để biết. Giống như một vị bác sĩ khi dùng nhiệt kế để đo lường sẽ biết được chính xác mức độ thân nhiệt của bệnh nhân đang tăng lên đến đâu... *(Tiếp tục ở Trang 42)*

---

## Trang 42

**[Myanmar]**
သတ္တဝါ၏ အတွင်းဓာတ် အခြေအနေအားလုံးကို ကွဲကွဲပြားပြားနှင့် ထင်ရှားစွာ သိမြင်တော်မူနိုင်ပါသည်။

**[Việt]**
...Ngài cũng thấu triệt và nhìn thấu một cách vô cùng rõ ràng, tường tận toàn bộ mọi căn cơ, tình trạng nội tâm của chúng sinh ấy. 

**[Myanmar]**
[စရိုက်-အနုသယ-ဣန္ဒြေ တို့၏ အကြောင်းများမှာ အဘိဓမ္မာနှင့် သက်ဆိုင်သောကြောင့် မိမိတို့လေ့လာနေကျ အဘိဓမ္မာကျမ်းစာများ၌ ရှာဖွေကြည့်ရှု၍ လည်းကောင်း, မေးမြန်း၍လည်းကောင်း သိပါလေ။]

**[Việt]**
*[Bởi vì các vấn đề liên quan đến Tập tính (Carita), Tùy miên (Anusaya) và Căn (Indriya) thuộc về Vi-diệu-pháp (Abhidhamma), nên quý vị hãy tự tìm hiểu, tra cứu hoặc thưa hỏi thông qua các sách Abhidhamma thường học.]*

**[Myanmar]**
သြကာသလောက သိတော်မူပုံ။ ။သတ္တဝါတို့နေရာ ကမ္ဘာလောကကြီး တည်နေပုံကိုပြရာ၌ ကျမ်းဂန်အဆိုသည် ယခုခေတ် လောကဓာတ်ဆရာတို့၏ အယူအဆနှင့် မတူမျှဘဲရှိနေ၏၊ 

**[Việt]**
**Sự thấu triệt về Okāsaloka (Không gian thế gian):** Khi mô tả về cấu trúc của thế giới - nơi trú ngụ của chúng sinh, kiến giải trong các Kinh điển (Chú giải) không hề giống với quan điểm của các nhà khoa học vũ trụ thời nay.

**[Myanmar]**
ကမ္ဘာ တည်နေဟန်ကို ပါဠိကျမ်းဂန်များ၌ ဆိုပုံကား- ဤမြေကြီးသည် အထု(အထူ)အားဖြင့် ယူဇနာပေါင်း ၂-သိန်း ၄-သောင်း ရှိ၏၊ အထက်တစ်ဝက်သည် ပကတိမြေသားဖြစ်၍ အောက်တစ်ဝက်မှာ ကျောက်မြေသား ဖြစ်သတဲ့၊ 

**[Việt]**
Theo các kinh điển Pāḷi, cấu trúc thế giới được diễn tả như sau: Khối Đất (Đại địa) này có độ dày là 240.000 Do-tuần (Yojana). Phân nửa phía trên là lớp đất bùn nguyên thủy, phân nửa phía dưới là lớp đất đá.

**[Myanmar]**
ဤမြေကြီး၏အောက်၌ ယူဇနာ ၄- သိန်း ၈-သောင်းထူသော ရေပြင်ကြီး တည်ရှိ၏၊ “ရေပြင်”ဟုဆို သော်လည်း အရည်ဟုတ်ဟန်မတူ၊ အလွန်အေး၍ ခဲနေသော ရေခဲတုံးကြီးဖြစ်ဟန်ရှိ၏၊ 

**[Việt]**
Bên dưới khối Đất này là một Khối Nước khổng lồ có độ dày 480.000 Do-tuần. Tuy gọi là "Khối Nước", nhưng dường như nó không ở dạng thể lỏng, mà có vẻ như là một khối băng khổng lồ cực kỳ lạnh giá và đông đặc.

**[Myanmar]**
မြေအထုထက် ၂-ဆလောက်ထူသော ရေခဲတုံးကြီးက မြေအပြင်ကို ပင့်မြှောက်ခံယူထားနိုင်သည်မှာ အံ့ဩစရာမရှိတော့ပြီ၊ 

**[Việt]**
Việc một khối nước đá khổng lồ có độ dày gấp đôi độ dày của khối đất, có thể nâng đỡ và chống giữ bề mặt của khối đất, thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả.

**[Myanmar]**
ထိုရေပြင်ကြီးကိုကား ယူဇနာ ၉-သိန်း ၆- သောင်းထူသော လေပြင်ကြီးက အောက်မကျအောင် ပင့်မြှောက် တိုက်ခတ်လျက်ရှိ၏၊ ဤလေပြင်ကြီး အောက်၌လည်း မဆုံးနိုင် အောင် ဟင်းလင်းဟာလာ အာကာသကောင်းကင် ရှိလေသည်၊ ဤကား ကမ္ဘာမြေကြီး၏ အောက်ပိုင်းမြေပုံတည်း။

**[Việt]**
Bản thân Khối Nước khổng lồ ấy lại được nâng đỡ, chống giữ để không bị rơi xuống bởi một Khối Gió cuồn cuộn có độ dày 960.000 Do-tuần. Và bên dưới Khối Gió khổng lồ này là không gian vô tận (Hư không / Ākāsa) trống rỗng không có điểm dừng. Đây là hình ảnh cấu trúc phần dưới của đại địa thế giới.

---

## Trang 43

**[Myanmar]**
စကြဝဠာတစ်ခုဟု သတ်မှတ်အပ်သော ဤကမ္ဘာမြေကြီး၏ အဝန်းယူဇနာမှာ သုံးသန်းခြောက်သိန်းတစ်သောင်းသုံးရာ့ငါးဆယ် ရှိ၏၊ ကမ္ဘာမြေဝန်းကို ကျောက်တောင်ကြီးများက တံတိုင်းခတ်သလို ရံပတ်၍နေ၏၊ ထိုကျောက်တောင်ကြီးများ ဆက်စပ်၍ ရံပတ်နေ သည်ကိုပင် စကြဝဠာမဟာရံတံတိုင်ဟု ခေါ်စမှတ်ပြုကြ၏၊ 

**[Việt]**
Chu vi của toàn bộ khối đại địa thế giới này - được định nghĩa là một Cakkavāḷa (Hệ mặt trời/Tiểu thế giới) - đo được 3.610.350 Do-tuần. Vòng đai của đại địa thế giới được bao bọc bởi những ngọn núi đá khổng lồ giống như một bức tường thành. Chuỗi núi đá khổng lồ liên kết bao bọc vòng quanh đó được gọi là Núi Thiết Vi / Tường thành Cakkavāḷa (Cakkavāḷamahāraṃ).

**[Myanmar]**
ဤ ကမ္ဘာမြေဝန်း၏ အတွင်း၌ကား သမုဒ္ဒရာရေပြင်ကြီး ရှိ၏၊ ထိုရေပြင် ၏ အနက်ဆုံးနေရာသည် ယူဇနာ ၈-သောင်း ၄-ထောင် နက်၏၊ 

**[Việt]**
Bên trong vòng đai đại địa thế giới này là đại dương mênh mông. Điểm sâu nhất của đại dương đó sâu 84.000 Do-tuần.

**[Myanmar]**
အလည်ဗဟို တည့်တည့်၌ကား ရေ၏အထက်၌ ယူဇနာ ၈-သောင်း ၄-ထောင်, ရေ၏အတွင်း၌ ယူဇနာရှစ်သောင်း လေးထောင်ရှိ၍ ယူဇနာပေါင်း ၁-သိန်း ၆-သောင်း ၈-ထောင် မြင့်သော မြင်းမိုရ်တောင် တည်ရှိ၏၊ 

**[Việt]**
Ngay tại vị trí trung tâm, tọa lạc ngọn núi Sineru (Tu-di), với chiều cao ngoi lên khỏi mặt nước là 84.000 Do-tuần, chiều sâu chìm dưới mặt nước cũng là 84.000 Do-tuần; tổng chiều dài là 168.000 Do-tuần.

**[Myanmar]**
ထိုမြင့်မိုရ်တောင်၏ ပတ်ဝန်းကျင်၌ “သီဒါ”ခေါ်သော မြစ်တစ်ခုခြား၍ မြင်းမိုရ်တောင်၏ အောက် တစ်ဝက်လောက်နိမ့်သော ယုဂန္ဓိုရ်တောင် တည်ရှိ၏၊ ဤနည်း အတိုင်း “သီဒါမြစ်”တစ်ခု ခြားကာခြားကာ တောင်စဉ် ခုနစ်ထပ် မြင်းမိုရ်တောင်ကို ရံပတ်၍ တည်လေသည်။

**[Việt]**
Bao quanh ngọn núi Sineru, cách một con sông (biển) tên là "Sīdā", tọa lạc ngọn núi Yugandhara (Du-kiền-đà-la) với chiều cao bằng phân nửa núi Sineru. Theo cùng một phương thức đó, cứ cách một "Sông Sīdā", lại có một dãy núi; tổng cộng có 7 dãy núi (Sattabhantarasela) bao bọc xung quanh ngọn núi Sineru.

**[Myanmar]**
ထိုမြင်းမိုရ်တောင်နှင့် တောင်စဉ်ခုနစ်ထပ်တို့၏ လေးမျက်နှာ အရပ်ရှိ ရေလယ်ခေါင်၌ ကျွန်းကြီး ကျွန်းငယ် အသွယ်သွယ် ပေါ်ထွန်းလျက်ရှိ၏၊ ထိုကျွန်းမြေများသည်ပင် လူစသော သတ္တဝါ တို့၏ တည်နေရာ မြို့ရွာတောတောင်များ ဖြစ်ကြလေသည်၊ 

**[Việt]**
Ở giữa đại dương tại bốn phương hướng của núi Sineru và 7 dãy núi nói trên, có vô số các châu lục (đảo) lớn nhỏ mọc lên. Những dải đất của các đại châu đó chính là nơi trú ngụ hình thành nên xóm làng, thành thị, rừng núi của nhân loại và các loài chúng sinh.

**[Myanmar]**
အရှေ့ ဘက်၌ပေါ်ထွန်းသော ကျွန်းမြေကို အရှေ့ကျွန်း, တောင်ဘက်, အနောက်ဘက်, မြောက်ဘက်တို့၌ပေါ်ထွန်းသော ကျွန်းမြေများကို တောင်ကျွန်း, အနောက်ကျွန်း, မြောက်ကျွန်းဟုခေါ်သည်။

**[Việt]**
Đại châu mọc lên ở phương Đông được gọi là Đông Thắng Thần Châu (Pubbavideha), các đại châu mọc lên ở phương Nam, phương Tây, phương Bắc tương ứng được gọi là Nam Thiệm Bộ Châu / Nam Diêm-phù-đề (Jambudīpa), Tây Ngưu Hóa Châu (Aparagoyāna), và Bắc Câu-lưu Châu (Uttarakuru).

---

## Trang 44

**[Myanmar]**
ထိုမြင်းမိုရ်တောင်၏ ထက်ဝက်လောက်၌ ယုဂန္ဓိုရ်တောင်ထိပ် နှင့် ညီမျှသောအရပ်ဝယ် စတုမဟာရာဇ်နတ်ပြည် တည်ရှိ၏၊ 

**[Việt]**
Ngang tầm phân nửa ngọn núi Sineru, tương đương với đỉnh núi Yugandhara, là nơi tọa lạc của cõi trời Tứ Đại Thiên Vương (Cātummahārājika).

**[Myanmar]**
မြင်းမိုရ်တောင်ထိပ်လောက်၌ တာဝတိံသာနတ်ပြည် တည်ရှိ၏၊ ဤနတ်ပြည် နှစ်ထပ်သာလျှင် မြေနှင့်ဆက်စပ်လျက်ရှိသည်၊ 

**[Việt]**
Ngay trên đỉnh ngọn núi Sineru là nơi tọa lạc của cõi trời Đạo Lợi (Tāvatiṃsā). Chỉ có hai cõi trời này là có sự kết nối với đại địa (núi đất).

**[Myanmar]**
ယာမာ တုသိတာ, နိမ္မာနရတိ, ပရနိမ္မိတဝသဝတ္တီနတ်ပြည်နှင့် အထက် ဗြဟ္မာ့ဘုံတို့ကား မြေနှင့်မဆက်စပ်ဘဲ ကောင်းကင်အရပ်မှာပင် တည်ရှိကြ၏။ ဤကား ကမ္ဘာ၏အထက်ပိုင်း မြေပုံတည်း။

**[Việt]**
Các cõi trời Yāmā (Dạ-ma), Tusitā (Đâu-suất), Nimmānaratī (Hóa Lạc), Paranimmitavasavattī (Tha Hóa Tự Tại) cùng các cõi Phạm thiên (Brahmā) phía trên không hề có sự kết nối với đại địa, mà lơ lửng tĩnh tại giữa hư không (trên không trung). Đây là hình ảnh cấu trúc phần trên của đại địa thế giới.

**[Myanmar]**
[လောက ဓာတ်ဆရာတို့၏ ကမ္ဘာ့မြေပုံကို လောကဓာတ်ကျမ်းစာများ၌ ရှုပါ။]

**[Việt]**
*[Còn về cấu trúc thế giới theo quan điểm của các nhà khoa học vũ trụ, quý vị hãy xem trong các sách khoa học.]*

**[Myanmar]**
ဤဘုံအမျိုးမျိုးတို့ တည်နေဟန်နှင့်တကွ နတ်ဗြဟ္မာတို့ စံစား ပုံကို ရိုက်နှိပ်ပြီး “သင်္ဂြိုဟ်ဘာသာဋီကာ”နှင့် ဒုတိယအကြိမ်ရိုက် “ကိုယ်ကျင့်အဘိဓမ္မာ”တို့၌ထည့်သွင်း ပြထားပြီ၊ 

**[Việt]**
Sự hình thành của các loại cõi (Bhūmi) này cùng với phương thức thọ hưởng của chư thiên và Phạm thiên đã được tôi xuất bản và trình bày trong cuốn "Saṅgaha Bhāsā Ṭīkā" (Chú giải Thắng pháp bằng tiếng Myanmar) và cuốn "Kociṅ Abhidhammā" (Thực hành Abhidhamma - Tái bản lần 2).

**[Myanmar]**
ဤပြခဲ့သော ကမ္ဘာ ကဲ့သို့ အခြားသော စကြဝဠာကမ္ဘာကြီးများလည်း မရေတွက်နိုင် အောင် များမြောင်စွာရှိသေး၏၊ ဘုရားရှင်သည် ထိုပြအပ်ခဲ့သော စကြဝဠာ ကမ္ဘာလောကဓာတ်ကြီးများကိုလည်း အကုန်အစင် သိမြင်တော်မူနိုင်ပေသည်။

**[Việt]**
Và không chỉ có thế giới này, mà còn có vô lượng vô biên vô số các hệ thống Cakkavāḷa (Tiểu thế giới) khác giống như thế giới vừa mô tả. Đức Phật có thể thấu triệt hoàn toàn và trọn vẹn toàn bộ cấu trúc của tất cả các hệ thống vũ trụ Cakkavāḷa ấy.

**[Myanmar]**
သင်္ခါရလောကကို သိမြင်တော်မူပုံ။ ။ရုပ်နာမ်တရားတွေပေါင်းစပ်နေသည်ကို “ပုဂ္ဂိုလ်, သတ္တဝါ, သူ, ငါ, ယောက်ျား, မိန်းမ, အထီး, အမ" စသည်ဖြင့် ခေါ်ဝေါ်ကြရသည်၊ 

**[Việt]**
**Sự thấu triệt về Saṅkhāraloka (Hành thế gian):** Chính sự kết hợp của Sắc pháp (Rūpa) và Danh pháp (Nāma) mà người ta gọi nó (bằng pháp chế định) là "Cá nhân, chúng sinh, ta, người, đàn ông, đàn bà, đực, cái" v.v...

**[Myanmar]**
ထိုရုပ်နာမ်ကို ဖယ်ထားလျှင်, သို့မဟုတ် ရုပ်နာမ်အားလုံး အဆုံးသတ်ချုပ်သွား လျှင်, ပုဂ္ဂိုလ်, သတ္တဝါ, သူ, ငါဟူ၍ မရှိတော့ပြီ၊ ခန္ဓာကိုယ်၌ မြေ ဓာတ်, ရေဓာတ်, လေဓာတ်, မီးဓာတ်ဟု အမာခံဓာတ်ကြီး ၄-ပါး

**[Việt]**
Nếu gạt bỏ những sắc pháp và danh pháp ấy sang một bên, hoặc khi tất cả danh sắc hoàn toàn chấm dứt diệt tận, thì chẳng còn gì gọi là "Cá nhân, chúng sinh, ta, người" nữa cả. Trong cấu tạo thân thể, có 4 yếu tố cốt lõi tạo thành được gọi là "Tứ Đại": Đất (Paṭhavī), Nước (Āpo), Lửa (Tejo), và Gió (Vāyo)... *(Tiếp tục ở Trang 45)*

---

## Trang 45

**[Myanmar]**
ရှိ၏၊ ထိုအမာခံဓာတ်ကြီး ၄-ပါးကို မွမ်းမံခြယ်လှယ်သော အမွှန်းတင်ရုပ်များလည်း ရှိ၏။

**[Việt]**
...hiện hữu. Bên cạnh 4 yếu tố cốt lõi (Tứ Đại) ấy, còn có những sắc pháp khác nương tựa vào đó để tô điểm (Upādāyarūpa - Sắc Y sinh).

**[Myanmar]**
ထိုရုပ်အစိတ်အစိတ်ကလေးတွေ ပေါင်းစပ်၍ နေသော အစုအခဲ ကို “ရုပ်ကလာပ်”ဟုခေါ်၏၊ ရုပ်ကလာပ်မှုန့် တစ်ခုတစ်ခုသည် ပကတိ မျက်စိတို့ဖြင့် မမြင်ရလောက်အောင် သိမ်မွေ့သေးငယ်၏၊ 

**[Việt]**
Khối tụ tập từ vô số những phân tử sắc vô cùng vi tế này được gọi là "Rūpakalāpa" (Sắc tụ/Bọn sắc). Mỗi một hạt phân tử sắc tụ cực kỳ vi tế nhỏ bé đến mức không thể nhìn thấy bằng mắt thường.

**[Myanmar]**
“လောကဓာတ်ဆရာတို့သည် သူတို့၏ မှန်ပြောင်းအားဖြင့် အသေး အမွှားဆုံး ရုပ်မှုန့်ကလာပ်များကို မြင်နိုင်၏”ဟုဆိုသော်လည်း ကလာပ်တစ်ခုတည်းကို မြင်ရသည်မဟုတ်၊ ကလာပ်မှုန့်ကလေးတွေ အတော်များများ ပေါင်းစပ်နေသည်ကိုသာ မြင်သည်၊ 

**[Việt]**
Mặc dù có ý kiến cho rằng "Các nhà khoa học vũ trụ có thể dùng kính hiển vi để nhìn thấy những hạt phân tử sắc tụ nhỏ bé nhất", nhưng thực chất họ không thể nhìn thấy từng hạt sắc tụ (kalāpa) độc lập, họ chỉ có thể nhìn thấy chúng khi một lượng lớn các phân tử sắc tụ đã tập hợp kết dính lại với nhau.

**[Myanmar]**
ကလာပ် တစ်ခုတစ်ခု၌ “ပထဝီ အာပေါ တေဇော ဝါယော ဝဏ္ဏ ဂန္ဓ ရုသ ဩဇာ” ဤရုပ် ၈-ခု စုပေါင်းနေကြောင်းသိဖို့ကား လောကဓာတ် ပညာ၏ အရာမဟုတ်တော့ပြီ၊ 

**[Việt]**
Còn việc thấu rõ được sự kiện bên trong một hạt sắc tụ (kalāpa) luôn có sự hiện hữu kết dính của 8 pháp cấu thành: "Đất (Paṭhavī), Nước (Āpo), Lửa (Tejo), Gió (Vāyo), Màu sắc (Vaṇṇa), Mùi (Gandha), Vị (Rasa), Dưỡng chất (Ojā)" - thì điều này hoàn toàn nằm ngoài tầm với của khoa học thế gian.

**[Myanmar]**
ဘုရားရှင်ကား ထိုကဲ့သို့ အသေး အမွှား ရုပ်ကလေးများအပြင် ထိုရုပ်ကလေးများ ဖြစ်ပေါ်လာဖို့ အကြောင်းနှင့်တကွ လက္ခဏကိစ္စတို့ကိုပါ အကုန်အစင် သိမြင် တော်မူနိုင်ပေသည်။

**[Việt]**
Đức Phật thì không những thấu triệt hoàn toàn những phân tử sắc vi tế tột cùng ấy, mà Ngài còn thấu triệt tường tận cội nguồn nguyên nhân sinh khởi của chúng, cũng như thấu triệt mọi đặc tính (Lakkhaṇa) và phận sự (Kicca) của từng sắc pháp một.

**[Myanmar]**
ထို့ပြင် ထိုရုပ်ကလာပ်ကလေးတွေ စုပေါင်း တွေခဲနေသဖြင့် သတ္တဝါဟု ခေါ်သော ဤခန္ဓာကိုယ်အတွင်း၌ စိတ်, စေတသိက် ဟူသော နာမ်တရားရှိသေး၏၊ 

**[Việt]**
Hơn thế nữa, bên trong khối tụ tập của những sắc tụ (rūpakalāpa) được quy ước gọi là "chúng sinh" (khối sắc thân) này, còn hiện hữu các Danh pháp (Nāma) là Tâm (Citta) và Tâm sở (Cetasika).

**[Myanmar]**
ထိုနာမ်တရား၏ အစွမ်းကြောင့် အဆင်း, အသံ, အနံ့, အရသာ, အတွေ့နှင့် သိဖွယ်ဟူသမျှကို သိမြင်ကြရပေသည်၊ 

**[Việt]**
Chính nhờ năng lực của các Danh pháp ấy mà chúng sinh mới có khả năng nhận biết và cảm thọ Cảnh sắc (Rūpārammaṇa), Cảnh thinh (Saddārammaṇa), Cảnh khí (Gandhārammaṇa), Cảnh vị (Rasārammaṇa), Cảnh xúc (Phoṭṭhabbārammaṇa) cùng mọi cảnh giới cần phải biết.

**[Myanmar]**
ထိုနာမ်တရားတို့၏ အကြောင်းကိုကား လောကဓာတ်ပညာရှိတို့ ထိမိအောင်သိဖို့ကို မဆိုထားဘိ၊ ဖဿ, ဝေဒနာ, သညာစသော နာမည်ကိုပင် မသိမြင်နိုင်ကြတော့ချေ။

**[Việt]**
Thế nhưng, đối với nguyên lý cấu tạo của những Danh pháp ấy, các nhà khoa học thế gian chưa nói đến việc thấu đáo sự vận hành tinh vi bên trong, thậm chí ngay cả danh xưng của các trạng thái tâm như Xúc (Phassa), Thọ (Vedanā), Tưởng (Saññā) v.v... họ cũng không thể liễu tri cho tường tận.