Trang 201
* * *
16. Nếu lông cừu phát sinh đến một vị tỳ-khưu khi vị ấy đang đi đường, vị ấy có thể nhận lấy nếu muốn. Sau khi nhận, vị ấy có thể tự tay mang đi—nếu không có ai khác mang giúp—nhiều nhất là ba do-tuần (yojana) (48 km = 30 dặm). Nếu vị ấy mang đi xa hơn khoảng cách đó, ngay cả khi không có ai khác mang giúp, thì phải xả bỏ và sám hối (nissaggiya pācittiya - ưng xả đối trị).

"Lúc bấy giờ, lông cừu phát sinh đến một vị tỳ-khưu khi vị ấy đang trên đường ở vùng Kosala, đi đến Sāvatthī. Vì vậy, vị ấy buộc lông cừu thành một gói bằng y vai trái (uttarāsaṅga) của mình, rồi tiếp tục đi. Những người đi đường thấy vậy liền trêu chọc: 'Ngài mua cái đó bao nhiêu vậy, thưa tôn giả? Sẽ lãi được bao nhiêu?'"

Có ba yếu tố cấu thành tội ở đây: vật (object), sự cố gắng (effort), và tác ý (intention).

Vật. Lông cừu, trong điều học này, đề cập đến lông cừu chưa được làm thành đồ vật (§). Chú giải giải thích rằng lông cừu ở đây do đó không bao gồm vải len, nỉ len, sợi len, hay thậm chí lông cừu thô được buộc bằng một sợi chỉ, mặc dù điểm cuối cùng này mâu thuẫn với câu chuyện duyên khởi, nơi vị tỳ-khưu mang lông cừu được buộc trong y.

Chú giải nói thêm rằng lông cừu ở đây cũng đề cập đến cả những lượng nhỏ lông cừu "chưa được làm", chẳng hạn như lông cừu nhét vào tai khi bị đau tai, hoặc bọc quanh kéo trong vỏ bọc để bảo vệ chúng khỏi rỉ sét, do đó một vị tỳ-khưu nên cẩn thận không đi xa hơn ba do-tuần với những vật dụng như vậy.

Về việc lông cừu "phát sinh", Phân tích (Vibhaṅga) nói, có nghĩa là vị ấy nhận được nó từ Tăng chúng (Saṅgha), từ một nhóm, từ người thân, từ bạn bè, từ những thứ bị vứt bỏ, hoặc từ tài sản của chính mình.

Từ ngữ của điều học dường như chỉ ra rằng nó chỉ áp dụng cho lông cừu có được khi đang trên đường. Tuy nhiên, các điều khoản vô tội (non-offense clauses) không cho phép ngoại lệ đối với lông cừu có được trong các hoàn cảnh khác, và từ thực tế này, Phụ chú giải (Sub-commentary) kết luận rằng điều học này áp dụng cho lông cừu có được ở bất cứ đâu.

Sự cố gắng bao gồm không chỉ việc tự mình mang lông cừu chưa làm thành đồ vật quá ba do-tuần, mà còn bao gồm việc đặt nó vào một gói đồ hoặc phương tiện của người khác mà người đó không biết, và sau đó để người đó mang nó đi hơn ba do-tuần. Tưởng (perception) không phải là yếu tố giảm nhẹ ở đây: Nếu vị ấy đi xa hơn ba do-tuần, ngay cả khi vị ấy nghĩ rằng mình chưa đi quá, thì vẫn trọn vẹn yếu tố này.

Phân tích nói thêm rằng nếu vị ấy chưa đi hơn ba do-tuần với lông cừu nhưng tưởng rằng mình đã đi quá hoặc đang hoài nghi về vấn đề này, thì hình phạt là một tội tác ác (dukkaṭa). Việc hình phạt này áp dụng cho việc mang lông cừu đi xa hơn hay cho việc sử dụng nó, không có văn bản nào nói rõ. Lập luận từ cách giải thích của Chú giải về một đoạn văn tương tự trong NP 1, hình phạt này sẽ áp dụng cho việc sử dụng lông cừu.

Tác ý. Phân tích nói rằng không có tội cho vị tỳ-khưu nào, sau khi đi được ba do-tuần, không thể tìm được chỗ nghỉ thích hợp nên mang lông cừu đi xa hơn cho đến khi tìm được một chỗ thích hợp. Do đó, tội trong điều học này chỉ dành cho một vị tỳ-khưu mang lông cừu qua mốc ba do-tuần với những động cơ khác ngoài việc tìm chỗ nghỉ.

Trang 202

Không phạm tội. Ngoài vấn đề tác ý vừa đề cập, các điều khoản vô tội nói rằng không có tội đối với vị tỳ-khưu mang lông cừu từ ba do-tuần trở xuống; đối với vị tỳ-khưu đi xa hơn ba do-tuần đang mang lông cừu mà vị ấy nhận lại được sau khi bị cướp mất; đối với vị tỳ-khưu đi xa hơn ba do-tuần đang mang lông cừu mà vị ấy nhận lại được sau khi đã xả bỏ nó (phù hợp với điều học này, Chú giải ngụ ý); đối với vị tỳ-khưu mang lông cừu đi ba do-tuần rồi mang trở lại; hoặc đối với vị tỳ-khưu nhờ người khác đồng ý mang lông cừu giúp mình.

Tóm tắt: Mang lông cừu chưa được làm thành vải hoặc sợi đi xa hơn ba do-tuần là một tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya).

* * *

17. Nếu bất kỳ vị tỳ-khưu nào nhờ một vị tỳ-khưu-ni không có họ hàng với mình giặt, nhuộm, hoặc chải lông cừu, thì vật đó phải xả bỏ và sám hối.

Lý do đằng sau điều học này được thể hiện ngắn gọn trong cuộc trò chuyện sau đây từ câu chuyện duyên khởi:

"Khi ấy, Mahāpajāpatī Gotamī đi đến chỗ Thế Tôn và, khi đến nơi, đảnh lễ Ngài và đứng sang một bên. Khi bà đang đứng đó, Thế Tôn nói với bà: 'Ta tin rằng, này Gotamī, các tỳ-khưu-ni vẫn sống không phóng dật, nhiệt tâm và tinh cần chứ?'

"'Bạch Thế Tôn, làm sao có sự không phóng dật giữa các tỳ-khưu-ni? Các thầy—nhóm sáu vị tỳ-khưu—cứ bắt các tỳ-khưu-ni giặt, nhuộm và chải lông cừu. Các tỳ-khưu-ni, vì giặt, nhuộm và chải lông cừu, nên xao nhãng… việc rèn luyện tăng thượng giới, rèn luyện tăng thượng tâm, và rèn luyện tăng thượng tuệ.'"

Lông cừu, ở đây, cũng như trong điều học trước, đề cập đến lông cừu chưa được làm thành vải hoặc sợi. Do đó, không có tội đối với một vị tỳ-khưu nhờ một vị tỳ-khưu-ni không có họ hàng giặt vải len hoặc sợi len chưa được sử dụng (xem NP 4).

Ngoài ra, tất cả các giải thích cho điều học này đều giống hệt với các giải thích cho NP 4, ngoại trừ ở đây việc "đập" (beating) được thay thế bằng "chải" (carding).

Tóm tắt: Việc nhờ một vị tỳ-khưu-ni không có họ hàng giặt, nhuộm hoặc chải lông cừu chưa được làm thành vải hoặc sợi là một tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya).

* * *

18. Nếu bất kỳ vị tỳ-khưu nào nhận vàng và bạc, hoặc bảo người khác nhận, hoặc ưng thuận khi vật đó được đặt (gần mình), thì vật đó phải xả bỏ và sám hối.

Như đã đề cập trong phần NP 10, một trong những mục đích của điều học này là giải thoát vị tỳ-khưu khỏi gánh nặng sở hữu đến từ việc nhận quà tặng bằng tiền hoặc cho phép nhận nhân danh mình. Tuy nhiên, các bài kinh có chứa những đoạn chỉ ra những mục đích khác của điều học này:

"Đối với bất kỳ ai mà vàng và bạc là hợp pháp (allowable), thì năm món dục lạc cũng là hợp pháp. Đối với bất kỳ ai mà năm món dục lạc là hợp pháp, thì vàng và bạc là hợp pháp (đọc là yassa pañca kāmaguṇā kappanti tassa-pi jātarūpa-rajataṁ kappati theo ấn bản Thái). Rõ ràng thầy có thể nhận ra đó không phải là phẩm chất của một bậc sa-môn, không phải là phẩm chất của một Thích tử."—SN 42.10

"Này các tỳ-khưu, có bốn sự che khuất của mặt trời và mặt trăng, bị che khuất bởi chúng mà mặt trời và mặt trăng không phát sáng, không chiếu sáng, không chói lọi. Bốn sự che khuất đó là gì? Mây.… Sương mù.… Khói và bụi.… Rāhu, chúa tể của loài a-tu-la (được cho là nguyên nhân gây ra nhật thực/nguyệt thực) là một sự che khuất, bị che khuất bởi nó mà mặt trời và mặt trăng không phát sáng, không chiếu sáng, không chói lọi.… Tương tự như vậy, có bốn sự che khuất của các sa-môn và bà-la-môn, bị che khuất bởi chúng mà một số sa-môn và bà-la-môn không phát sáng, không chiếu sáng, không chói lọi. Bốn sự che khuất đó là gì? Có một số sa-môn và bà-la-môn… không từ bỏ việc uống rượu và men say… không từ bỏ việc hành dâm… không từ bỏ việc nhận vàng và bạc… không từ bỏ tà mạng.… Vì những sự che khuất này, một số bà-la-môn và sa-môn… bị bao phủ bởi bóng tối, làm nô lệ cho ái dục, bị dẫn dắt, làm trương phình nghĩa địa khủng khiếp, nắm bắt sự sinh hữu tiếp tục."—AN 4.50

Các vị tỳ-khưu, trong việc từ bỏ sử dụng tiền bạc, làm cho việc từ bỏ các mưu cầu thế gian của họ trở thành hiện thực và làm gương cho người khác thấy rằng cuộc đấu tranh giành của cải không phải là cách thực sự để tìm thấy hạnh phúc.

Các yếu tố cấu thành tội trong điều học này gồm hai: vật (object) và sự cố gắng (effort). Tuy nhiên, vì "vật" được định nghĩa theo một cách cho hai hành động đầu tiên được nêu trong điều học, và theo một cách khác cho hành động thứ ba, nên tốt nhất là phân tích điều học này như bao gồm hai loại tội riêng biệt nhưng có liên quan.

Trong loại tội đầu tiên, các yếu tố là:
1) Vật: vàng hoặc bạc.
2) Sự cố gắng: Vị ấy nhận hoặc nhờ người khác nhận lấy nó.

Trong loại tội thứ hai, chúng là:
1) Vật: vàng hoặc bạc được dự định cho mình.
2) Sự cố gắng: Vị ấy ưng thuận để nó được đặt xuống cạnh mình.

Trang 203

Vật. Phân tích định nghĩa vàng bao gồm bất cứ thứ gì làm bằng vàng. Bạc được định nghĩa bao gồm tiền xu làm bằng bạc, đồng, gỗ, hoặc nhựa cánh kiến đỏ, hoặc bất cứ thứ gì được sử dụng làm tiền tệ. Chú giải bổ sung các ví dụ như xương, miếng da, trái cây và hạt cây được dùng làm tiền tệ, bất kể chúng có được in hình hay không. Hiện tại, thuật ngữ này sẽ bao gồm tiền xu và tiền giấy, cũng như lệnh chuyển tiền và séc ngân hàng không ghi tên người nhận cụ thể, vì những thứ này đáp ứng cả ba yêu cầu của một loại tiền tệ: (1) Chúng là phương tiện trao đổi được chấp nhận rộng rãi; (2) chúng có giá trị tiêu chuẩn được công nhận; và (3) bất kỳ người mang nào cũng có thể xuất trình. Các vật phẩm sau đây, vì không đáp ứng đủ cả ba yêu cầu này, sẽ không được tính là "bạc" trong điều học này: lệnh chuyển tiền và séc ngân hàng ghi tên người nhận cụ thể; séc cá nhân và séc du lịch; thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ; thẻ quà tặng, thẻ điện thoại, dặm bay thường xuyên; tem phiếu thực phẩm; và kỳ phiếu.

Vì từ bạc ở đây có chức năng có nghĩa là "tiền bạc", nên tôi sẽ dịch nó theo cách đó cho phần còn lại của cuộc thảo luận về điều học này.

Phân tích chỉ ra rằng tưởng (perception) không phải là yếu tố giảm nhẹ trong cả hai loại tội. Vì vậy, nếu một vị tỳ-khưu nhận vàng hoặc tiền, ngay cả khi vị ấy tưởng đó là thứ khác—chẳng hạn như khi nhận một phong bì kín mà không biết bên trong có tiền, hoặc ưng thuận để một cuộn vải gần mình mà không biết rằng tiền đã được đặt bên trong đó—vị ấy vẫn phạm tội trọn vẹn. Điều tương tự cũng đúng nếu vị ấy hoài nghi về những gì trong phong bì hoặc cuộn vải chứa đựng. Điều này có vẻ là một hình phạt khắc nghiệt đối với một vị tỳ-khưu hành động hoàn toàn vô tội, nhưng chúng ta phải nhớ rằng, khi đã nhận tiền dù vô tình, vị ấy hiện đang sở hữu nó và phải xử lý nó một cách thích hợp. Các thủ tục trong điều học này đưa ra các hướng dẫn chính xác về cách thực hiện điều đó.

Nếu một vị tỳ-khưu nhận hoặc ưng thuận việc đặt một thứ không phải là vàng hoặc tiền nhưng vị ấy lại tưởng đó là vàng hoặc tiền hoặc đang hoài nghi về tình trạng của nó, vị ấy phạm một tội tác ác (dukkaṭa).

Các tượng Phật bằng vàng và các đồ vật bằng vàng dâng cúng cho tượng Phật, xá lợi, hoặc bảo tháp không được đề cập trong các văn bản liên quan đến điều học này. Trong suốt nhiều thế kỷ, thực hành phổ biến là không coi chúng là thỏa mãn yếu tố vật ở đây, có lẽ vì tượng Phật, bảo tháp, và xá lợi, nói một cách nghiêm ngặt, không thể thuộc sở hữu của bất kỳ ai. Tương tự với các đồ vật được dâng cúng cho tượng Phật, v.v.: Về mặt kỹ thuật, những thứ này thuộc về bức tượng, v.v., chứ không phải thuộc về ngôi chùa nơi nó được đặt. Do đó, miễn là vị tỳ-khưu nhận ra rằng vị ấy không thể chiếm hữu bất kỳ thứ nào trong số này, vị ấy có thể chạm vào chúng mà không phạm tội theo điều học này.

Như đã đề cập trong phần NP 10, Chú giải rút ra từ Kinh điển một danh sách các vật phẩm mà nó nói rằng mang lại một tội tác ác (dukkaṭa) khi được vị tỳ-khưu nhận. Những thứ này bao gồm ngọc trai và đá quý; ngũ cốc chưa nấu chín và thịt sống; phụ nữ và trẻ em gái, nô lệ nam và nữ; dê và cừu, gà và lợn, voi, gia súc, ngựa chiến và ngựa cái; ruộng đồng và tài sản. Để thuận tiện, chúng ta sẽ gọi những vật phẩm này từ nay trở đi là các đối tượng tác ác (dukkaṭa-vatthu), hoặc gọi tắt là D.O.

Sự cố gắng. Yếu tố này có thể được thỏa mãn bởi bất kỳ hành động nào trong ba hành động: nhận vàng hoặc tiền, nhờ nó được nhận, hoặc ưng thuận việc nó được đặt xuống. Như đã lưu ý ở trên, các yếu tố cấu thành tội khác nhau giữa ba hành động: Trong hai hành động đầu tiên, câu hỏi về việc vị tỳ-khưu có ưng thuận nhận vàng hay tiền hay không không được đưa vào định nghĩa của hành động, và ý định của người cho về việc vàng hoặc tiền là dành cho ai cũng vậy. Chỉ trong hành động thứ ba thì sự ưng thuận của vị tỳ-khưu mới được yêu cầu để thỏa mãn hành động, và chỉ ở đó mới yêu cầu người cho dự định vàng hoặc tiền là cho chính vị tỳ-khưu.

Trang 204

1) Nhận. Theo Phụ chú giải K (K/Commentary), điều này bao gồm việc nhận vàng hoặc tiền được dâng như một món quà HOẶC nhặt vàng hoặc tiền bị bỏ rơi không có chủ. (Như các điều khoản vô tội cho thấy, yếu tố này không bao gồm các trường hợp nhặt tiền để quên quanh chùa hoặc trong nhà nơi mình đang ghé thăm nếu mục đích của mình là cất giữ an toàn cho chủ sở hữu. Xem Pc 84.) Theo Chú giải, một vị tỳ-khưu nhận tiền được bọc trong một cuộn vải cũng sẽ phạm tội ở đây, điều này cho thấy hành động này bao gồm việc nhận hoặc lấy tiền không chỉ bằng cơ thể mình, mà còn bằng các vật dụng kết nối với cơ thể. Do đó, việc nhận tiền trong phong bì hoặc nhờ đặt nó vào túi đeo chéo khi nó treo trên vai cũng sẽ thỏa mãn yếu tố này.

Phụ chú giải K thêm quy định rằng trong việc lấy phải có sự di chuyển của vàng hoặc tiền từ nơi này sang nơi khác. Nó không đưa ra giải thích nào cho điểm này, nhưng nó có thể đề cập đến các trường hợp vàng hoặc tiền bị ép buộc cho vị tỳ-khưu. (Vì sự hiện diện hay vắng mặt sự ưng thuận của vị tỳ-khưu không được đưa vào định nghĩa của hành động nhận, điều này có nghĩa là khi vàng hoặc tiền bị ép buộc cho vị ấy, hành động đó đã được hoàn thành.) Một ví dụ điển hình khi quy định này hữu ích là khi một vị tỳ-khưu đang đi khất thực và một thí chủ cư sĩ, bất chấp sự phản đối của vị tỳ-khưu, đặt tiền vào bát của vị ấy. Quy định này cho phép vị tỳ-khưu chỉ đứng đó cho đến khi nhờ thí chủ hoặc người khác lấy tiền ra, và vị ấy sẽ được miễn tội theo điều học này.

Các chú giải thêm tác ý như một yếu tố bổ sung—tội trọn vẹn chỉ bị kéo theo nếu vị tỳ-khưu nhận vàng hoặc tiền vì lợi ích của chính mình—nhưng không có cơ sở cho điều này trong Phân tích. Ý định của vị tỳ-khưu trong việc nhận tiền không nằm trong các cuộc thảo luận của Phân tích về bất kỳ hành động nào trong ba hành động được đề cập bởi điều học này, ý định của thí chủ không nằm trong định nghĩa của Phân tích về hành động này, và các điều khoản vô tội không cho phép một vị tỳ-khưu nhận tiền thay cho người khác, vì vậy yếu tố được thêm vào dường như là không có căn cứ. Liệu vị tỳ-khưu nhận vàng hoặc tiền cho chính mình hay cho người khác do đó không phải là một vấn đề ở đây.

2) Nhờ người khác nhận vàng hoặc tiền, theo Phụ chú giải K, bao gồm việc nhờ người khác thực hiện bất kỳ hành động nào được đề cập trong phần nhận, như mô tả ở trên. Các ví dụ từ các chú giải, rút ra từ các thủ tục trong NP 10, bao gồm những việc như bảo thí chủ đưa tiền cho một người phục vụ (steward - người giữ tịnh tài), bảo thí chủ rằng người này người kia sẽ lấy tiền cho mình; bảo người phục vụ lấy tiền, bỏ vào hộp quyên góp, "làm những gì họ thấy thích hợp," hoặc bất kỳ mệnh lệnh tương tự nào.

Tuy nhiên, bất cứ điều gì chưa đến mức là một mệnh lệnh, sẽ không thỏa mãn yếu tố này, như chúng ta đã thấy trong NP 10. Do đó, chỉ cần nói với thí chủ rằng X là người phục vụ của các tỳ-khưu—hoặc rằng những người phục vụ của chùa đã đặt một hộp quyên góp ở nơi này nơi kia—sẽ không phải là yếu tố cấu thành tội ở đây. Ngoài ra, nếu thí chủ—bất chấp sự phản đối của vị tỳ-khưu—để lại tiền, chẳng hạn như trên bàn như một món quà cho một vị tỳ-khưu, thì nếu vị tỳ-khưu kể cho người phục vụ của mình nghe những gì thí chủ đã làm và nói, mà không bảo người phục vụ phải làm gì với số tiền đó—để người phục vụ tự mình tìm ra cách giải quyết—điều này cũng sẽ không kéo theo hình phạt. Cuộc thảo luận của Chú giải về những người phục vụ trong điểm tiếp theo cho thấy rằng trong khi một vị tỳ-khưu bảo một người phục vụ tình nguyện bỏ một khoản quyên góp như vậy vào hộp quyên góp sẽ phải chịu hình phạt, một vị tỳ-khưu chỉ đơn giản chỉ ra hộp quyên góp thì không.

Trang 205

Cũng như với hành động nhận, những câu hỏi về sự ưng thuận của vị tỳ-khưu, ý định nhận của vị ấy, và ý định cho của thí chủ không nằm trong định nghĩa của hành động này.

3) Ưng thuận để vàng hoặc tiền được đặt xuống. Phân tích định nghĩa hành động này như sau: "Người đó (thí chủ), nói rằng: 'Cái này là dành cho tôn giả', và đặt nó xuống, và vị tỳ-khưu ưng thuận (§)." Theo Phụ chú giải K, việc đặt xuống bao gồm hai loại tình huống:
1) Thí chủ đặt vàng hoặc tiền ở bất cứ đâu trước mặt vị tỳ-khưu, và nói, "Cái này là dành cho tôn giả," hoặc
2) Thí chủ nói với vị ấy, "Tôi có một số vàng hoặc tiền được gửi ở địa điểm này địa điểm kia. Nó là của ngài." (Một trong những hàm ý của trường hợp thứ hai này là bất kỳ tu viện nào có hộp quyên góp nên làm rõ rằng tiền để trong hộp đang được đặt cho người phục vụ. Vì NP 10 cho phép thí chủ đặt vàng hoặc tiền dành cho nhu cầu của một vị tỳ-khưu với một người phục vụ, hành động đặt tiền cho một người như vậy trước mặt vị tỳ-khưu không được tính là "đặt xuống" ở đây.)

Sự ưng thuận trong cả hai trường hợp này, Chú giải nói, có nghĩa là người ta không từ chối bằng ý nghĩ, lời nói, hoặc hành động. Từ chối bằng ý nghĩ nghĩa là nghĩ, "Cái này không thích hợp cho mình." Từ chối bằng lời nói nghĩa là nói với thí chủ rằng một món quà như vậy là không được phép. Từ chối bằng hành động nghĩa là làm một cử chỉ với ý nghĩa tương tự. Nếu người ta từ chối bằng bất kỳ cách nào trong số những cách này—ví dụ: người ta muốn nhận vàng hoặc tiền, nhưng lại nói với thí chủ rằng điều đó không được phép; hoặc người ta không nói gì, mà chỉ tự nhắc nhở bản thân rằng những món quà như vậy là không thích hợp để nhận—người ta sẽ tránh được hình phạt ở đây.

Câu hỏi về việc liệu tốt nhất là có nên thể hiện sự từ chối của mình ra bên ngoài hay không nằm ngoài phạm vi của Luật (Vinaya) và thường phụ thuộc vào tình huống. Tốt nhất, vị tỳ-khưu nên thông báo cho thí chủ để họ biết mà không tặng những món quà như vậy trong tương lai, nhưng có những trường hợp thí chủ vẫn còn mới lạ với ý tưởng về các quy tắc và sẽ chỉ cảm thấy bị xúc phạm nếu vị tỳ-khưu phản đối điều mà họ có ý định là một cử chỉ thiện chí. Do đó, đây là vấn đề mà một vị tỳ-khưu nên sử dụng sự thận trọng của mình.

Chú giải có một cuộc thảo luận dài về việc một vị tỳ-khưu nên làm gì nếu, sau khi vị ấy từ chối một khoản quyên góp như vậy, thí chủ rời đi và vẫn để lại nó ở đó. Nếu một người khác đi ngang qua và hỏi vị tỳ-khưu, "Đây là cái gì?", vị tỳ-khưu có thể kể cho người đó nghe những gì vị ấy và thí chủ đã nói, nhưng không thể yêu cầu người đó làm bất cứ điều gì về nó. Nếu người đó tình nguyện cất giữ vàng hoặc tiền an toàn, vị tỳ-khưu có thể chỉ ra một nơi an toàn nhưng không thể bảo người đó để nó ở đó.

Một khi vàng hoặc tiền đã ở nơi an toàn, người ta có thể chỉ nó cho người khác—chẳng hạn như người phục vụ của mình—nhưng không thể bảo bất kỳ ai lấy nó. Chú giải đưa ra các hướng dẫn về cách sắp xếp một cuộc trao đổi với vàng hoặc tiền trong trường hợp như vậy để không vi phạm NP 19 & 20, nhưng tôi sẽ lưu lại phần thảo luận đó cho đến khi chúng ta đến những điều học đó.

Trang 206

Tuy nhiên, định nghĩa của Phân tích về việc "đặt" vàng hoặc tiền cho một vị tỳ-khưu chỉ ra rằng câu hỏi về việc thí chủ dự định tiền dành cho ai có tạo ra sự khác biệt trong hành động này, bởi vì bản chất hành động của thí chủ được định nghĩa bằng những gì họ nói. Nếu thí chủ có ý định cho vị tỳ-khưu số tiền và vị tỳ-khưu ưng thuận để nó được đặt gần mình, điều đó thỏa mãn yếu tố ở đây. Điều này bao gồm các trường hợp thí chủ nói: "Cái này dành cho ngài", hoặc "Cái này là để ngài đưa cho X."

Trong những trường hợp thí chủ nói: "Cái này dành cho Tăng chúng", hoặc "Cái này dành cho Tỳ-khưu Y", và Tỳ-khưu X ưng thuận để nó được đặt cạnh mình, Chú giải—dựa trên các Đại Xứ (Great Standards)—nói rằng X phạm một tội tác ác (dukkaṭa). Tuy nhiên, nó không nói nên làm gì với số tiền đó, ngoại trừ việc tuyên bố rằng bất kỳ vị tỳ-khưu nào sử dụng bất cứ thứ gì mua bằng số tiền đó cũng phạm một tội tác ác. Mặc dù vậy, cuộc thảo luận của nó về điều học tiếp theo dường như ngụ ý rằng nó nên được trả lại cho thí chủ ban đầu.

Nếu tiền dành cho Tỳ-khưu Y được đặt gần Tỳ-khưu X theo cách này, và đến lượt Y ưng thuận khoản quyên góp, thì Y cũng sẽ phải chịu hình phạt trọn vẹn ở đây. Cuộc thảo luận của Chú giải trong phần NP 10 chỉ ra rằng nếu tiền dành cho Tăng chúng được đặt gần Tỳ-khưu X, Tăng chúng được cho là chỉ ưng thuận nó khi tất cả các thành viên của Tăng chúng đều nhất trí ưng thuận nó. Nếu một thành viên từ chối ưng thuận, vị ấy sẽ cứu tất cả các thành viên khác khỏi việc phạm tội—ngoại trừ X, người vẫn bị tội tác ác.

Chú giải ở đây cũng nói rằng một vị tỳ-khưu ưng thuận các khoản quyên góp bằng tiền "được đặt gần" vị ấy để dùng cho các công trình xây dựng của chùa cũng phạm một tội tác ác. Điều này đề cập đến các trường hợp thí chủ nói: "Đây là để Tăng chúng sử dụng trong việc xây dựng công trình này công trình kia", và đặt tiền xuống cạnh vị tỳ-khưu. Như chính Chú giải đã nói trong phần NP 10, nếu thí chủ không đề cập đến tên của vị tỳ-khưu hoặc Tăng chúng với tư cách là những người giữ gìn hoặc người nhận quỹ, thì các khoản quyên góp đó không bị từ chối. Thay vào đó, chúng phải được để ở đó và thông báo cho người phục vụ (tịnh nhân) biết về những gì thí chủ đã nói.

Xả bỏ & sám hối. Một vị tỳ-khưu phạm một trong hai tội trong điều học này phải xả bỏ vàng hoặc tiền giữa Tăng chúng được nhóm họp hợp lệ trước khi sám hối tội lỗi. Các công thức và thủ tục xả bỏ và sám hối được nêu trong Phụ lục VI. Đây là một trong số ít các điều học NP mà người vi phạm không thể xả bỏ vật phẩm được đề cập cho một cá nhân tỳ-khưu hoặc cho một nhóm ít hơn bốn người. Khi vị ấy đã xả bỏ vàng hoặc tiền và sám hối tội của mình, Tăng chúng không được trả lại cho vị ấy, vì một vị tỳ-khưu không được phép sở hữu những thứ này dưới bất kỳ hình thức nào.

Nếu một cư sĩ tình cờ đến sau khi vàng hoặc tiền đã được xả bỏ, các vị tỳ-khưu có thể nói với người đó: "Hãy nhìn cái này." Nếu người đó hỏi: "Nên dùng cái này mua gì?", các vị tỳ-khưu không được bảo người đó mua bất cứ thứ gì (vì điều đó sẽ vi phạm NP 20), mặc dù họ có thể nói cho người đó biết nói chung những gì là hợp pháp đối với các tỳ-khưu, chẳng hạn như năm loại thuốc bổ, như trong NP 23, dưới đây. Nếu người đó cầm vàng hoặc tiền đi và mua bất kỳ vật phẩm thích hợp nào, tất cả các vị tỳ-khưu ngoại trừ người ban đầu nhận vàng hoặc tiền đều có thể sử dụng chúng. Nếu người cư sĩ không tự nguyện mua bất cứ thứ gì bằng vàng hoặc tiền, các vị tỳ-khưu nên bảo người đó mang nó đi vứt.

Trang 207

Nếu người đó không vứt nó đi, họ phải chọn một trong những vị tỳ-khưu có mặt làm "người vứt tiền" (money-disposer), thông qua một tuyên ngôn hành sự—một bạch và một yết ma (ñatti-dutiya-kamma)—được đưa ra trong Phụ lục VI. Người vứt tiền phải không có bốn hình thức thiên vị—dựa trên tham, sân, si hoặc sợ hãi—và phải biết khi nào tiền được vứt bỏ đúng cách và khi nào thì không. Nhiệm vụ của vị ấy là ném tiền đi mà không chú ý đến nơi nó rơi xuống. Nếu vị ấy chú ý, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa). Chú giải khuyên rằng, "Nhắm mắt lại, vị ấy nên ném nó xuống sông, qua vách đá, hoặc vào bụi rậm mà không chú ý đến nơi nó rơi xuống, không quan tâm giống như đó là chất bài tiết của cơ thể (gūthaka)."

Không có văn bản nào đề cập đến việc một vị tỳ-khưu phải làm gì với các đối tượng tác ác (dukkaṭa objects) mà vị ấy đã nhận, nhưng như chúng ta sẽ thấy trong điều học sau, Chú giải dường như đề nghị vị ấy trả lại chúng cho người tặng.

Không phạm tội. Như đã đề cập ở trên, không có tội đối với vị tỳ-khưu khi tình cờ tìm thấy vàng hoặc tiền để quanh chùa hoặc trong một ngôi nhà mà vị ấy đang ghé thăm, cất nó đi an toàn cho chủ sở hữu. Điểm này được thảo luận chi tiết trong phần Pc 84.

Séc (Checks). Có một số tranh cãi về tình trạng của séc theo điều học này. Về mặt pháp lý, séc là một thông báo cho ngân hàng cung cấp tiền cho người nhận tiền. Bởi vì ngân hàng là pháp nhân chứ không phải là "địa điểm", một tờ séc được viết cho một vị tỳ-khưu do đó tương đương với một thông báo từ thí chủ đến một người phục vụ (tịnh nhân) để cung cấp tiền thay mặt cho vị tỳ-khưu. Bởi vì số tiền được đề cập không thay đổi quyền sở hữu cho đến khi người nhận rút tiền mặt từ tấm séc, điều này củng cố sự tương đồng với các khoản tiền được đặt cho một người phục vụ: Tiền vẫn thuộc về thí chủ cho đến khi chúng được sử dụng, và người phục vụ phải chịu trách nhiệm nếu chúng bị mất trong lúc đó. Do đó, hành động đơn giản là nhận séc không được coi là hành động nhận tiền mà là sự xác nhận thông báo. Khi chuyển thông báo cho người khác, người ta chỉ đơn giản là thông báo cho họ về sự sắp xếp của thí chủ. Chỉ khi một vị tỳ-khưu đổi séc lấy tiền mặt hoặc ra lệnh cho người khác làm như vậy, vị ấy mới phạm tội theo điều học này.

Một vị tỳ-khưu sử dụng séc như một phương tiện trao đổi hàng hóa sẽ phạm tội theo NP 20. Điều vị ấy được phép làm nhiều nhất khi nhận được séc là giao nó cho người phục vụ của mình—cẩn thận để không nói bất cứ điều gì vi phạm quy tắc ứng xử của kappiya vohāra ("nói cách phù hợp") theo điều học này hoặc NP 10, 19, & 20—và để người phục vụ thực hiện bất kỳ sự sắp xếp nào mà họ thấy phù hợp.

Tóm tắt: Nhận vàng hoặc tiền bạc, nhờ người khác nhận, hoặc ưng thuận khi vật đó được đặt xuống làm quà tặng cho chính mình là một tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya).

* * *

19. Nếu bất kỳ vị tỳ-khưu nào tham gia vào các loại giao dịch tiền tệ (monetary exchange) khác nhau, thì khoản thu nhập đó phải xả bỏ và sám hối.

Có hai yếu tố cấu thành tội ở đây: vật (object) và sự cố gắng (effort).

Trang 208

Vật. Phân tích định nghĩa tiền tệ bằng các thuật ngữ giống hệt như định nghĩa vàng và bạc trong điều học trước: bất kỳ loại vàng nào, dù được tạo hình thành đồ trang sức hay không; và bất kỳ loại tiền xu hoặc vật phẩm nào khác được sử dụng làm tiền tệ.

Sự cố gắng. Mô tả của Phân tích về loại giao dịch được điều học này bao hàm khác với mô tả được đưa ra trong Chú giải, vì vậy tốt nhất là thảo luận riêng về chúng.

Cách giải thích của Phân tích. Giao dịch tiền tệ đề cập chủ yếu đến loại hình kinh doanh và đầu cơ mà một người buôn vàng sẽ tham gia—đổi tiền tệ, đổi quặng vàng lấy vàng đã làm thành đồ trang sức hoặc ngược lại, đổi quặng vàng lấy quặng vàng, hoặc đồ trang sức bằng vàng lấy đồ trang sức bằng vàng—nhưng cuộc thảo luận của Phân tích về yếu tố tưởng (perception) cho thấy rằng yếu tố sự cố gắng ở đây bao gồm bất kỳ sự trao đổi nào mà trong đó vị tỳ-khưu nhận lại vàng hoặc tiền như là kết quả của sự trao đổi. Do đó, nó sẽ bao gồm các trường hợp vị tỳ-khưu bán bất kỳ loại vật phẩm nào—hợp pháp hay không hợp pháp—để lấy tiền.

Thoạt nhìn, điều học này có vẻ thừa thãi so với điều học trước chống lại việc nhận tiền và điều học tiếp theo chống lại việc tham gia buôn bán, nhưng thực ra nó đã bịt một số lỗ hổng trong các điều học đó. Trong điều học trước, một vị tỳ-khưu có thể chỉ ra một người phục vụ cho một người mang tiền đến cho mình; và trong điều học tiếp theo, nếu biết dùng từ ngữ khéo léo, vị ấy có thể đề xuất một cuộc trao đổi hoặc bảo một người phục vụ sắp xếp một cuộc trao đổi cho mình. Do đó, nếu chỉ có hai điều học đó, thì một vị tỳ-khưu sử dụng các thủ tục "đúng đắn" sẽ có thể bảo người phục vụ của mình tham gia đầu cơ tiền tệ và các hoạt động kiếm tiền khác mà không phạm tội.

Tuy nhiên, điều học này không bao gồm các ngoại lệ nào cho việc "nói cách phù hợp (kappiya-vohāra)", và do đó bịt kín những lỗ hổng đó liên quan đến loại hình kinh doanh này. Kết quả là, một vị tỳ-khưu không thể bày tỏ mong muốn với người phục vụ của mình rằng họ hãy bán một thứ gì đó thuộc về vị ấy hoặc lấy quỹ dành riêng cho vị ấy sử dụng rồi đầu tư để lấy lãi. Nếu vị tỳ-khưu đi nước ngoài, vị ấy phải để người phục vụ của mình tự tìm cách đổi bất kỳ khoản quỹ nào được quyên góp cho vị ấy sang ngoại tệ nếu chúng muốn phục vụ bất kỳ mục đích nào.

Theo Phụ chú giải K (K/Commentary), món đồ đem ra trao đổi phải là của riêng mình thì sự trao đổi đó mới rơi vào điều học này, nhưng các điều khoản vô tội của Phân tích không miễn trừ cho vị tỳ-khưu tham gia giao dịch tiền tệ bằng cách sử dụng các vật phẩm của bất kỳ ai khác. Do đó, nếu một vị tỳ-khưu sắp xếp một cuộc trao đổi tiền tệ bằng cách sử dụng hàng hóa thuộc về gia đình mình, vị ấy sẽ phải xả bỏ bất kỳ khoản tiền thu được từ cuộc trao đổi mà họ có thể đề nghị tặng cho vị ấy.

Tưởng không phải là một yếu tố ở đây. Do đó, khi nhận vàng hoặc tiền, ngay cả khi vị ấy tưởng nó là thứ khác hoặc hoài nghi về vấn đề đó, vị ấy vẫn sẽ thỏa mãn yếu tố sự cố gắng. Nếu, khi nhận một thứ gì đó không phải là vàng hoặc tiền, mà vị ấy tưởng nó là vàng hoặc tiền hoặc đang hoài nghi về nó, hình phạt sẽ là một tội tác ác (dukkaṭa).

Cách giải thích của Chú giải. Theo Chú giải, giao dịch tiền tệ đề cập đến bất kỳ giao dịch buôn bán nào có liên quan đến tiền bạc—bất kể đó là món hàng vị tỳ-khưu mang vào giao dịch, lấy ra từ giao dịch, hay cả hai. Buddhaghosa tuyên bố rằng cách giải thích này dựa trên một đoạn văn không có trong Phân tích nhưng về mặt logic thì nên có. Phụ chú giải ủng hộ ngài, giải thích rằng nếu giao dịch tiền tệ bao gồm các giao dịch thương mại trong đó tiền bạc tạo thành một bên của giao dịch, thì tiền bạc nằm ở bên nào của giao dịch không quan trọng.

Trang 209

Tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với một số điểm trong Phân tích. (1) Bảng các hành động có thể được điều học này bao hàm chỉ bao gồm các trường hợp mà kết quả của giao dịch buôn bán đối với vị tỳ-khưu là tiền. Như chúng ta đã lưu ý trong Phần giới thiệu, chúng ta phải tin rằng những người sắp xếp Phân tích biết những gì là và không là tội theo một điều học nhất định, và nếu họ muốn điều học bao hàm nhiều hơn các lựa chọn được liệt kê trong bảng thì họ đã đưa chúng vào. (2) Trong cuộc thảo luận của Phân tích về cách tiến hành việc xả bỏ, nó liên tục gọi người vi phạm là "người đã mua tiền" và vị tỳ-khưu ném vật phẩm bị xả bỏ đi là "người vứt tiền". (3) Nếu giao dịch tiền tệ bao gồm các trường hợp vị tỳ-khưu dùng tiền để mua những thứ hợp pháp, thì cuộc thảo luận về cách một vị tỳ-khưu có thể nhờ người phục vụ sử dụng tiền đã được giao phó chính đáng cho người phục vụ để mua những thứ đó sẽ được đưa vào điều học này; thay vào đó, nó lại được đưa vào điều học tiếp theo. Tất cả những điều này dường như chỉ ra rằng Chú giải đang dựa trên lập luận thiếu vững chắc khi cố gắng áp đặt cách giải thích của mình lên Phân tích ở đây.

Tuy nhiên, cách giải thích của Chú giải được tuân theo rộng rãi và khá phức tạp, vì vậy sẽ rất tốt nếu thảo luận chi tiết về nó.

Cũng như trong điều học trước, Chú giải chia các vật phẩm thành ba loại:

vật nissaggiya (N.O.), tức là các vật phẩm như vàng và tiền bạc, kéo theo tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya) khi nhận;
vật dukkaṭa (D.O.), các vật phẩm như ngọc trai, đá quý; ngũ cốc chưa nấu chín, thịt sống; phụ nữ và trẻ em gái, nô lệ nam và nữ; dê và cừu, gà và lợn, voi, gia súc, ngựa chiến và ngựa cái; ruộng đồng và tài sản, bất kỳ thứ nào trong số đó đều kéo theo tội tác ác (dukkaṭa) khi nhận;
vật hợp pháp (A.O.), các vật phẩm mà một vị tỳ-khưu có thể nhận và sở hữu một cách chính đáng.

Sau đó, nó vạch ra sơ đồ sau đây để bao hàm tất cả các giao dịch buôn bán có thể liên quan đến các đối tượng này:

Sử dụng để mua dẫn đến
N.O. -> N.O. tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya)
N.O. -> D.O. tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya)
N.O. -> A.O. tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya)
D.O. -> N.O. tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya)
D.O. -> D.O. tội tác ác (dukkaṭa)*
D.O. -> A.O. tội tác ác (dukkaṭa)*
A.O. -> N.O. tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya)
A.O. -> D.O. tội tác ác (dukkaṭa)*
A.O. -> A.O. tội ưng xả đối trị (nissaggiya pācittiya) theo NP 20

Các giao dịch buôn bán được đánh dấu sao chỉ ra một trong những điểm bất thường trong cách giải thích của Chú giải: Tại sao các giao dịch buôn bán liên quan đến D.O. chỉ kéo theo một tội tác ác (dukkaṭa), trong khi các giao dịch buôn bán A.O. -> A.O. lại kéo theo một tội ưng xả đối trị thì khó mà hiểu được.

Trang 210
(Hết cụm 1)
