Trang 481

khamati, Itthannāmassa bhikkhuno samanubhāsanā tassa vatthussa
paṭinissaggāya, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Tatiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi … so bhāseyya.

Samanubhaṭṭho saṅghena Itthannāmo bhikkhu tassa vatthussa
paṭinissaggāya. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi.

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Vị Tỳ-khưu (tên) này, khi được các tỳ-khưu quở trách hợp pháp, đã tỏ ra khó bảo. Vị ấy không từ bỏ điểm đó. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên quở trách Tỳ-khưu (tên) để vị ấy từ bỏ điểm đó. Đây là lời tuyên ngôn (ñatti).

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Vị Tỳ-khưu (tên) này, khi được các tỳ-khưu quở trách hợp pháp, đã tỏ ra khó bảo. Vị ấy không từ bỏ điểm đó. Tăng chúng quở trách Tỳ-khưu (tên) để vị ấy từ bỏ điểm đó. Vị nào đồng ý với việc quở trách Tỳ-khưu (tên) để từ bỏ điểm đó thì xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Lần thứ hai …. Lần thứ ba tôi nói về vấn đề này. Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi …. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Tỳ-khưu (tên) đã bị Tăng chúng quở trách để từ bỏ điểm đó. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

Sg 13: Chỉ trích một Tăng sự xua đuổi (Pabbājanīya-kamma)

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu, saṅghena
pabbājanīya-kammakato, bhikkhū chandagāmitā, dosagāmitā, mohagāmitā,
bhayagāmitā pāpeti. So taṃ vatthuṃ nappaṭinissajjati. Yadi saṅghassa
pattakallaṃ, saṅgho Itthannāmaṃ bhikkhuṃ samanubhāseyya tassa vatthussa
paṭinissaggāya. Esā ñatti.

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu, saṅghena
pabbājanīya-kammakato, bhikkhū chandagāmitā, dosagāmitā, mohagāmitā,
bhayagāmitā pāpeti. So taṃ vatthuṃ nappaṭinissajjati. Saṅgho Itthannāmaṃ
bhikkhuṃ samanubhāsati tassa vatthussa paṭinissaggāya. Yass'āyasmato
khamati, Itthannāmassa bhikkhuno samanubhāsanā tassa vatthussa
paṭinissaggāya, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Dutiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi. Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ
Itthannāmo bhikkhu, saṅghena pabbājanīya-kammakato, bhikkhū
chandagāmitā, dosagāmitā, mohagāmitā, bhayagāmitā pāpeti. So taṃ vatthuṃ
nappaṭinissajjati. Saṅgho Itthannāmaṃ bhikkhuṃ samanubhāsati tassa vatthussa
paṭinissaggāya. Yass'āyasmato khamati, Itthannāmassa bhikkhuno
samanubhāsanā tassa vatthussa paṭinissaggāya, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati,
so bhāseyya.

Tatiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi … so bhāseyya.

Samanubhaṭṭho saṅghena Itthannāmo bhikkhu tassa vatthussa
paṭinissaggāya. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi.

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Vị Tỳ-khưu (tên) này, người đã bị Tăng chúng áp dụng Tăng sự xua đuổi, phỉ báng các tỳ-khưu vì thiên vị do tham dục, thiên vị do sân hận, thiên vị do si mê, thiên vị do sợ hãi.

Trang 482

Vị ấy không từ bỏ điểm đó. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên quở trách Tỳ-khưu (tên) để vị ấy từ bỏ điểm đó. Đây là lời tuyên ngôn.

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Vị Tỳ-khưu (tên) này, người đã bị Tăng chúng áp dụng Tăng sự xua đuổi, phỉ báng các tỳ-khưu vì thiên vị do tham dục, thiên vị do sân hận, thiên vị do si mê, thiên vị do sợ hãi. Vị ấy không từ bỏ điểm đó. Tăng chúng quở trách Tỳ-khưu (tên) để vị ấy từ bỏ điểm đó. Vị nào đồng ý với việc quở trách Tỳ-khưu (tên) để từ bỏ điểm đó thì xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Lần thứ hai …. Lần thứ ba tôi nói về vấn đề này. Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi …. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Tỳ-khưu (tên) đã bị Tăng chúng quở trách để từ bỏ điểm đó. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

Pc 68: Giữ ác kiến

Suṇātu me bhante saṅgho. Itthannāmassa bhikkhuno evarūpaṃ pāpakaṃ
diṭṭhigataṃ uppannaṃ, "Tathāhaṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmi,
yathā ye'me antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā, te paṭisevato nālaṃ
antarāyāyā" ti. So taṃ diṭṭhiṃ nappaṭinissajjati. Yadi saṅghassa pattakallaṃ,
saṅgho Itthannāmaṃ bhikkhuṃ samanubhāseyya tassā diṭṭhiyā paṭinissaggāya.
Esā ñatti.

Suṇātu me bhante saṅgho. Itthannāmassa bhikkhuno evarūpaṃ pāpakaṃ
diṭṭhigataṃ uppannaṃ, "Tathāhaṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmi,
yathā ye'me antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā, te paṭisevato nālaṃ
antarāyāyā" ti. So taṃ diṭṭhiṃ nappaṭinissajjati. Saṅgho Itthannāmaṃ bhikkhuṃ
samanubhāsati tassā diṭṭhiyā paṭinissaggāya. Yass'āyasmato khamati,
Itthannāmassa bhikkhuno samanubhāsanā tassā diṭṭhiyā paṭinissaggāya, so
tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Dutiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi. Itthannāmassa bhikkhuno evarūpaṃ
pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ, "Tathāhaṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ
ājānāmi, yathā ye'me antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā, te paṭisevato nālaṃ
antarāyāyā" ti. So taṃ diṭṭhiṃ nappaṭinissajjati. Saṅgho Itthannāmaṃ bhikkhuṃ
samanubhāsati tassā diṭṭhiyā paṭinissaggāya. Yass'āyasmato khamati,
Itthannāmassa bhikkhuno samanubhāsanā tassā diṭṭhiyā paṭinissaggāya, so
tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Tatiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi … so bhāseyya.

Samanubhaṭṭho saṅghena Itthannāmo bhikkhu tassā diṭṭhiyā paṭinissaggāya.
Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi.

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Một ác kiến như thế này đã khởi lên trong Tỳ-khưu (tên): "Theo như tôi hiểu Giáo pháp do Đức Thế Tôn giảng dạy, những hành động mà Đức Thế Tôn cho là chướng ngại, khi thực hành chúng thì không thực sự là chướng ngại." Vị ấy không từ bỏ tà kiến đó. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên quở trách Tỳ-khưu (tên) để vị ấy từ bỏ tà kiến đó. Đây là lời tuyên ngôn.

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Một ác kiến như thế này đã khởi lên trong Tỳ-khưu (tên): "Theo như tôi hiểu Giáo pháp do Đức Thế Tôn giảng dạy,

Trang 483

những hành động mà Đức Thế Tôn cho là chướng ngại, khi thực hành chúng thì không thực sự là chướng ngại." Vị ấy không từ bỏ tà kiến đó. Tăng chúng quở trách Tỳ-khưu (tên) để vị ấy từ bỏ tà kiến đó. Vị nào đồng ý với việc quở trách Tỳ-khưu (tên) để từ bỏ tà kiến đó thì xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Lần thứ hai …. Lần thứ ba tôi nói về vấn đề này. Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi …. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Tỳ-khưu (tên) đã bị Tăng chúng quở trách để từ bỏ tà kiến đó. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

CÁC PHÁN QUYẾT (VERDICTS)

A. Phán quyết về sự ức niệm (Sati-vinaya). Để thỉnh cầu phán quyết này, một tỳ-khưu nên đắp y hở một bên vai, đảnh lễ dưới chân các tỳ-khưu trưởng lão và, trong tư thế quỳ với hai tay chắp trước ngực, nói:

Maṃ bhante bhikkhū amūlikāya sīla-vipattiyā anuddhaṃsenti. So'haṃ
bhante sati-vepullappatto saṅghaṃ sati-vinayaṃ yācāmi.

Maṃ bhante bhikkhū amūlikāya sīla-vipattiyā anuddhaṃsenti. So'haṃ sati-
vepullappatto dutiyam-pi bhante saṅghaṃ sati-vinayaṃ yācāmi.

Maṃ bhante bhikkhū amūlikāya sīla-vipattiyā anuddhaṃsenti. So'haṃ sati-
vepullappatto tatiyam-pi bhante saṅghaṃ sati-vinayaṃ yācāmi.

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức, các tỳ-khưu đã buộc tội tôi vô căn cứ về sự vi phạm giới luật. Tôi, người đã đạt đến sự sung mãn của chánh niệm, xin thỉnh cầu Tăng chúng ban cho phán quyết về sự ức niệm.

Bạch chư Đại đức, các tỳ-khưu đã buộc tội tôi vô căn cứ về sự vi phạm giới luật. Tôi, người đã đạt đến sự sung mãn của chánh niệm, xin thỉnh cầu Tăng chúng lần thứ hai … lần thứ ba ban cho phán quyết về sự ức niệm.

Để ban phán quyết này, một tỳ-khưu có kinh nghiệm và đủ thẩm quyền nên thông báo cho Tăng chúng:

Suṇātu me bhante saṅgho. Bhikkhū Itthannāmaṃ bhikkhuṃ amūlikāya sīla-
vipattiyā anuddaṃsenti. So sati-vepullappatto saṅghaṃ sati-vinayaṃ yācati. Yadi
saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno sati-vepullappattassa
sati-vinayaṃ dadeyya. Esā ñatti.

Suṇātu me bhante saṅgho. Bhikkhū Itthannāmaṃ bhikkhuṃ amūlikāya sīla-
vipattiyā anuddaṃsenti. So sati-vepullappatto saṅghaṃ sati-vinayaṃ yācati.
Saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno sati-vepullappattassa sati-vinayaṃ deti.
Yass'āyasmato khamati, Itthannāmassa bhikkhuno sati-vepullappattassa sati-
vinayassa dānaṃ, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Dutiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi. Suṇātu me bhante saṅgho …. Yassa
nakkhamati, so bhāseyya.

Tatiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi. Suṇātu me bhante saṅgho …. Yassa
nakkhamati, so bhāseyya.

Trang 484

Dinno saṅghena Itthannāmassa bhikkhuno sati-vepullappattassa sati-vinayo.
Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi. (Cv.IV.4.10;
Cv.IV.14.27)

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ-khưu đã buộc tội Tỳ-khưu (tên) vô căn cứ về sự vi phạm giới luật. Vị ấy, người đã đạt đến sự sung mãn của chánh niệm, xin thỉnh cầu Tăng chúng ban cho phán quyết về sự ức niệm. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên ban cho Tỳ-khưu (tên), người đã đạt đến sự sung mãn của chánh niệm, một phán quyết về sự ức niệm. Đây là lời tuyên ngôn.

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ-khưu đã buộc tội Tỳ-khưu (tên) vô căn cứ về sự vi phạm giới luật. Vị ấy, người đã đạt đến sự sung mãn của chánh niệm, xin thỉnh cầu Tăng chúng ban cho phán quyết về sự ức niệm. Tăng chúng ban cho Tỳ-khưu (tên), người đã đạt đến sự sung mãn của chánh niệm, một phán quyết về sự ức niệm. Vị nào đồng ý với việc ban phán quyết về sự ức niệm cho Tỳ-khưu (tên), người đã đạt đến sự sung mãn của chánh niệm, xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Lần thứ hai …. Lần thứ ba tôi nói về vấn đề này. Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi …. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Tỳ-khưu (tên), người đã đạt đến sự sung mãn của chánh niệm, đã được Tăng chúng ban cho phán quyết về sự ức niệm. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

B. Phán quyết về việc đã từng bị điên (Amūḷha-vinaya). Để thỉnh cầu phán quyết này, một tỳ-khưu nên đắp y hở một bên vai, đảnh lễ dưới chân các tỳ-khưu trưởng lão và, trong tư thế quỳ với hai tay chắp trước ngực, nói:

Ahaṃ bhante ummattako ahosiṃ citta-vipariyāsakato. Tena me
ummattakena citta-vipariyāsakatena bahuṃ assāmaṇakaṃ ajjhāciṇṇaṃ bhāsita-
parikkantaṃ. Maṃ bhikkhū ummattakena citta-vipariyāsakatena ajjhāciṇṇena
āpattiyā codenti, "Sarat'āyasmā evarūpiṃ āpattiṃ āpajjitāti." Ty'āhaṃ evaṃ
vadāmi, "Ahaṃ kho āvuso ummattako ahosiṃ citta-vipariyāsakato. Tena me
ummattakena citta-vipariyāsakatena bahuṃ assāmaṇakaṃ ajjhāciṇṇaṃ bhāsita-
parikkantaṃ. Nāhan'taṃ sarāmi. Mūḷhena me etaṃ katanti." Evam-pi maṃ
vuccamānā codent'eva, "Sarat'āyasmā evarūpiṃ āpattiṃ āpajjitāti." So'haṃ
bhante amūḷho saṅghaṃ amūḷha-vinayaṃ yācāmi.

Ahaṃ bhante ummattako ahosiṃ …. So'haṃ amūḷho dutiyam-pi bhante
saṅghaṃ amūḷha-vinayaṃ yācāmi.

Ahaṃ bhante ummattako ahosiṃ …. So'haṃ bhante amūḷho tatiyam-pi
bhante saṅghaṃ amūḷha-vinayaṃ yācāmi.

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức, tôi đã từng bị điên, mất trí. Trong khi tôi bị điên, mất trí, tôi đã phạm nhiều lỗi lầm và nói năng nhiều điều không xứng đáng với một bậc sa-môn. Các tỳ-khưu buộc tội tôi về một tội đã phạm trong khi tôi bị điên, mất trí: "Xin Tôn giả hãy nhớ lại việc đã phạm vào một tội như thế này." Tôi nói với họ, "Này các hiền giả, tôi đã từng bị điên, mất trí. Trong khi tôi bị điên, mất trí, tôi đã phạm nhiều lỗi lầm và nói năng nhiều điều không xứng đáng với một bậc sa-môn. Tôi không nhớ điều đó. Việc đó do tôi làm trong lúc điên loạn." Nhưng mặc dù

Trang 485

tôi đã nói với họ điều này, họ vẫn buộc tội tôi như trước: "Xin Tôn giả hãy nhớ lại việc đã phạm vào một tội như thế này." Tôi, hiện không còn bị điên nữa, xin thỉnh cầu Tăng chúng ban cho phán quyết về việc đã từng bị điên.

Bạch chư Đại đức tôi đã từng bị điên, mất trí … Tôi, hiện không còn bị điên nữa, xin thỉnh cầu Tăng chúng lần thứ hai … lần thứ ba ban cho phán quyết về việc đã từng bị điên.

Để ban phán quyết này, một tỳ-khưu có kinh nghiệm và đủ thẩm quyền nên thông báo cho Tăng chúng:

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu ummattako ahosi
citta-vipariyāsakato. Tena ummattakena citta-vipariyāsakatena bahuṃ
assāmaṇakaṃ ajjhāciṇṇaṃ bhāsita-parikkantaṃ. Taṃ bhikkhū ummattakena
citta-vipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti, "Sarat'āyasmā evarūpiṃ
āpattiṃ āpajjitāti." So evaṃ vadeti, "Ahaṃ kho āvuso ummattako ahosiṃ citta-
vipariyāsakato. Tena me ummattakena citta-vipariyāsakatena bahuṃ
assāmaṇakaṃ ajjhāciṇṇaṃ bhāsita-parikkantaṃ. Nāhan'taṃ sarāmi, mūḷhena
me etaṃ katanti." Evam-pi naṃ vuccamānā codent'eva, "Sarat'āyasmā
evarūpiṃ āpattiṃ āpajjitāti." So amūḷho saṅghaṃ amūḷha-vinayaṃ yācati. Yadi
saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno amūḷha-vinayaṃ
dadeyya. Esā ñatti.

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu ummattako ahosi
citta-vipariyāsakato, tena ummattakena citta-vipariyāsakatena bahuṃ
assāmaṇakaṃ ajjhāciṇṇaṃ bhāsita-parikkantaṃ. Taṃ bhikkhū ummattakena
citta-vipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti, "Sarat'āyasmā evarūpiṃ
āpattiṃ āpajjitāti." So evaṃ vadeti, "Ahaṃ kho āvuso ummattako ahosiṃ citta-
vipariyāsakato. Tena me ummattakena citta-vipariyāsakatena bahuṃ
assāmaṇakaṃ ajjhāciṇṇaṃ bhāsita-parikkantaṃ. Nāhan'taṃ sarāmi. Mūḷhena
me etaṃ katanti." Evam-pi naṃ vuccamānā codent'eva, "Sarat'āyasmā
evarūpiṃ āpattiṃ āpajjitāti." So amūḷho saṅghaṃ amūḷha-vinayaṃ yācati.
Saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷha-vinayaṃ deti.
Yass'āyasmato khamati, Itthannāmassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷha-vinayassa
dānaṃ, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Dutiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi. Suṇātu me bhante saṅgho …. Yassa
nakkhamati, so bhāseyya.

Tatiyam-pi etam-atthaṃ vadāmi. Suṇātu me bhante saṅgho …. Yassa
nakkhamati, so bhāseyya.

Dinno saṅghena Itthannāmassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷha-vinayo.
Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi. (Cv. IV.5.2;
Cv.IV.14.28)

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này đã từng bị điên, mất trí. Trong khi bị điên, mất trí, vị ấy đã phạm nhiều lỗi lầm và nói năng nhiều điều không xứng đáng với một bậc sa-môn. Các tỳ-khưu buộc tội vị ấy về một tội đã phạm trong khi bị điên, mất trí: "Xin Tôn giả hãy nhớ lại việc đã phạm vào một tội như thế này." Vị ấy nói với họ, "Này các hiền giả, tôi đã từng bị điên, mất trí. Trong khi bị điên, mất trí, tôi đã phạm nhiều lỗi lầm và nói năng nhiều điều không xứng đáng với một bậc sa-môn. Tôi không nhớ điều đó. Việc đó do tôi làm trong lúc điên loạn." Nhưng mặc dù đã nói với họ điều này,

Trang 486

họ vẫn buộc tội vị ấy như trước: "Xin Tôn giả hãy nhớ lại việc đã phạm vào một tội như thế này." Vị ấy, hiện không còn bị điên nữa, xin thỉnh cầu Tăng chúng ban cho phán quyết về việc đã từng bị điên. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên ban cho Tỳ-khưu (tên), người hiện không còn bị điên nữa, một phán quyết về việc đã từng bị điên. Đây là lời tuyên ngôn.

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này đã từng bị điên, mất trí. Trong khi bị điên, mất trí, vị ấy đã phạm nhiều lỗi lầm và nói năng nhiều điều không xứng đáng với một bậc sa-môn …. Vị ấy, hiện không còn bị điên nữa, xin thỉnh cầu Tăng chúng ban cho phán quyết về việc đã từng bị điên. Tăng chúng ban cho Tỳ-khưu (tên), người hiện không còn bị điên nữa, một phán quyết về việc đã từng bị điên. Vị nào đồng ý với việc ban phán quyết về việc đã từng bị điên cho Tỳ-khưu (tên), người hiện không còn bị điên nữa, xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Lần thứ hai …. Lần thứ ba tôi nói về vấn đề này. Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi …. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Tỳ-khưu (tên), người hiện không còn bị điên nữa, đã được Tăng chúng ban cho phán quyết về việc đã từng bị điên. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

CÁC TRƯỜNG HỢP KHÁC (OTHERS)

NP 2: Cho phép được xa rời tam y

Để thỉnh cầu sự cho phép này, một tỳ-khưu nên đắp y hở một bên vai, đến trước Tăng chúng, đảnh lễ dưới chân các tỳ-khưu trưởng lão và, trong tư thế quỳ với hai tay chắp trước ngực, nói:

Ahaṃ bhante gilāno. Na sakkomi ticīvaramādāya pakkamituṃ. So'ham
bhante saṅghaṃ ticīvarena avippavāsa-sammatiṃ yācāmi. (ba lần)

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức, tôi bị bệnh. Tôi không thể mang theo tam y khi rời đi. Tôi xin thỉnh cầu Tăng chúng cho phép (tuyên bố tôi) không bị coi là sống xa rời tam y.

Để ban sự cho phép này, một tỳ-khưu có kinh nghiệm và đủ thẩm quyền nên thông báo cho Tăng chúng:

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu gilāno. Na sakkoti
ticīvaramādāya pakkamituṃ. So saṅghaṃ ticīvarena avippavāsa-sammatiṃ
yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno ticīvarena
avippavāsa-sammatiṃ dadeyya. Esā ñatti.

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu gilāno. Na sakkoti
ticīvaramādāya pakkamituṃ. So saṅghaṃ ticīvarena avippavāsa-sammatiṃ
yācati. Saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno ticīvarena avippavāsa-sammatiṃ deti.
Yass'āyasmato khamati, Itthannāmassa bhikkhuno ticīvarena avippavāsa-
sammatiyā dānaṃ, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Dinnā saṅghena Itthannāmassa bhikkhuno ticīvarena avippavāsa-sammati.
Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi.

Trang 487

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này bị bệnh. Vị ấy không thể mang theo tam y khi rời đi. Vị ấy xin thỉnh cầu Tăng chúng cho phép (tuyên bố vị ấy) không bị coi là sống xa rời tam y. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên ban cho Tỳ-khưu (tên) sự cho phép (tuyên bố vị ấy) không bị coi là sống xa rời tam y. Đây là lời tuyên ngôn.

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này bị bệnh. Vị ấy không thể mang theo tam y khi rời đi. Vị ấy xin thỉnh cầu Tăng chúng cho phép (tuyên bố vị ấy) không bị coi là sống xa rời tam y. Tăng chúng đang ban cho Tỳ-khưu (tên) sự cho phép (tuyên bố vị ấy) không bị coi là sống xa rời tam y. Vị nào đồng ý với việc ban cho Tỳ-khưu (tên) sự cho phép (tuyên bố vị ấy) không bị coi là sống xa rời tam y xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Tỳ-khưu (tên) đã được Tăng chúng ban sự cho phép (tuyên bố vị ấy) không bị coi là sống xa rời tam y. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

Pc 12: Lảng tránh (Evasion)

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu saṅghamajjhe
āpattiyā anuyuñjiyamāno aññenaññaṃ paṭicarati. Yadi saṅghassa pattakallaṃ,
saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno aññavādakaṃ ropeyya. Esā ñatti.

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu saṅghamajjhe
āpattiyā anuyuñjiyamāno aññenaññaṃ paṭicarati. Saṅgho Itthannāmassa
bhikkhuno aññavādakaṃ ropeti. Yass'āyasmato khamati, Itthannāmassa
bhikkhuno aññavādakassa ropanā, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so
bhāseyya.

Ropitaṃ saṅghena Itthannāmassa bhikkhuno aññavādakaṃ. Khamati
saṅghassa, tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi.

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này, khi bị chất vấn giữa Tăng chúng về một tội, đã lảng tránh câu hỏi này bằng câu hỏi khác. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên công khai lời nói lảng tránh của Tỳ-khưu (tên). Đây là lời tuyên ngôn.

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này, khi bị chất vấn giữa Tăng chúng về một tội, đã lảng tránh câu hỏi này bằng câu hỏi khác. Tăng chúng công khai lời nói lảng tránh của Tỳ-khưu (tên). Vị nào đồng ý với việc công khai lời nói lảng tránh của Tỳ-khưu (tên) xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Lời nói lảng tránh của Tỳ-khưu (tên) đã được Tăng chúng công khai. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

Pc 12: Gây bực bội cho Tăng chúng (Frustrating the Community)

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu saṅghamajjhe
āpattiyā anuyuñjiyamāno tuṇhībhūto saṅghaṃ viheseti. Yadi saṅghassa
pattakallaṃ, saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno vihesakaṃ ropeyya. Esā ñatti.

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu saṅghamajjhe
āpattiyā anuyuñjiyamāno tuṇhībhūto saṅghaṃ viheseti. Saṅgho Itthannāmassa

Trang 488

bhikkhuno vihesakaṃ ropeti. Yass'āyasmato khamati, Itthannāmassa
bhikkhuno vihesakassa ropanā, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Ropitaṃ saṅghena Itthannāmassa bhikkhuno vihesakaṃ. Khamati
saṅghassa, tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi.

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này, khi bị chất vấn giữa Tăng chúng về một tội, đã gây bực bội cho Tăng chúng bằng cách giữ im lặng. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên công khai hành động gây bực bội của Tỳ-khưu (tên). Đây là lời tuyên ngôn.

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này, khi bị chất vấn giữa Tăng chúng về một tội, đã gây bực bội cho Tăng chúng bằng cách giữ im lặng. Tăng chúng công khai hành động gây bực bội của Tỳ-khưu (tên). Vị nào đồng ý với việc công khai hành động gây bực bội của Tỳ-khưu (tên) xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Hành động gây bực bội của Tỳ-khưu (tên) đã được Tăng chúng công khai. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

Pc 73: Giả vờ không biết (Deceit)

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu pāṭimokkhe
uddissamāne na sādhukaṃ aṭṭhikatvā manasikaroti. Yadi saṅghassa pattakallaṃ,
saṅgho Itthannāmassa bhikkhuno mohaṃ āropeyya. Esā ñatti.

Suṇātu me bhante saṅgho. Ayaṃ Itthannāmo bhikkhu pāṭimokkhe
uddissamāne na sādhukaṃ aṭṭhikatvā manasikaroti. Saṅgho Itthannāmassa
bhikkhuno mohaṃ āropeti. Yass'āyasmato khamati, Itthannāmassa bhikkhuno
mohassa āropanā, so tuṇh'assa. Yassa nakkhamati, so bhāseyya.

Āropito saṅghena Itthannāmassa bhikkhuno moho. Khamati saṅghassa,
tasmā tuṇhī. Evam-etaṃ dhārayāmi.

Nghĩa là: Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này, khi giới bổn Pāṭimokkha đang được tụng đọc, đã không chú ý, không đặt trọn tâm trí vào đó. Nếu Tăng chúng đã sẵn sàng, Tăng chúng nên vạch trần sự giả vờ không biết của Tỳ-khưu (tên). Đây là lời tuyên ngôn.

Bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ-khưu (tên) này, khi giới bổn Pāṭimokkha đang được tụng đọc, đã không chú ý, không đặt trọn tâm trí vào đó. Tăng chúng vạch trần sự giả vờ không biết của Tỳ-khưu (tên). Vị nào đồng ý với việc vạch trần sự giả vờ không biết của Tỳ-khưu (tên) xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin lên tiếng.

Sự giả vờ không biết của Tỳ-khưu (tên) đã được Tăng chúng vạch trần. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Tôi ghi nhận sự việc là như vậy.

* * *

IX. Các tội Thullaccaya (Trọng Tội). Các giới điều dẫn đến tội thullaccaya được tìm thấy trong Sutta Vibhaṅga (Phân Tích Giới) như là các dẫn xuất từ các giới pārājika (ba-la-di) và saṅghādisesa (tăng tàn); trong Khandhaka (Kiền Độ), như là các giới điều độc lập. Việc chúng nằm rải rác khắp Tạng Luật mà không có sự sắp xếp hay mục riêng biệt nào gây khó khăn cho việc xác định liệu một người có phạm tội thuộc loại này hay không. Để giảm bớt

Trang 489

sự khó khăn này, chúng được tập hợp lại ở đây. Đối với các tội thullaccaya trong Sutta Vibhaṅga, tôi đã cung cấp các bản tóm tắt theo cách diễn đạt của riêng mình. Đối với những tội trong Khandhaka, tôi đã đưa ra các giới điều ở dạng gốc của chúng, sắp xếp theo thứ tự mà chúng được tìm thấy trong Bộ Giới Luật Tỳ Khưu Tập 2 (BMC2).

Các tội Thullaccaya trong Sutta Vibhaṅga (Phân Tích Giới)

Dưới giới Pr 1 (Ba-la-di 1):

Một tỳ-khưu thực hiện hành vi thâm nhập miệng-qua-miệng với một con người khác hoặc với thú vật: phạm tội thullaccaya.

Một tỳ-khưu cố gắng giao cấu với miệng, hậu môn, hoặc bộ phận sinh dục đã phân hủy của một tử thi: phạm tội thullaccaya.

Dưới giới Pr 2 (Ba-la-di 2):

Một tỳ-khưu ăn trộm một vật có giá trị nhiều hơn một māsaka nhưng ít hơn năm māsaka: phạm tội thullaccaya.

Một tỳ-khưu bảo một đồng phạm đồng ý ăn trộm một vật có giá trị ít nhất là năm māsaka: phạm tội thullaccaya.

Một tỳ-khưu thực hiện bất kỳ bước nào sau đây trong việc ăn trộm một vật có giá trị ít nhất là năm māsaka, được xác định bởi những gì cấu thành việc di chuyển vật đó:

Di chuyển vật khỏi vị trí của nó: Làm cho vật nhúc nhích mà chưa di chuyển nó hoàn toàn khỏi vị trí của nó: phạm tội thullaccaya.

"Cắt đứt" một nắm: Làm cho vật nhúc nhích mà chưa hoàn toàn cắt đứt một nắm: phạm tội thullaccaya.

Cắm một vật chứa vào một vũng chất lỏng hoặc đống đồ vật và khiến một phần của vũng hoặc đống đó lọt vào trong vật chứa: Làm cho vũng hoặc đống đó nhúc nhích mà chưa lấy được lượng trị giá năm māsaka tách rời khỏi vũng hoặc đống và nằm trong vật chứa: phạm tội thullaccaya.

Lấy ra hoàn toàn khỏi miệng của một vật chứa: Nhấc vật đó lên: phạm tội thullaccaya. Đưa nó lên ngang bằng miệng của vật chứa: thêm một tội thullaccaya.

Uống chất lỏng từ một vật chứa: Uống lượng chất lỏng trị giá từ một đến năm māsaka: phạm tội thullaccaya.

Di chuyển vật từ một phần cơ thể của mình sang một phần khác hoặc làm rơi nó: Di chuyển nó nhưng chưa đến mức đặt nó lên một phần khác của cơ thể hoặc làm rơi nó: phạm tội thullaccaya.

Làm cho một chiếc thuyền di chuyển một khoảng cách bằng sợi tóc ngược dòng, xuôi dòng, hoặc băng qua một vùng nước: Làm cho chiếc thuyền tròng trành mà chưa khiến nó di chuyển một khoảng cách bằng sợi tóc ngược dòng, xuôi dòng, hoặc băng qua vùng nước: phạm tội thullaccaya.

Phá vỡ một bờ đê để nước chảy ra ngoài: Để cho lượng nước trị giá từ một đến năm māsaka chảy ra ngoài: phạm tội thullaccaya.

Làm cho một con vật di chuyển tất cả các chân của nó: Khiến nó di chuyển bất kỳ chân nào trước khi nó di chuyển chân cuối cùng: phạm tội thullaccaya đối với mỗi bước.

Chặt xuống: Nhát rìu áp chót cần thiết để chặt đứt hoàn toàn cái cây: phạm tội thullaccaya.

Trang 490

Làm cho người chủ từ bỏ nỗ lực lấy lại quyền sở hữu đối với các đồ vật được giao cho mình giữ hộ an toàn: Gây nghi ngờ trong tâm trí người chủ về việc liệu họ có lấy lại được đồ vật hay không: phạm tội thullaccaya. Nếu vụ việc được đưa ra tòa án và tỳ-khưu thua kiện: thêm một tội thullaccaya.

Làm cho người chủ từ bỏ nỗ lực lấy lại quyền sở hữu đất đai: Gây nghi ngờ trong tâm trí người chủ về việc liệu họ có mất đất hay không: phạm tội thullaccaya. Một lần nữa, nếu vụ việc được đưa ra tòa án và tỳ-khưu thua kiện: thêm một tội thullaccaya.

Di chuyển một cột mốc ranh giới: Bất kỳ bước nào ở giữa việc gỡ bỏ cột mốc ranh giới khỏi vị trí ban đầu và đặt nó vào một vị trí mới: phạm tội thullaccaya đối với mỗi bước.

Mang một mặt hàng phải chịu thuế qua khu vực hải quan mà không nộp thuế: Làm cho vật đó di chuyển mà chưa đưa nó hoàn toàn ra khỏi khu vực hải quan: phạm tội thullaccaya.

Dưới giới Pr 3 (Ba-la-di 3):

Một tỳ-khưu giết một "phi nhân" — một dạ-xoa (yakkha), rồng (nāga), hoặc ngạ quỷ (peta): phạm tội thullaccaya.

Một tỳ-khưu làm cho một người phải chịu đau đớn hoặc thương tích do hậu quả của nỗ lực muốn giết người đó: phạm tội thullaccaya.

Một tỳ-khưu bảo một đồng phạm đồng ý giết một người: phạm tội thullaccaya.

Một tỳ-khưu thử nghiệm một loại chất độc trên một người: phạm tội thullaccaya bất kể người đó có chết hay không.

Dưới giới Pr 4 (Ba-la-di 4):

Một tỳ-khưu định tuyên bố sai sự thật về một pháp thượng nhân này nhưng thực tế lại tuyên bố sai sự thật về một pháp thượng nhân khác, trong khi không tỉnh giác về những gì mình đang nói: phạm tội thullaccaya.

Một tỳ-khưu tuyên bố sai sự thật về một pháp thượng nhân, đề cập rõ ràng đến trạng thái đó nhưng không đề cập rõ ràng đến bản thân mình, hoàn toàn nhận thức được rằng mình đang đưa ra một tuyên bố như vậy: phạm tội thullaccaya.

Dưới giới Sg 1 (Tăng tàn 1):

Một tỳ-khưu cố ý nỗ lực xuất tinh, nhưng chưa đạt đến mức xuất tinh: phạm tội thullaccaya.

Dưới giới Sg 2 (Tăng tàn 2):

Bị thúc đẩy bởi tham dục, một tỳ-khưu tiếp xúc thân thể với một người bán nam bán nữ (paṇḍaka), một nữ dạ-xoa, hoặc một người nữ đã chết, nhận thức đúng về đối tượng của mình: phạm tội thullaccaya.

Bị thúc đẩy bởi tham dục, một tỳ-khưu tiếp xúc thân thể với một người nữ trong khi tưởng rằng cô ấy là một đối tượng khác — một người bán nam bán nữ, một người nam, hoặc một con vật: phạm tội thullaccaya.