TRANG 1 အမရပူရမြို့၊ ကျေးဇူးတော်ရှင် မဟာဂန္ဓာရုံဆရာတော် အရှင်ဇနကာဘိဝံသ ၏ ပထမကျမ်းစာ → Tác phẩm đầu tay của Ngài Đại đức Janakābhivaṃsa, bậc ân sư tối thượng của tu viện Mahāgandhayon, thành phố Amarapura. ရတနာ့ဂုဏ်ရည် → Bảo Tính (Bảo Tánh) (Phẩm chất cao quý của Tam Bảo). နယူးဘားမားအော့(ဖ်)ဆက်ပိတ္တကတ်ပုံနှိပ်တိုက်၊ အမရပူရမြို့။ → Nhà in Pitaka Offset New Burma, thành phố Amarapura. အခန်းနိဒါန်း → Lời nói đầu. ဩံ နမော တေ ဝိဇေတုံ မေ၊ ယတော ဒဒေတော ဇယံ။ → Con xin đảnh lễ Ngài, cầu mong con có được sự chiến thắng, từ nơi Ngài là bậc ban cho sự chiến thắng. န ဒုဋ္ဌမ္ပိ သဗ္ဗသတ္တံ၊ က ရ မေ ဇယမင်္ဂလံ။ → Ngay cả đối với tất cả chúng sinh có ác tâm (con cũng không làm hại), xin hãy ban cho con sự thắng lợi hạnh phúc. ဗုဒ္ဓဘာသာဝင် ဖြစ်ခွင့်။ → Cơ hội để trở thành người Phật tử. သဗ္ဗညုဘုရားရှင်ကို “ဗုဒ္ဓ” ဟု ခေါ်၏။ → Đức Thế Tôn bậc Chánh Biến Tri được gọi là "Buddha" (Đức Phật). ထိုဗုဒ္ဓရှင်တော်မြတ်၏ တရားတော်ကို “ဗုဒ္ဓဘာသာ” ဟု ခေါ်၏။ → Giáo pháp của Đức Phật cao thượng ấy được gọi là "Buddha Sāsana" (Phật giáo). ထိုဗုဒ္ဓရှင်တော်မြတ်၏ တရားတော်အတိုင်း လိုက်နာ နေထိုင်သူကို “ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်” ဟူ၍ ခေါ်၏။ → Người thực hành và sống theo giáo pháp của Đức Phật cao thượng ấy được gọi là "Phật tử" (Buddha-bhāsā-vaṅ). ထိုဗုဒ္ဓဘာသာဝင် ဖြစ်လိုသူ သို့မဟုတ် ဖြစ်နေသူသည် ဗုဒ္ဓ၊ ဓမ္မ၊ သံဃ (ဘုရား၊ တရား၊ သံဃာ) ရတနာမြတ် ၃-ပါး၏ အကြောင်းအရာကို ကောင်းစွာ နားလည်ရမည်။ → Người muốn trở thành hoặc đang là Phật tử phải hiểu rõ về ý nghĩa của Tam Bảo cao quý là Buddha (Phật), Dhamma (Pháp), Saṅgha (Tăng). ထိုသို့ နားလည်ပြီးနောက် ထိုရတနာ ၃-ပါးကို မိမိယုံကြည်သလား-မယုံကြည်ဘူးလား? ဟု စဉ်းစားထိုက်၏။ → Sau khi đã hiểu như vậy, nên tự suy xét rằng: "Bản thân mình có đức tin hay không có đức tin nơi Tam Bảo này?". မယုံကြည်လျှင် “ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်” ဟု ပြောဆိုဝန်ခံနေသော်လည်း “ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်” မဖြစ်နိုင်သေးပါ။ → Nếu không có đức tin, dù tuyên bố mình là "Phật tử" thì vẫn chưa phải là một Phật tử thực thụ. ယုံကြည်လျှင်ကား “ဗုဒ္ဓံ သရဏံ ဂစ္ဆာမိ” စသော သရဏဂုံ ၃-ပါးကို ဆောက်တည်ရ၏။ → Nếu có đức tin, hãy thọ trì Tam Quy, bắt đầu với: "Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi" (Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật). ထိုအခါ ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်အစစ် ဖြစ်၏။ → Khi đó mới trở thành người Phật tử chân chính. TRANG 2 ပညာ ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်။ → Người Phật tử bằng trí tuệ. ထိုဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့သည် ဉာဏ်နှင့်ယှဉ်၍ နစ်နစ်ကာကာ ယုံကြည်သူကား ဘုရားရှင်ကို ကိုးကွယ်ရာ၌ သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရားကို စိတ်ထဲ၌ ထင်လာမြင်လာအောင် ကိုးကွယ်သည့်အပြင် ရုပ်ပုံ၊ စေတီတော်များကိုလည်း (ရွှေရှိသည်ဖြစ်စေ၊ မရှိသည်ဖြစ်စေ) ကျေကျေနပ်နပ် လေးမြတ်လေ့ရှိ၏။ → Những người Phật tử ấy, là những người tin tưởng sâu sắc gắn liền với trí tuệ, khi quy y đức Thế Tôn, ngoài việc quy y làm cho đức Phật cao thượng hiện rõ trong tâm như thể Ngài đang còn tại thế, họ còn có thói quen tôn kính và hài lòng đối với các tôn tượng, bảo tháp (cho dù có dát vàng hay không). တရားကို ကိုးကွယ်ရာ၌လည်း တရားအစစ်အမှန် ကျမ်းဂန်ပိဋကတ်နှင့် မဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန်တရားကို မှန်းဆ၍ အားပါးတရ ပူဇော်၏။ → Khi quy y Pháp, họ hướng tâm đến Giáo pháp đích thực trong Tam Tạng và các Đạo Quả Niết-bàn để cúng dâng một cách hết lòng. သံဃာကို ကိုးကွယ်ရာ၌လည်း သုပ္ပဋိပန္နတာစသော ဂုဏ်တို့နှင့် အတော်အတန်ပြည့်စုံသော ပုထုဇဉ်များကိုလည်းကောင်း၊ အမှန်းအတားအားဖြင့် အရိယာသံဃာတော်ကိုလည်းကောင်း ကိုးကွယ်၏။ → Khi quy y Tăng, họ quy y cả những bậc phàm tăng có giới đức trang nghiêm đầy đủ các đức hạnh như bậc thiện hạnh (suppaṭipanna), và quy y cả bậc Thánh tăng thông qua sự hướng tâm tôn kính. ထိုရတနာသုံးပါးအတွက်ဆိုလျှင် အသက်ကိုပင် စွန့်ဝံ့၏။ → Vì Tam Bảo ấy, họ sẵn lòng từ bỏ ngay cả mạng sống của mình. ဤသူကား ဉာဏ်နှင့်ယှဉ်သော ဗုဒ္ဓဘာသာဝင် ဖြစ်သူပေတည်း။ → Người này chính là người Phật tử gắn liền với trí tuệ. သဒ္ဓါ ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်။ → Người Phật tử bằng đức tin (cảm tính). သူများအပြောကောင်း၍ ယုံကြည်သော သဒ္ဓါဖြင့် သို့မဟုတ် မိရိုးဖလာဖြင့် ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်ဖြစ်နေသူတို့ကား ဘုရားစစ်၊ တရားစစ်၊ သံဃာစစ်တို့၌ ထိထိရောက်ရောက် သဒ္ဓါစိတ်ပေါက်သူ နည်းပါး၏။ (လုံးလုံးမရှိဘူးဟု-မဆိုလိုပါ။) → Những người trở thành Phật tử theo truyền thống gia đình hoặc bằng đức tin do nghe người khác nói hay, thì ít khi có được tâm đức tin thấu đạt sâu sắc nơi Phật thật, Pháp thật, Tăng thật. (Điều này không có nghĩa là hoàn toàn không có). ဘုရားကို ကြည်ညိုရာ၌ သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရားထိအောင် စိတ်မရောက်နိုင်ဘဲ ရုပ်ပုံ၊ စေတီတော်လောက်သာ စိတ်ရောက်၏။ → Khi thành kính đức Phật, tâm họ không thể hướng tới đức Phật cao thượng như thể đang còn tại thế, mà chỉ hướng tới được mức độ tôn tượng và bảo tháp mà thôi. TRANG 3 ရုပ်ပုံ၊ စေတီတော်များတွင်လည်း ဆွေဘုရား၊ မျိုးဘုရား မိမိပူဇော်ထားသော ရုပ်ပွားစေတီတော်များကို ပိုမို၍ ကြည်ညိုတတ်ကြ၏။ → Đối với các tôn tượng và bảo tháp, họ thường có xu hướng thành kính hơn đối với những tượng Phật của dòng tộc, tổ tiên hoặc những tượng tháp do chính mình cúng dường. ရွှေပြောင်ပြောင် စေတီရုပ်ပွားကိုလည်း သာ၍ ကြည်ညိုကြသေး၏။ → Họ cũng thường thành kính hơn đối với những bảo tháp và tôn tượng vàng rực rỡ. ထို့ကြောင့်ပင် မိမိတို့၏ရပ်ရွာ၌ ရွှေမရှိသော ရုပ်ပွားစေတီတော်များကို ပစ်ထားခဲ့၍ မြို့ကြီးပြကြီးသို့ ဘုရားဖူးသွားကြ၏။ → Chính vì vậy, họ bỏ mặc những tôn tượng và bảo tháp không có vàng ở làng quê mình để đi chiêm bái Phật ở những thành phố lớn. အခါတစ်ပါး၌ တောက မိန်းမတစ်စု မန္တလေးသို့ သွားခါနီးဝယ် “ဘုရားဖူး သွားမလို့၊ ဘုရားဖူး သွားမလို့” ဟု ကျယ်လောင် ကျယ်လောင်နှင့် ပြောဆိုနေကြသည်ကို အတော်နားလည်သော ကျောင်းဒကာကြီးက “တိုးတိုး ပြောကြပါဟဲ့၊ တို့ရွာက ကိုယ်တော်မြတ်တွေ ကြားလျှင် အားနာစရာ ဖြစ်နေပါဦးမယ်” ဟု ပြတ်ရယ်ပြုလိုက်သတဲ့။ → Có một lần, khi một nhóm phụ nữ ở nông thôn sắp đi Mandalay, họ cứ nói oang oang rằng: "Sắp đi viếng Phật đây, sắp đi viếng Phật đây". Một ông hộ pháp (thí chủ tu viện) am hiểu sự đời đã nói đùa rằng: "Nói khẽ thôi các bà, ngài Phật ở làng mình mà nghe thấy thì thật là ngại ngùng lắm đấy". ထိုသဒ္ဓါဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့သည် ဘုရားကြည်ညိုပုံသာ စည်းကမ်းမကျသည် မဟုတ်သေး၊ တရား၊ သံဃာကြည်ညိုရာတွင်လည်း စည်းကမ်းမဲ့လှချေ၏။ → Những người Phật tử theo đức tin (cảm tính) ấy không chỉ có cách thành kính Phật không đúng mực, mà trong việc thành kính Pháp và Tăng, họ cũng rất thiếu chuẩn mực. ထိုစည်းကမ်းမဲ့ပုံတို့ကို တရားရတနာတော်နှင့် သံဃာရတနာတော်အဆုံးမှာ ပြထားသည်။ → Những biểu hiện thiếu chuẩn mực đó được trình bày ở phần cuối về Pháp Bảo và Tăng Bảo. သရဏဂုံနှင့်သီလရှိသူ အပါယ်မကျ။ → Người có Tam Quy và Ngũ Giới không đọa vào khổ cảnh. “ဆင်းတု၊ စေတီတော်များကို ဖူးမြော်သည်မှာ ကုသိုလ်မရ” ဟု မဆိုလိုပါ။ → Không có ý nói rằng "việc chiêm bái các tôn tượng và bảo tháp là không có công đức". များစွာ ကုသိုလ်ရပေသည်။ → Có được rất nhiều công đức. သို့သော် ဆင်းတုတော်၊ စေတီတော်များသည် သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရားကို ထင်မြင်လာဖို့ရာ တည်ထားကိုးကွယ်အပ်သော အတုအပပွားမျှသာဖြစ်သောကြောင့် ဘုရားရှင် → Tuy nhiên, vì các tôn tượng và bảo tháp chỉ là những vật mô phỏng được tôn thờ để giúp hành giả hình dung ra đức Phật lúc còn tại thế, nên đức Thế Tôn... TRANG 4 တိုင်အောင် အာရုံပြုနိုင်၊ မှန်းဆနိုင်မှသာ စနစ်ကျ သာ၍ အကျိုးရသော ဖူးမြော်ခြင်းဟု ဆိုလိုပါသည်။ → Ý nói rằng chỉ khi có thể hướng tâm và quán tưởng được như thế thì việc chiêm bái mới đúng pháp và thu được nhiều lợi ích hơn. ထိုသို့ ဘုရားရှင်၏ ဂုဏ်တော်များနှင့်တကွ တရား၊ သံဃာတော်၏ ဂုဏ်တော်များကို လေးလေးစားစား အာရုံပြုတတ်၊ ကြည်ညိုတတ်သည့်ပြင် ဒုစရိုက်ဆယ်ပါးမှ ရှောင်သော ကိုယ်ကျင့်တရားနှင့် ပြည့်စုံလုံခြုံပါမူကား- → Nếu một người biết cách hướng tâm tôn kính, thành kính các ân đức của Đức Phật cùng với ân đức của Pháp và Tăng, đồng thời có đức hạnh vẹn toàn, tránh xa mười ác nghiệp thì: “ဣဓ မဟာနာမ ဧကစ္စော ပုဂ္ဂလော နဟေဝ ခေါ ဗုဒ္ဓေ အဝေစ္စ ပသာဒေန သမန္နာဂတော ဟောတိ။ န ဓမ္မေ၊ န သံဃေ။ န ဟာသပ္ပညော၊ န ဇဝနပ္ပညော၊ န စ ဝိမုတ္တိယာ သမန္နာဂတော။ အပိ စဿ ဣမေ ဓမ္မာ ဟောန္တိ၊ သဒ္ဓိန္ဒြိယံ ဝီရိယိန္ဒြိယံ သမာဓိန္ဒြိယံ ပညိန္ဒြိယံ။ တထာဂတေ စဿ သဒ္ဓါမတ္တံ ဟောတိ ပေမမတ္တံ။ အယမ္ပိ ခေါ မဟာနာမ ပုဂ္ဂလော အဂန္တာ နိရယံ၊ အဂန္တာ တိရစ္ဆာနယောနိံ၊ အဂန္တာ ပေတ္တိဝိသယံ၊ အဂန္တာ အပါယံ ဒုဂ္ဂတိံ ဝိနိပါတံ” ဟူ၍- → “Idha Mahānāma ekacco puggalo naheva kho Buddhe avecca pasādena samannāgato hoti. Na Dhamme, na Saṅghe. Na hāsappañño, na javanappañño, na ca vimuttiyā samannāgato. Api cassa ime dhammā honti, saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriyaṃ. Tathāgate cassa saddhāmataṃ hoti pemamattaṃ. Ayampi kho Mahānāma puggalo agantā nirayaṃ, agantā tiracchānayoniṃ, agantā pettivisayaṃ, agantā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ” → “Này Mahānāma, ở đây có hạng người không có lòng tin bất động nơi Phật, không có lòng tin bất động nơi Pháp, không có lòng tin bất động nơi Tăng. Họ không có trí tuệ hân hoan, không có trí tuệ mau lẹ, cũng không thành tựu giải thoát. Tuy nhiên, họ có các pháp này: tín căn, tấn căn, niệm căn (ngầm hiểu), định căn, tuệ căn. Và họ có lòng tin và lòng yêu kính nhất định nơi Như Lai. Này Mahānāma, hạng người này cũng không đi đến địa ngục, không đi đến bàng sanh, không đi đến ngạ quỷ, không đi đến ác đạo, đọa xứ, khổ cảnh.” ဟောတော်မူအပ်သော (မဟာဝဂ္ဂ၊ သောတာပတ္တိသံယုတ်၊ သရဏာနိဝဂ်၊ ပထမ သရဏာနိသက္ကသုတ်) ပါဠိတော်နှင့် လျော်ညီစွာ အပါယ်လေးပါးမှ တစ်ခါတည်း ကင်းလွတ်သော သောတာပန်အခြေသို့ ရောက်လေပြီဟု ယုံကြည်စိတ်ချလိုက်ပေတော့သည်။ → Theo như kinh văn (Đại Phẩm, Tương Ưng Dự Lưu, Phẩm Saraṇāni, Kinh Saraṇāni thứ nhất) đã thuyết, hãy tin tưởng chắc chắn rằng người đó đã đạt đến trạng thái của bậc Dự Lưu, một lần và mãi mãi thoát khỏi bốn đường ác đạo. ထိုစကား မှန်၏။ ပင်ကိုယ်က အောက်အကြောင်းသို့ စီးနေသော မြစ်ရေအလျဉ်သည် သမုဒ္ဒရာနှင့် ကြာလေနီးလေဖြစ်သကဲ့သို့ → Lời ấy là chân thật. Giống như dòng nước sông vốn dĩ chảy xuống vùng thấp, càng chảy lâu thì càng gần tiến sát về phía đại dương; TRANG 5 အနိစ္စ ဒုက္ခ အနတ္တသဘောကို ထင်မြင်၍ သံသရာ၌ ငြီးငွေ့လက်စရှိသော ထိုသူတော်စင်၏ စိတ်အစဉ်သည်လည်း နိဗ္ဗာန်သို့ ညွတ်ကိုင်းရန်းရှိရကား နိဗ္ဗာန်နှင့် ကြာလေနီးလေပင် ဖြစ်တော့၏။ → Dòng tâm thức của bậc thiện tri thức ấy, do thấy rõ bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã và nhàm chán sinh tử luân hồi, nên luôn hướng về Niết-bàn; càng lâu sẽ càng tiến gần đến Niết-bàn vậy. အရှေ့ဘက်သို့ ကိုင်းညွတ်လျက်ရှိသော သစ်ပင်သည် လဲသည့်အခါ အရှေ့ဘက်သို့သာ လဲဖွယ်ရာရှိသကဲ့သို့၊ နိဗ္ဗာန်သို့ ကိုင်းညွတ်နေသော စိတ်အစဉ်သည် ကုသိုလ်ကောင်းမှုပြုသမျှ၌ နိဗ္ဗာန်ဘက်သို့သာ ညွတ်လျက်ရှိသည်ဖြစ်၍ ထိုသူတော်စင်သည် အဘယ်မှာ အပါယ်လေးပါးသို့ သွားဖွယ်ရာ ရှိပါတော့အံ့နည်း။ → Giống như một cái cây đang nghiêng về phía đông, khi đổ xuống nó chỉ có thể đổ về phía đông; cũng vậy, tiến trình tâm đang nghiêng về phía Niết-bàn thì mọi công đức làm được đều hướng về phía Niết-bàn, vậy nên bậc thiện tri thức ấy làm sao có thể đi đến bốn đường ác đạo cho được? သရဏဂုံသီလလုံသူ သောတာပန်နှင့်တူ။ → Người giữ gìn trọn vẹn Tam Quy và Ngũ Giới thì tương đương với bậc Dự Lưu. ဆိုအပ်ပြီးစကား၌ “ကိုယ်ကျင့်လုံခြုံ” ဟူရာဝယ် “ငယ်စဉ်ကစ၍ လုံခြုံမှသာ လုံခြုံရာရောက်သည်” ဟု မဆိုလိုပါ။ → Trong lời vừa nói, "vẹn toàn đức hạnh" không có nghĩa là "phải vẹn toàn từ lúc nhỏ thì mới gọi là vẹn toàn". သတိတရားရသည်ကစ၍ စိတ်ချလက်ချ လုံခြုံလာလျှင် လုံခြုံသည်ပင် မည်နိုင်ပါသည်။ → Kể từ khi có được chánh niệm, nếu có thể giữ gìn đức hạnh một cách chắc chắn thì đều có thể gọi là vẹn toàn. ဘုရားလက်ထက်တော်၌ “သရဏာနိ” မည်သော ဥပါသကာသည် ရတနာသုံးပါးကို အသည်းစွဲ ကြည်ညိုနေသော်လည်း ငယ်ရွယ်စဉ်ကာလက ငါးပါးသီလလောက်မျှ မလုံခြုံဘဲရှိခဲ့ရာ စုတေခါနီးကျမှ သတိရ၍ လူသိက္ခာကို စောင့်ထိန်းလျက် စုတေသည်။ → Vào thời Đức Phật, có vị cư sĩ tên là Saraṇāni, mặc dù hết lòng thành kính Tam Bảo, nhưng thời trẻ ông đã không giữ gìn trọn vẹn dù chỉ là ngũ giới; mãi đến lúc sắp lâm chung ông mới thức tỉnh, giữ gìn giới hạnh của người cư sĩ rồi qua đời. ထို့နောက် ကျန်ရစ်သူတို့က ထိုသူ၏ လားရာဂတိကို ဘုရားရှင်အား လျှောက်ထားကြရာ ဘုရားရှင်က ထိုဥပါသကာကို အပါယ်လေးပါးမှ လွတ်သော သောတာပန်ဖြစ်ရကား သုဂတိသို့ ရောက်နေကြောင်းကို မိန့်တော်မူပါသည်။ → Sau đó, những người còn lại đã bạch hỏi Đức Thế Tôn về cảnh giới tái sanh của người này; Đức Thế Tôn đã phán rằng vị cư sĩ ấy đã đắc quả Dự Lưu, thoát khỏi bốn đường ác đạo và đã tái sanh vào nhàn cảnh. TRANG 6 ကြိုးစားဖွယ်။ → Điều cần nỗ lực. ထို့ကြောင့် မကောင်းသော မြေရည်၌ စိုက်ပျိုးလေသမျှ မျိုးစေ့သည် မည်မျှပင် အောင်မြင်စေကာမူ အကျိုးမပြီး အနည်းနည်းပျက်ပြား၍ ဆုံးပါးရသကဲ့သို့ မူလမမှန်သော ဘုရား-တရား၌ အားထားကိုးကွယ်လေသမျှသည် အနည်းနည်းအကျိုးမဲ့ဖြစ်ရုံသာမက ထိုဘုရား-တရားဘက်၌ အားတက်သရော ဟောပြောမှုကြောင့် အထုအထည်ကြီးမားလှသော မကောင်းမှုအကျိုးကိုပင် ခံရပေဦးမည်။ → Do đó, giống như hạt giống gieo trên mảnh đất xấu, dù có nảy mầm cũng không thành tựu được lợi ích mà sẽ hư hỏng và tàn lụi; cũng vậy, việc nương tựa và thờ phụng những đức Phật hay giáo pháp không đúng nguyên gốc thì không chỉ không có lợi ích, mà vì sự hăng hái truyền bá những điều sai lạc đó, người ta còn phải gánh chịu quả báo bất thiện to lớn. ထိုမျှလောက် အပြစ်များ၍ ဆုံးပါးဖွယ်ရှိသော ဘာသာတစ်ပါး အယူရှိကြသူများသည် သူတို့၏ ဘုရားတရားကို အားထားမိခိုကြည်ညို လေးမြတ်ကြကုန်သေး၏။ → Ngay cả những người theo tôn giáo khác, dù đức tin ấy có nhiều lỗi lầm và dẫn đến hư vong (suy vong), họ vẫn còn biết nương tựa, tin tưởng và tôn kính đức Phật hay giáo pháp (theo quan niệm của họ). (vị giáo chủ và giáo lý của họ). ကောင်းသော ရေမြေ၌ကား အားပါးတရမဟုတ်ဘဲ မလိုလဲလိုလို စိုက်ပျိုးရုံမျှဖြင့် ကြီးမြင့်ထွားကျိုင်းသော အပင်ကြီးများကို ရနိုင်သကဲ့သို့ ဘုရား၊ တရား၊ သံဃာမှန်တို့၌ ပြုစုအားထုတ်လိုက်သမျှသည် “ညောင်စေ့ကလေးမှ ညောင်ပင်ကြီးပေါက်သည်ပမာ” ယုံကြည်ဖွယ်ရာ မရှိလောက်အောင် မြင့်ခေါင်ကြီးမားသော အကျိုးတရားကို ခံစားရပေမည်။ → Trên mảnh đất và nguồn nước tốt, dù không tốn quá nhiều sức lực mà chỉ gieo trồng một cách bình thường cũng có thể thu được những cây to lớn khỏe mạnh; cũng vậy, đối với Phật, Pháp, Tăng chân chính, bất cứ sự thực hành nào cũng sẽ mang lại quả báo cao thượng to lớn đến mức khó tin, "giống như từ một hạt bồ đề nhỏ bé mọc lên một cây bồ đề đại thụ". စိတ်ပါလက်ပါ အားပါးတရ ဂရုစိုက်၍ ကိုးကွယ်ဆည်းကပ်လိုက်ပါမူကား တစ်သံသရာလုံး စိတ်ချလက်ချ နိဗ္ဗာန်တိုင်အောင် အကျိုးကို မုချရနိုင်သည်ဖြစ်၍ အကြောင်းအကျိုးစိစစ်က အပြစ်ဆိုဖွယ်မရှိသော ဗုဒ္ဓဘာသာ အယူကြီးကို လက်ကိုင်ရရှိပါလျက် ယုံကြည်ချက်လျော့၍ အဘယ်မှာ ခပ်ပေါ့ပေါ့နေထိုက်ပါအံ့နည်း။ → Nếu biết chú tâm, dốc lòng tôn thờ và nương tựa thì chắc chắn sẽ nhận được lợi ích an tâm cho cả vòng luân hồi cho đến tận Niết-bàn; vậy nên khi đã nắm giữ được tôn giáo Phật giáo vĩ đại vốn không có gì để chê trách khi xét về nhân quả, lẽ nào lại để đức tin lỏng lẻo mà sống một cách hời hợt cho được? TRANG 7 နေ့စဉ်ရက်ဆက် နှစ်သက်ကျေနပ်အောင် အထပ်ထပ်စဉ်းစား၍ တရားတော်အရ ကျကျနန လိုက်နာကြသည် မဟုတ်ပါလော။ → Chẳng phải chúng ta nên suy xét đi suy xét lại hàng ngày cho đến khi đạt được sự hân hoan hài lòng, và thực hành một cách chuẩn xác theo đúng Giáo pháp hay sao? ဤသို့လျှင် ဘုရား၊ တရား၊ သံဃာ ရတနာသုံးပါးကို လွန်စွာ အားထားလျက် ကိုယ်ကျင့်တရား လုံခြုံပါမူ နောက်သံသရာရေးဝယ် စိတ်ချဖွယ်ကောင်းလှသောကြောင့် ရတနာသုံးပါး၏ ဂုဏ်တော်များကို အာရုံပြုတတ်၊ မှန်းဆတတ်ဖို့ရာ ရေးသားပေးဖို့ အကြောင်း တောင်းပန်အပ်ဖူးလှလေပြီ။ → Như vậy, nếu một người hết lòng nương tựa Tam Bảo và vẹn toàn đức hạnh thì tương lai trong vòng luân hồi sẽ rất đáng an tâm; vì lẽ đó, tôi đã từng được thỉnh cầu viết ra những nội dung giúp cho việc hướng tâm và quán tưởng các ân đức của Tam Bảo. သို့သော် အဘိဓမ္မတ္ထသင်္ဂြိုဟ်ကျမ်း၏ အဖွင့်ဖြစ်သော “သင်္ဂြိုဟ်ဘာသာဋီကာ” ကို ရေးသားဆဲဖြစ်၍ အားလပ်ခွင့်မရသောကြောင့် ရှေးဆရာတော်များ၏ ဂုဏ်တော်ဖွင့်ကိုသာ ကြည့်ရှုကျက်မှတ်ဖို့ရန် ညွှန်ပြခဲ့ရပေသည်။ → Tuy nhiên, vì lúc đó tôi đang dốc sức viết cuốn "Sāṅkhya-bhāsā-ṭīkā" (giải thích cho bộ Abhidhammattha-saṅgaha) nên không có thời gian rảnh, đành phải hướng dẫn mọi người tìm xem và học thuộc các bài giải thích ân đức của các bậc thầy tiền bối. ယခုတစ်ဖန် ရှေးခေတ်က ရှေးစနစ်ဖြင့် ရေးသားအပ်ပြီးသော ဘုရားရှင် ဂုဏ်တော်ဖွင့်များတွင် အသိဉာဏ်မသက်ဝင်နိုင်သူတို့က တောင်းပန်ကြပြန်သောကြောင့် ကျမ်းဂန်အဖွင့်လည်း လက်မလွှတ်စေရ၊ ခေတ်ကာလနှင့်လည်း လိုက်လျောအောင် ညက်ညောသော အနက်သွား၊ ထင်ရှားသော အဓိပ္ပာယ်ဖြင့် ခပ်လွယ်လွယ်ရေးသားဖို့ရန် စိတ်အကြံဖြစ်သည်အားလျော်စွာ ရတနာမြတ်သုံးပါး၏ ဂုဏ်တော်အရည်အချင်းများကို ပဓာနထားပြီးလျှင် “ရတနာ့ဂုဏ်ရည်” ဟူသော အမည်ဖြင့် ရေးသားပါအံ့။ → Nay một lần nữa, do những người không thể thấu hiểu được các bài giải thích ân đức Phật viết theo lối cổ xưa lại đến thỉnh cầu, nên tôi đã khởi ý định viết một cách dễ hiểu với ý nghĩa rõ ràng, văn phong mượt mà phù hợp với thời đại mà vẫn không rời xa nội dung kinh điển; tôi sẽ lấy các phẩm chất ân đức của Tam Bảo cao quý làm trọng tâm và viết dưới tên gọi là "Ratana-guṇ-raည်" (Bảo Tính). (Bảo Tánh) TRANG 8 ရေးသားပုံ အစီအစဉ် → Thứ tự trình bày nội dung. ဘုရားဂုဏ်တော် - ဘုရားဂုဏ်တော် အဖွင့်ကို ရေးသားရာ၌ ဘုရားရှင်၏ အဖြစ်တော်စဉ်၊ ဘုရားရှင်၏ ရုပ်ပုံတော်၊ ရောင်ခြည်တော် ခြောက်သွယ်ဖြင့် သပ္ပါယ်တော်မူပုံ၊ လုံ့လဝီရိယနှင့် မဟာကရုဏာတော် ကြီးမားသဖြင့် သတ္တဝါတို့၏ အကျိုးစီးပွားကို အားလပ်ခွင့်မရအောင် ရွက်ဆောင်တော်မူပုံ၊ ဤအလုံးစုံကို သိစေပြီးမှ ဂုဏ်တော်၏ အရည်အချင်းကို ပြရလျှင် သပ္ပါယ်သော ရုပ်ပုံတော်တွင် ဂုဏ်တော်များ ထင်မြင်လာဖွယ်ရှိသောကြောင့် ရုပ်ပုံတော်ဖွင့်၊ ရောင်ခြည်တော်ဖွင့်၊ စေတီတော်ဖွင့်များကို ရှေးဦးစွာပြလျက် ဂုဏ်တော်ဖွင့်ကို ဆက်လက် ရေးသားပါသည်။ [ဘုရားအဖြစ်တော်စဉ်ကိုကား အနည်းငယ် ရှည်လျားသဖြင့် ဤကျမ်း၏ အဆုံးမှာ ပြထားပါသည်။] → Ân đức Phật - Khi viết về ân đức Phật, trước hết tôi trình bày về cuộc đời của Đức Phật, tôn tượng của Ngài, sự trang nghiêm qua sáu luồng hào quang, và sự nỗ lực không ngừng cùng lòng Đại Bi vô biên mà Ngài đã thực hành vì lợi ích của chúng sinh; sau khi làm sáng tỏ những điều này, khi trình bày về các phẩm chất ân đức, do các ân đức ấy sẽ dễ dàng hiện rõ qua tôn tượng trang nghiêm, nên tôi trình bày trước các phần giải thích về tôn tượng, hào quang và bảo tháp, sau đó mới tiếp tục viết về các ân đức Phật. [Riêng về phần cuộc đời của Đức Phật, vì nội dung hơi dài nên tôi trình bày ở phần cuối của cuốn sách này.] တရားဂုဏ်တော် - တရားဂုဏ်တော်ဖွင့်ကို ရေးသားရာ၌ ပုံသဏ္ဌာန် မထင်ရှားသော တရားဂုဏ်တော်စဉ်သည် စိတ်ထဲ၌ ထင်မြင်နိုင်ရန် ခဲယဉ်းသောကြောင့် နက်နဲသော တရားဂုဏ်တော်ကို ဝတ္ထုပုံသက်သေများဖြင့် ထင်ရှားအောင် ရေးသားထားပါသည်။ → Ân đức Pháp - Khi viết giải thích về ân đức Pháp, vì các ân đức Pháp vốn không có hình tướng cụ thể nên rất khó hình dung trong tâm, do đó tôi đã sử dụng các câu chuyện tiền thân và ví dụ để làm sáng tỏ những ân đức sâu mượt (Sâu sắc) này. သံဃာ့ဂုဏ်တော် - သံဃာ့ဂုဏ်တော် အဖွင့်၌လည်း ယခုကာလ မျက်မြင် သံဃာလောက်တွင် စိတ်ဝင်စားမှု အထူးတားမြစ်၍ ရှေးရှေးက အရိယာသံဃာတော်များနှင့် → Ân đức Tăng - Trong phần giải thích về ân đức Tăng, thay vì chỉ giới hạn sự quan tâm vào những vị Tăng mắt thấy ở thời điểm hiện tại, tôi tập trung vào các bậc Thánh tăng thời xưa và... TRANG 9 ပုထုဇဉ်သီလရှိသော သံဃာတော်များကို ရည်ညွှန်း၍ အာရုံပြုတတ်ဖို့ရာ ဝတ္ထုပေါင်းများစွာကို အချုပ်ချုပ်မျှ ထုတ်ပြထားပါသည်။ → ...các vị Tăng phàm hạnh có giới đức, (phàm tăng có giới hạnh trang nghiêm) đồng thời trích dẫn tóm lược nhiều câu chuyện để hành giả có thể hướng tâm tôn kính. သရဏဂုံနှင့် ငါးပါးသီလ - ထို့နောက် ရတနာသုံးပါး၏ ဂုဏ်ရည်ကို ယုံကြည်ကျေနပ်၍ ဆည်းကပ်ကိုးကွယ်သူသည် “သရဏဂုံ တည်သူ” ဖြစ်ရကား သရဏဂုံတည်လျှင် ငါးပါးသီလကိုလည်း နေ့စဉ်မပြတ် စောင့်ထိန်းမှသာ သူတော်ကောင်း ပီသရာ ရောက်သောကြောင့် ယခုကာလ အများသုံး “ဩကာသ” မှ စ၍ ငါးပါးသီလတိုင်အောင် ဖွင့်ပြထားပါသည်။ → Tam Quy và Ngũ Giới - Tiếp đó, vì người tin tưởng và hài lòng vào phẩm chất của Tam Bảo mà nương tựa sẽ trở thành "người thành tựu Tam Quy", và khi đã có Tam Quy thì phải giữ gìn Ngũ giới hàng ngày không đứt đoạn mới xứng đáng là bậc thiện tri thức, do đó tôi giải thích từ bài "Okāsa" (phổ biến hiện nay) cho đến tận Ngũ giới. ရှစ်ပါးသီလ - ထို့နောက် ရံဖန်ရံခါ ဥပုသ်စောင့်ရာဝယ် လိုက်နာဖွယ်ရာ အချက်များနှင့်တကွ စောင့်ထိန်းအပ်သော သိက္ခာပုဒ်များ၏အကျိုးကို အမျိုးမျိုး ယုတ္တိပြလျက် ခေတ်ကာလ စဉ်းစားသူတို့၏ ဉာဏ်နှင့် သင့်တင့်အောင် မှန်းထား၍ တမ်းတမ်းတားတား ရေးသားထားပါသည်။ → Bát Quan Trai Giới - Tiếp theo, tôi trình bày về các quy tắc cần tuân thủ khi thọ trì bát quan trai giới vào những dịp nhất định, cùng với những lợi ích của các học giới ấy qua nhiều lý lẽ xác đáng, được viết một cách rõ ràng và mạch lạc sao cho phù hợp với trí tuệ của những người có tư duy thời đại. အာဇီဝဋ္ဌမကသီလ - ထို့နောက် ဗုဒ္ဓဘာသာစစ်စစ် သူတော်ကောင်း ဖြစ်ရိုးမှန်လျှင် မိမိ၏ အသက်မွေးမှုကို တရားနည်းလမ်းကျအောင် ပြုထိုက်သောကြောင့် “အာဇီဝဋ္ဌမကသီလ” ကိုလည်း ဖွင့်ပြထားပါသည်။ → Giới nuôi mạng thanh tịnh thứ tám (Ājīvaṭṭhamaka-sīla) - Kế đến, vì một người Phật tử chân chính phải làm cho sự nuôi mạng của mình trở nên đúng pháp, nên tôi cũng giải thích về "Giới nuôi mạng thanh tịnh thứ tám". နဝင်္ဂသီလ၊ ၁၀-ပါး သီလ - ထို့နောက် ယခုအခါ အချို့ သူတော်ကောင်းတို့ ၉-ပါး၊ ၁၀-ပါးသီလများကို ဆောက်တည်လေ့ရှိသောကြောင့် ထိုသီလများ ဆောက်တည်ရာဝယ် စောင့်ရှောက်ဖွယ်များကို အချုပ်မျှ ရေးသားထားပါသည်။ → Cửu giới, Thập giới - Sau đó, vì hiện nay một số bậc thiện tri thức có thói quen thọ trì Cửu giới, Thập giới nên tôi cũng viết tóm lược về những điều cần giữ gìn khi thọ trì các giới ấy. TRANG 10 ဒုစရိုက် ၁၀-ပါး - ထို့နောက် ဗုဒ္ဓဘာသာတိုင်း သိဖွယ်၊ ကျင့်ဖွယ်ဖြစ်သော ဒုစရိုက်၊ သုစရိုက်၊ ပုညကြိယဝတ္ထုများကို အကျဉ်းအကျယ် ခွဲခြား၍ သိသာရုံ အချုပ်မျှ ထုတ်ပြထားသည်။ → Mười ác nghiệp (Ducarite) - Tiếp theo, tôi trích dẫn tóm lược để làm sáng tỏ sự khác biệt giữa ác nghiệp, thiện nghiệp và các căn bản phước đức (puññakiriyavatthu), vốn là những điều mà mọi Phật tử đều nên biết và thực hành. ကံ ကံ၏အကျိုး - ထို့နောက် အများမျက်မြင် နေ့စဉ်အကျိုးပေးဟန်ကို ရှေ့တန်းနှင့် ဆက်သွယ်၍ လူငယ်များပင် နားဝင်လောက်အောင် ကံ ကံ၏အကျိုးကို ယုံကြည်သော သမ္မာဒိဋ္ဌိ (ကမ္မဿကတာဉာဏ်) ဖြစ်ပေါ်စေနိုင်သော ပက္ကာသပါဠိတော်ကြီးလာ ကမ္မဝိဘင်္ဂသုတ်တော်ကို ဘာသာပြန်ထားပါသည်။ → Nghiệp và quả của nghiệp - Tiếp đó, để tạo lập Chánh kiến tin vào nghiệp và quả của nghiệp (Kammassakatā-ñāṇa), tôi đã dịch Kinh Cula-kammavibhanga từ nguyên bản Pali sang ngôn ngữ thông thường sao cho ngay cả giới trẻ cũng có thể thấu hiểu thông qua sự kết nối với các ví dụ về sự trổ quả hàng ngày. ကံ ဉာဏ် ဝီရိယ - ထို့နောက် အချို့သော ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့သည် ရှေးကံကိုသာ တစ်ထပ်တည်း အားကိုးတတ်ကြလေရာ ထိုသို့ အားကိုးမိရန် ဉာဏ်နှင့် ဝီရိယအချက်များကိုလည်း အမြွက်အားဖြင့် ထင်ရှားအောင် ဖော်ပြထားပါသည်။ → Nghiệp, Trí tuệ và Nỗ lực - Kế tiếp, vì một số Phật tử có xu hướng chỉ hoàn toàn dựa dẫm vào nghiệp quá khứ, nên tôi cũng trình bày rõ ràng các yếu tố về Trí tuệ và Nỗ lực để họ biết cách nương tựa đúng đắn. ဆုတောင်းခန်း - ထို့နောက် အများနှင့်ဆိုင်သော ဆုတောင်းနည်းကို ပါရမီဖြည့်ဖို့ အရေး၌ လေးလေးပင်ပင် စီစဉ်ညွှန်ပြ၍ နေ့စဉ် ဒါနမှုဝယ် အတိုချုပ် ဆုတောင်းဟန်ကိုလည်း စီမံ ရေးသားထားပါသည်။ → Phần nguyện hương (phát nguyện) - Cuối cùng, tôi biên soạn và hướng dẫn một cách trang trọng các cách cầu nguyện (phát nguyện) chung để hỗ trợ việc tích lũy các ba-la-mật, đồng thời biên soạn cả mẫu cầu nguyện (phát nguyện) ngắn gọn cho các việc bố thí hàng ngày. TRANG 11 နိဂုံး - ဤမျှလောက်သော အစီအစဉ်ဖြင့် ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့၏ သိဖွယ်များ အထိုက်အလျောက် လုံလောက်ပြီဖြစ်ရကား ဘုရားအဖြစ်တော်စဉ်နှင့်တကွ စာရှုသူအများပင် သတိပြုဖွယ်ကောင်းလှသော “သမုဒ္ဒဝါဏိဇ” ဇာတ်တော်ကို အကျဉ်းချုပ်၍ နိဂုံးအုပ်လိုက်ပါသည်။ → Kết luận - Với sự trình bày nội dung như trên, các kiến thức cần biết cho người Phật tử đã tương đối đầy đủ; do đó, tôi xin kết thúc bằng cách tóm lược câu chuyện cuộc đời Đức Phật cùng với chuyện tiền thân "Samuddavāṇija" vốn rất đáng để độc giả lưu tâm. ၁၂၉၃-ခု၊ တပို့တွဲလ → Tháng Tabodwe, năm 1293 (Miến lịch). အရှင်ဇနကာဘိဝံသ → Đại đức Janakābhivaṃsa. TRANG 1 မာတိကာ → Mục lục. စဉ် - အကြောင်းအရာ - စာမျက်နှာ → Số thứ tự - Nội dung - Trang. (က) ဘုရားဂုဏ်တော်ဖွင့်များ → (a) Giải thích các ân đức Phật. ၁။ ရုပ်ပုံတော်ဖွင့် → 1. Giải thích về sắc thân (hình tượng) Phật. ၂။ ရောင်ခြည်တော်ဖွင့် [ရောင်ခြည်တော် ပြဿနာပါသည်] .... ၅ → 2. Giải thích về hào quang [có bao gồm vấn đáp về hào quang] .... 5. ၃။ စေတီတော်ဖွင့် [ဘုရား ပုထိုးခေါ်ပုံနှင့် ဘုရားဖြစ်တော်ကို အာရုံပြုသင့်ပုံ] .... ၁၃ → 3. Giải thích về Bảo tháp [Cách gọi Phật tháp và cách nên hướng tâm đến việc thành đạo của Đức Phật] .... 13. ၄။ ဘုရားဂုဏ်တော်ပြ ပါဠိတော်ဖွင့် .... ၂၆ → 4. Giải thích Pāḷi văn trình bày về các ân đức Phật .... 26. ၅။ အရဟံဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၂၇ → 5. Giải thích ân đức Arahaṃ .... 27. ၆။ သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၃၀ → 6. Giải thích ân đức Sammāsambuddha .... 30. ၇။ ဝိဇ္ဇာစရဏသမ္ပန္နဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၃၃ → 7. Giải thích ân đức Vijjācaraṇasampanna .... 33. ၈။ သုဂတဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၃၇ → 8. Giải thích ân đức Sugata .... 37. ၉။ လောကဝိဒူဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၄၀ → 9. Giải thích ân đức Lokavidū .... 40. ၁၀။ အနုတ္တရော ပုရိသဒမ္မသာရထိဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၄၇ → 10. Giải thích ân đức Anuttaro purisadammasārathi .... 47. ၁၁။ သတ္ထာဒေဝမနုဿာနံဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၅၀ → 11. Giải thích ân đức Satthā devamanussānaṃ .... 50. ၁၂။ ဗုဒ္ဓဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၅၃ → 12. Giải thích ân đức Buddha .... 53. ၁၃။ အိမ်သုံးမဂ္ဂင်ရှစ်ပါးနှင့် ဗုဒ္ဓါနုဿတိမဂ္ဂင်ရှစ်ပါး .... ၅၈, ၆၃ → 13. Tám chi đạo dùng tại gia và tám chi đạo trong niệm Phật .... 58, 63. TRANG 2 ၁၄။ ဘဂဝါဂုဏ်တော်ဖွင့် [အရပ်တော်အဆုံးအဖြတ်] .... ၆၇ → 14. Giải thích ân đức Bhagavā [Sự xác định về chiều cao thân tướng] .... 67. ၁၅။ ဘုရားရှိခိုး ဂါထာဖွင့် .... ၈၈ → 15. Giải thích kệ ngôn lễ bái Phật .... 88. ၁၆။ ဂုဏ်တော် ၉-ပါး ဆက်သွယ်နည်း .... ၉၀ → 16. Cách liên kết 9 ân đức Phật .... 90. ၁၇။ ဂုဏ်တော်အကျိုး [မိဖုရားစောလုံဝတ္ထု] .... ၉၄ → 17. Lợi ích của ân đức Phật [Chuyện hoàng hậu Saw Lon] .... 94. (ခ) တရားဂုဏ်တော်ဖွင့်များ → (b) Giải thích các ân đức Pháp. ၁။ တရားဂုဏ်တော်ပြ ပါဠိတော်အဖွင့် .... ၉၉ → 1. Giải thích Pāḷi văn trình bày về các ân đức Pháp .... 99. ၂။ သွာက္ခာတ ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၀၀ → 2. Giải thích ân đức Svākkhāta .... 100. ၃။ သန္ဒိဋ္ဌိက ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၀၇ → 3. Giải thích ân đức Sandiṭṭhika .... 107. ၄။ အကာလိကဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၁၀ → 4. Giải thích ân đức Akālika .... 110. ၅။ ဧဟိပဿိက ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၁၁ → 5. Giải thích ân đức Ehipassika .... 111. ၆။ သြပနေယျိက ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၁၆ → 6. Giải thích ân đức Opanayika .... 116. ၇။ ပစ္စတ္တံဝေဒိတဗ္ဗ ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၂၀ → 7. Giải thích ân đức Paccattaṃ veditabbo .... 120. ၈။ တရားရှိခိုး ဂါထာဖွင့် .... ၁၂၂ → 8. Giải thích kệ ngôn lễ bái Pháp .... 122. ၉။ တရားပူဇော်နည်း .... ၁၂၆ → 9. Cách cúng dường Pháp .... 126. (ဂ) သံဃာ့ဂုဏ်တော်ဖွင့်များ → (c) Giải thích các ân đức Tăng. ၁။ သံဃာ့ဂုဏ်တော်ပြ ပါဠိတော်အဖွင့် .... ၁၃၁ → 1. Giải thích Pāḷi văn trình bày về các ân đức Tăng .... 131. ၂။ သုပ္ပဋိပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၃၂ → 2. Giải thích ân đức Suppaṭipanna .... 132. ၃။ ဥဇုပ္ပဋိပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၃၅ → 3. Giải thích ân đức Ujuppaṭipanna .... 135. TRANG 3 ၄။ ဉာယပ္ပဋိပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၃၈ → 4. Giải thích ân đức Ñāyappaṭipanna .... 138. ၅။ သာမီစိပ္ပဋိပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၄၀ → 5. Giải thích ân đức Sāmīcippaṭipanna .... 140. ၆။ ပုရိသယုဂါနိ ပါဠိအဖွင့် .... ၁၄၄ → 6. Giải thích Pāḷi văn về các cặp nhân vật (Purisayugāni) .... 144. ၇။ အာဟုနေယျ ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၄၅ → 7. Giải thích ân đức Āhuneyya .... 145. ၈။ ပါဟုနေယျ ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၄၈ → 8. Giải thích ân đức Pāhuneyya .... 148. ၉။ ဒက္ခိဏေယျ ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၄၉ → 9. Giải thích ân đức Dakkhiṇeyya .... 149. ၁၀။ အဉ္ဇလီကရဏီယ ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၅၅ → 10. Giải thích ân đức Añjalīkaraṇīya .... 155. ၁၁။ အနုတ္တရံပုညက္ခေတ္တ ဂုဏ်တော်ဖွင့် .... ၁၅၉ → 11. Giải thích ân đức Anuttaraṃ puññakkhettaṃ .... 159. ၁၂။ သံဃာ့ရှိခိုး ဂါထာဖွင့် .... ၁၆၃ → 12. Giải thích kệ ngôn lễ bái Tăng .... 163. ၁၃။ သာသနာတော်ဆောင်ရွက်ခဲ့ပုံ အစဉ် .... ၁၆၇ → 13. Trình tự quá trình phụng sự giáo pháp .... 167. (ဃ) သရဏဂုံသီလ ဆောက်တည်မှုနှင့် ဆိုင်ရာများ → (d) Các vấn đề liên quan đến việc thọ trì quy y và giới hạnh. ၁။ သြကာသ အဖွင့် [အခါကြီး ရက်ကြီးများ၌ ကန်တော့နည်း အမျိုးမျိုးပါသည်။] .... ၁၇၃ → 1. Giải thích Okāsa [Có bao gồm các cách lễ bái khác nhau vào các ngày lễ lớn] .... 173. ၂။ ငါးပါးသီလ ခံယူပုံအစဉ် .... ၁၉၁ → 2. Trình tự thọ nhận ngũ giới .... 191. ၃။ ငါးပါးသီလတောင်း အဖွင့် .... ၁၉၅ → 3. Giải thích lời xin thọ trì ngũ giới .... 195. ၄။ သရဏဂုံ အဖွင့် .... ၁၉၉ → 4. Giải thích về quy y (Saraṇagamana) .... 199. ၅။ ငါးပါးသီလသိက္ခာပုဒ်များ .... ၂၀၈ → 5. Các học giới trong ngũ giới .... 208. ၆။ ပါဏာတိပါတ အဖွင့် .... ၂၀၉ → 6. Giải thích về sát sinh (Pāṇātipāta) .... 209. ၇။ အဒိန္နာဒါန အဖွင့် .... ၂၁၄ → 7. Giải thích về trộm cắp (Adinnādāna) .... 214. TRANG 4 ၈။ ကာမေသုမိစ္ဆာစာရ အဖွင့် .... ၂၁၆ → 8. Giải thích về tà dâm (Kāmesumicchācāra) .... 216. ၉။ မုသာဝါဒ အဖွင့် [စေတီယဇာတ်] .... ၂၂၂ → 9. Giải thích về nói dối (Musāvāda) [Chuyện tiền thân Cetiya] .... 222. ၁၀။ သုရာမေရယအဖွင့် .... ၂၃၁ → 10. Giải thích về uống rượu (Surāmeraya) .... 231. (င) ဥပုသ်သီလ ဆိုင်ရာများ → (e) Các vấn đề liên quan đến giới Uposatha (Bát quan trai giới). ၁။ သီလတောင်းအဖွင့် .... ၂၃၈ → 1. Giải thích lời xin thọ giới .... 238. ၂။ ရှစ်ပါးသီလသိက္ခာပုဒ်များ .... ၂၃၉ → 2. Các học giới trong bát giới .... 239. ၃။ အဗြဟ္မစရိယအဖွင့် .... ၂၃၉ → 3. Giải thích về bất dâm dục (Abrahmacariya) .... 239. ၄။ ကောမာရဗြဟ္မစရိယ သီလတည်ဆောက်တည်ပုံ ၂၄၂ → 4. Cách thiết lập và thọ trì giới Komārabrahmacariya .... 242. ၅။ ဝိကာလဘောဇနအဖွင့် .... ၂၄၃ → 5. Giải thích về ăn phi thời (Vikālabhojana) .... 243. ၆။ နစ္စ ဂီတသိက္ခာပုဒ် .... ၂၄၆ → 6. Học giới về múa hát (Nacca gīta) .... 246. ၇။ ဥစ္စာသယနအဖွင့် .... ၂၄၈ → 7. Giải thích về nằm ngồi nơi quá cao và xinh đẹp (Uccāsayana) .... 248. ၈။ ဥပုသ်သီလများနှင့် စဉ်းစားဖွယ် .... ၂၄၉ → 8. Những điều cần suy xét về các giới Uposatha .... 249. ၉။ ဥပုသ်အမျိုးမျိုး .... ၂၅၄ → 9. Các loại Uposatha khác nhau .... 254. ၁၀။ အာဇီဝဋ္ဌမကသီလအဖွင့် .... ၂၆၁ → 10. Giải thích về giới nuôi mạng thanh tịnh thứ tám (Ājīvaṭṭhamakasīla) .... 261. ၁၁။ နဝင်္ဂဥပုသ်သီလအဖွင့် .... ၂၆၉ → 11. Giải thích về giới Uposatha chín chi (Navanga-uposatha) .... 269. ၁၂။ ဆယ်ပါးသီလအဖွင့် .... ၂၇၂ → 12. Giải thích về mười giới (Dasasīla) .... 272. (စ) ဒုစရိုက်-သုစရိုက်အဖွင့် .... ၂၇၈ → (f) Giải thích về ác hạnh và thiện hạnh .... 278. TRANG 5 (ဆ) ပုညကိရိယာဝတ္ထုအဖွင့် .... ၂၈၁ → (g) Giải thích về các căn bản phước nghiệp (Puññakiriyavatthu) .... 281. (ဇ) ကံ ကံ၏ အကျိုးအဖွင့် .... ၂၈၄ → (h) Giải thích về nghiệp và quả của nghiệp .... 284. (ဈ) ကံ ဉာဏ် ဝီရိယ အဖွင့် .... ၂၉၀ → (i) Giải thích về nghiệp, trí tuệ và tinh tấn .... 290. (ည) ဆုတောင်းခန်းအဖွင့် .... ၂၉၈ → (j) Giải thích về phần phát nguyện .... 298. (ဋ) ဘုရားအဖြစ်တော်စဉ် နိဒါန်း .... ၃၀၀ → (k) Dẫn nhập về quá trình thành Phật .... 300. ၁။ သူဌေးသား သုမေဓာ .... ၃၁၁ → 1. Công tử Sumedha .... 311. ၂။ စဉ်းစားတော်မူခန်း .... ၃၁၂ → 2. Phần suy xét .... 312. ၃။ တောထွက်၍ ဈာန်အဘိညာဉ်ရတော်မူခန်း ၃၁၃ → 3. Phần xuất gia và đắc thiền định, thần thông .... 313. ၄။ ဘုရားဆုပန်တော်မူခန်း .... ၃၁၄ → 4. Phần phát nguyện thành Phật .... 314. ၅။ ဗျာဒိတ်ရတော်မူခန်း .... ၃၁၇ → 5. Phần nhận thọ ký .... 317. ၆။ ပါရမီတော်များကို ဆင်ခြင်တော်မူခန်း ၃၁၈ → 6. Phần quán chiếu về các pháp Ba-la-mật .... 318. ၇။ ကြင်ရာတော်ရွေးခန်း .... ၃၃၇ → 7. Phần chọn bạn đời .... 337. ၈။ ကြင်ရာတော်၏ ဂုဏ်အင်္ဂါများ .... ၃၃၈ → 8. Các đức tính của bạn đời .... 338. ၉။ ထီးနန်းစံတော်မူခန်း .... ၃၄၀ → 9. Phần hưởng thụ vương quyền .... 340. ၁၀။ သံဝေဂယူတော်မူခန်း .... ၃၄၃ → 10. Phần khởi tâm kinh cảm (Saṃvega) .... 343. ၁၁။ တောထွက်မူတော်မူရန် အစီအစဉ် .... ၃၄၄ → 11. Kế hoạch để xuất gia .... 344. ၁၂။ တောထွက်မူခြင်း .... ၃၄၆ → 12. Việc xuất gia .... 346. ၁၃။ ရဟန်းပြုတော်မူခြင်း .... ၃၅၇ → 13. Việc trở thành sa-môn .... 357. TRANG 6 ၁၄။ နန်းတော်၌ဖြစ်ပျက်ပုံ .... ၃၄၈ → 14. Sự việc diễn ra tại cung điện .... 348. ၁၅။ ယသောဓရာ တမ်းတခန်း .... ၃၄၉ → 15. Phần nàng Yasodharā than thở .... 349. ၁၆။ ဒုက္ကရစရိယာကျင့်တော်မူခြင်း .... ၃၅၂ → 16. Việc thực hành khổ hạnh (Dukkaracariyā) .... 352. ၁၇။ မာန်နတ်ကို အောင်မြင်တော်မူခြင်း .... ၃၅၄ → 17. Việc chiến thắng Ma vương .... 354. ၁၈။ ဘုရားဖြစ်တော်မူခန်း .... ၃၅၈ → 18. Phần thành đạo .... 358. (ဌ) ကျမ်းပြီးနိဂုံး .... ၃၆၁ → (l) Kết luận hoàn tất tác phẩm .... 361. (ဍ) လင်္ကာတော်ကြီး ဘုရားရှိခိုး .... ၃၆၆ → (m) Lễ bái Phật bằng bài kệ tụng lớn .... 366. (ဎ) လင်္ကာတော်ငယ် (၈၀) .... ၄၁၉ → (n) Bài kệ tụng nhỏ (80 bài) .... 419. မာတိကာ ပြီးပြီ။ → Mục lục kết thúc. TRANG 1 ရတနာဂုဏ်ရည် → Bảo Châu Ấn Đức (Ân Đức Tam Bảo). ရုပ်ပုံတော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích về sắc thân Phật (Để học thuộc). ပစ္ဆိမံ ဖလဒါနေန၊ ဗဟုံ ပစိတပါရမိ။ → Pacchimaṃ phaladānena, bahuṃ pacitapārami. Bởi việc cho quả vào kiếp cuối cùng, bởi các pháp Ba-la-mật đã tích lũy nhiều. ယဿ ဝေသိ သုမာပေန္တိ၊ ကေနာပိ အသမံ သမံ။ → Yassa vesi sumāpenti, kenāpi asamaṃ samaṃ. Sắc thân của Ngài đã được tạo nên một cách tốt đẹp, không ai sánh bằng và vô cùng hoàn hảo. ဗဟုံ-ဤရွေ့ဤမျှ၊ ဂဏန်းချ၍၊ မရနှိုင်းပြီ၊ အတိုင်းမရှိရလေအောင်။ → Bahuṃ - nhiều đến mức độ này, nếu đặt con số vào để tính toán thì không thể so sánh được, đạt đến mức vô lượng. ပစိတပါရမိ-လေးသင်္ချေကိန်း၊ ကပ်တစ်သိန်းက၊ ထိန်းသိမ်းစုဆောင်း၊ ပါရမီတော် အပေါင်းတို့သည်။ → Pacitapārami - chính là tất cả các pháp Ba-la-mật đã được giữ gìn và tích lũy từ thời hạn bốn tăng kỳ (A-Tăng-Kỳ) và một trăm ngàn đại kiếp. ပစ္ဆိမံ ဖလဒါနေန-ဖြစ်ပျက်ဖန်ခါ၊ သံသရာဝယ်၊ ခန္ဓာကိုယ်ရေး၊ အဆုံးစွန် အကျိုးပေးသောအားဖြင့်။ → Pacchimaṃ phaladānena - bằng cách ban cho quả báo cuối cùng về phương diện thân thể trong vòng luân hồi sinh diệt này. ယဿ ဘဂဝတော-အကြင် ရွှေဘုန်းတော်သခင် ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏။ → Yassa bhagavato - của Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của những vinh quang vàng son ấy. (hào quang phước báu cao thượng) ဝေသိ-ရွှေမျက်နှာတော်၊ လက်ခြေတော်နှင့်၊ ကိုယ်တော်သဏ္ဌာန်၊ ပုံဟန်ထင်ပေါ်၊ အသွင်အပြင်တော်ကို။ → Vesi - chính là diện mạo, hình dáng hiện rõ của kim thân Ngài cùng với khuôn mặt vàng, tay chân vàng. ကေနာပိ-လူမင်းနတ်မင်း၊ ဗြဟ္မာမင်းဝယ်၊ ဘယ်သူတစ်ယောက်နှင့်မျှ။ → Kenāpi - với bất kỳ một ai, dù là vua loài người, vua chư thiên hay vua Phạm thiên. အသမံ-လက္ခဏာတော်ကြီးငယ်၊ အသွယ်သွယ်ဖြင့်၊ ဘယ်ဝယ်တိုင်းတာ၊ မနှိုင်းသာသည်ဖြစ်၍။ → Asamaṃ - bởi các tướng trạng lớn nhỏ khác nhau, nên dù đo lường ở bất cứ đâu cũng không thể so sánh được. သမံ-တစ်ကိုယ်တော်လုံး၊ ရွှေတုံးရွှေနှစ်၊ ပျုရာဇ်သိင်္ဂီ၊ နာရဏီမျှ၊ သာကီဝင်သွေး၊ အယဉ်ကျေးဆုံးဖြစ်ရလေအောင်။ → Samaṃ - để toàn bộ kim thân trở nên trang nhã nhất, như một khối vàng ròng, như vàng ròng Shwe-htone, như vàng tinh khiết nhất của dòng máu Sakya. သုမာပေန္တိ-တက်သစ်နေဝန်း၊ ထွန်းသစ်လဝန်း၊ ပွင့်သစ်ပန်းသို့၊ ဆန်းအံ့ပုံ၊ စခန်းစုံအောင်၊ အစွမ်းကုန် ဖန်ဆင်းလိုက်ကြပေသည်တကား။ → Sumāpenti - các Ba-la-mật ấy đã tạo tác hết mức để Ngài trở nên kỳ diệu như vầng mặt trời mới mọc, như vầng trăng mới lên, như đóa hoa mới nở. TRANG 2 ကြည်ညိုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để khởi tâm tịnh tín. ဘုရားရှင်၏ ကောင်းမှုပါရမီတော်များသည် “ဤရွေ့ဤမျှ ရှိ၏” ဟု ဂဏန်းချလျက် နှိုင်းဆရေတွက်၍ မရလောက်အောင် များမြောက်လှပါပေ၏။ → Các công đức Ba-la-mật của Đức Phật nhiều đến mức không thể đặt con số để so sánh hay đếm rằng "có bấy nhiêu đây". ကမ္ဘာလောက၌ ရှိသမျှသတ္တဝါအပေါင်း၏ ကောင်းမှုပါရမီတွေကို စုပေါင်း၍ အဆတစ်ရာ မြှောက်ပြီးလျှင် တစ်ဆူသော ဘုရားရှင်၏ ပါရမီကုသိုလ်နှင့် နှိုင်းယှဉ်သည်ရှိသော်။ → Nếu gom tất cả công đức Ba-la-mật của mọi chúng sinh trong thế gian rồi nhân lên gấp trăm lần để đem so sánh với công đức Ba-la-mật của một vị Phật… ဘုရားရှင်တစ်ဆူ၏ ကုသိုလ်ကောင်းမှုတော်ကပင် သာလွန်ဖွယ်ရှိသည်ဟု ကျမ်းဂန်များ၌ ဆို၏။ → Trong các kinh điển dạy rằng, ngay cả khi đó thì công đức của một vị Phật vẫn vượt trội hơn hẳn. ထိုမျှလောက် များပြားသော ပါရမီတော်တို့ကို လေးအသင်္ချေနှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်းကာလပတ်လုံး စုဆောင်းတော်မူခဲ့သောကြောင့်။ → Bởi vì Ngài đã tích lũy những pháp Ba-la-mật vô lượng như thế suốt thời gian bốn tăng kỳ (A-Tăng-Kỳ)) và một trăm ngàn đại kiếp. “ဤရွေ့ ဤမျှ-မည်၍ မည်မျှရှိသည်” ဟု ပါရမီတော်များကို ရေတွက်၍ မရနိုင်တော့ပြီ။ → Nên không còn có thể đếm được các pháp Ba-la-mật ấy rằng "có bấy nhiêu đây, có chừng này". အသင်္ချေတွက်ပုံ။ ။ ကမ္ဘာကြီးတည်၍ ပျက်စီးသည်တိုင်အောင်သောအခါကို “တစ်ကပ် တစ်ကမ္ဘာ” ဟု ခေါ်၏။ → Cách tính Tăng-kỳ (A-Tăng-Kỳ) (Asaṅkhyeyya): Khoảng thời gian từ khi đại địa hình thành cho đến khi bị hủy diệt được gọi là "một kiếp, một đại kiếp". အလျား အနံ တစ်ယူဇနာရှိသော “ဂါဝုဒ်” တိုက်ကြီးအတွင်း၌ မုန်ညင်းစေ့များကို သွင်းပြီးလျှင်။ → Nếu bỏ đầy các hạt cải vào trong một tòa thành "Gāvuta" có chiều dài và chiều rộng mỗi cạnh một do-tuần (yojana). အနှစ်တစ်ရာကြာမှ တစ်စေ့ကျယူပစ်ရာ ထိုမုန်ညင်းစေ့များ ကုန်သွားသော်လည်း တစ်ကမ္ဘာမကုန်သေးဟု ဘုရားရှင် မိန့်တော်မူခဲ့သည်။ [နိဒါနဝဂ္ဂ-အနမတဂ္ဂသံယုတ်၊ သာသပသုတ် ပါဠိတော်] → Cứ mỗi một trăm năm lấy ra một hạt cải, Đức Phật dạy rằng cho dù số hạt cải đó có hết đi nữa thì một đại kiếp vẫn chưa kết thúc. [Trích Pāḷi văn Sutta Sāsapa, Anamatagga Saṃyutta, Nidānavagga] ထိုမျှကြာသော ကမ္ဘာပေါင်းမည်မျှရှိပြီဟု ရေတွက်၍ မရလောက်အောင် များမြောက်သောကမ္ဘာကို အသင်္ချေဟု ဆိုသည်။ → Số lượng những đại kiếp dài lâu như thế nhiều đến mức không thể đếm xuể thì được gọi là một Tăng-kỳ (A-Tăng-Kỳ) (Asaṅkhyeyya). ထိုသို့ ရေတွက်၍မရသောကြောင့် ဘုရားတစ်ဆူနှင့် တစ်ဆူအကြား၌ တစ်အသင်္ချေဟု မှတ်ထားရသော လေးကြိမ်ကို “လေးအသင်္ချေ” ဟု ဆိုသည်။ → Vì không thể đếm được như vậy, nên bốn khoảng thời gian mà mỗi khoảng được ghi nhận là một tăng kỳ giữa các vị Phật với nhau được gọi là "bốn tăng kỳ". TRANG 3 ထိုလေးအသင်္ချေနှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်းသည် ဘုရားတစ်ဆူတစ်ဆူ၏ ပါရမီဖြည့်ရာ အမြန်ဆုံးအချိန်အခါတည်း။ → Bốn tăng kỳ (A-Tăng-Kỳ) và một trăm ngàn đại kiếp đó là khoảng thời gian nhanh nhất để một vị Phật hoàn thành các pháp Ba-la-mật. အချို့ ဘုရားရှင်များမှာ ပါရမီဖြည့်ဖို့ရန် ရှစ်အသင်္ချေနှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်း၊ တစ်ဆယ့်ခြောက် အသင်္ချေနှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်းကြာသည်။ → Một số vị Phật khác thì mất đến tám tăng kỳ (A-Tăng-Kỳ) và một trăm ngàn đại kiếp, hoặc mười sáu tăng kỳ (A-Tăng-Kỳ) và một trăm ngàn đại kiếp để hoàn thành Ba-la-mật. ထိုလေးအသင်္ချေနှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်းပတ်လုံး စုဆောင်းတော်မူအပ်ခဲ့သော ပါရမီတော်တို့သည် အလွန်အလွန် များပြားရကား။ → Vì các pháp Ba-la-mật đã được tích lũy suốt bốn tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp ấy vô cùng vô cùng nhiều. အကျိုးပေးခွင့် အလျဉ်းမရဘဲ အကျိုးပေးမည်ဟု တစ်ခဲနက်နေခဲ့ကြရာ သိဒ္ဓတ္ထမင်းသား ဘုရားဖြစ်မည့်ဘဝ၌ကား။ → Chúng đã chờ đợi một cách mãnh liệt để cho quả mà chưa có cơ hội, cho đến kiếp sống mà Thái tử Siddhattha sắp thành Phật. ခန္ဓာကိုယ်အရေးနှင့်စပ်၍ နောက်ထပ် အကျိုးပေးခွင့်မရှိ၊ အဆုံးစွန် အကျိုးပေးရမည့် အခါကြီးဖြစ်ပေသည်။ → Đây chính là thời điểm trọng đại cuối cùng phải cho quả, vì liên quan đến thân thể thì sau này sẽ không còn cơ hội cho quả thêm nữa. ထို့ကြောင့် ထိုပါရမီများသည် ရှင်တော်ဘုရားကို မျက်နှာတော် ကျက်သရေရှိအောင်လည်းကောင်း၊ လက်တော်ခြေတော် ပြေပြစ် ညက်ညောချောမောအောင်လည်းကောင်း။ → Do đó, những pháp Ba-la-mật ấy đã làm cho khuôn mặt của Đức Phật trở nên đầy uy đức, làm cho tay chân Ngài trở nên thon thả, mịn màng và đẹp đẽ. ကိုယ်လုံးတော်နှင့် အရပ်တော် ခန့်ညားညီညွတ်အောင်လည်းကောင်း၊ ဤသို့အားဖြင့် တစ်ကိုယ်လုံး၏ အသွင်အပြင်အရပ်ရပ်၌ ယောက်ျားမြတ်တို့၏ အမှတ်အသားဖြစ်သော လက္ခဏာတော်ကြီး ၃၂-ပါး။ → Làm cho thân hình và chiều cao trở nên uy nghi, cân đối; theo cách này, trên khắp các phương diện ngoại hình của toàn bộ thân thể đều hiện rõ 32 tướng tốt của bậc Đại Nhân. ရှစ်ဆယ်သော လက္ခဏာတော်ငယ်များဖြင့် တံဆိပ်ခတ်လျက် အလွန်တင့်တယ်သပ္ပာယ်စွာ ဖန်ဆင်းလိုက်ရကား။ → Và được đóng ấn bởi 80 vẻ đẹp phụ, tạo nên một sắc thân vô cùng tráng lệ và uy nghiêm. လူမင်း၊ နတ်မင်း၊ ဗြဟ္မာမင်းဝယ် ဘယ်သူတစ်ယောက်နှင့်မျှ နှိုင်းယှဉ်၍ မရဘဲ ဇမ္ဗူရာဇ်သိင်္ဂီ နာရဏီရွှေတုံး ရွှေနှစ်ကဲ့သို့ သာကီဝင်မင်းမျိုးတွင် အလှပဆုံး အယဉ်ကျေးဆုံး ဖြစ်ပါပေသည်။ → Trong hàng vua loài người, vua chư thiên, vua Phạm thiên, không một ai có thể so sánh được; Ngài là bậc đẹp nhất, nhã nhặn nhất trong dòng dõi hoàng tộc Sakya, giống như một khối vàng ròng tinh khiết nhất. TRANG 4 ထိုသို့ ဖန်ဆင်းရာ၌ ပါရမီတော်များသည် သူရဇ ဓမ္မရ အလွန်အယက် အကျိုးပေးကာ လောက၌ ဆန်းလေသမျှ စခန်းစုံအောင် အစွမ်းကုန် ဖန်ဆင်းလိုက်သည့် အခါကြီးဖြစ်၍။ → Trong việc tạo tác đó, các pháp Ba-la-mật đã cho quả một cách mãnh liệt (Suraja Dhammara), là thời điểm đại chuyển biến tạo nên mọi sự kỳ diệu đạt đến mức hoàn hảo nhất trong thế gian. ဘုရားရှင်၏ ပုံဟန်တော်သည် ဖူးမျှော်၍ မဝနိုင်အောင် တက်သစ်စနေဝန်း၊ ထွန်းသစ်စလဝန်းနှင့် ပွင့်ခါစပန်းကဲ့သို့ လန်းလန်းဆန်းဆန်း ရှုးရှုးရှန့်ရှန့်ဝေဝေ အလွန်ကျက်သရေ ရှိတော်မူလှပေသည်။ → Hình dáng của Đức Phật đẹp đến mức chiêm bái không biết chán, tràn đầy uy đức và tươi mới như vầng mặt trời mới mọc, như vầng trăng mới lên và như đóa hoa vừa nở rộ. ဘုရားရှင်သည် ဘုရားဖြစ်တော်မူပြီး၍ တာဝတိံသာ နတ်ပြည်ဝယ် နတ်ဗြဟ္မာတို့၏အလယ်မှာ အဘိဓမ္မာတရားကို ဟောတော်မူ၏။ → Sau khi thành đạo, Đức Phật đã thuyết pháp Abhidhamma (Vi Diệu Pháp) tại cõi trời Tāvatiṃsa (Tam Thập Tam) ở giữa chư thiên và Phạm thiên. ထိုအခါ ထိုနတ် ဗြဟ္မာတို့၏ ရုပ်အဆင်းထက် ဘုရားရှင်၏ အဆင်းတော်က သာလွန်၍ တင့်တယ်တော်မူလှပေသတဲ။ → Khi đó, sắc thân của Đức Phật được nói là vượt trội và xinh đẹp hơn hẳn so với sắc diện của các vị chư thiên và Phạm thiên ấy. ထိုစကားကို ဆိုသင့်ပါပေ၏။ နတ် ဗြဟ္မာတို့သည် အလွန်လှကြပါပေလိမ့်မည်။ → Lời nói đó thật đáng được nói. Các vị chư thiên và Phạm thiên hẳn là rất xinh đẹp. သို့သော် သူတို့ကိုယ်တွင်း၌ ရာဂ၊ ဒေါသ စသော အညစ်အကြေး မကင်းပါ။ → Tuy nhiên, bên trong cơ thể của họ vẫn chưa sạch khỏi các uế nhiễm như tham ái (rāga), sân hận (dosa). ဘုရားရှင်ကား အညစ်အကြေးကင်း၍ သန့်ရှင်းသော စိတ်တော်ဝယ် သဗ္ဗညုတဉာဏ်တော်နှင့် မေတ္တာ ကရုဏာတော် ထုံမွမ်းလျက်ရှိသောကြောင့် သာလွန်နိုင်ပါသည်။ → Còn Đức Phật, vì Ngài đã sạch các uế nhiễm, trong tâm ý thanh tịnh lại được tẩm nhuần bởi (thấm đẫm) Toàn Tri Diệu Giác (Sabbaññutañāṇa) cùng lòng Từ (Mettā) và Bi (Karuṇā), nên Ngài có thể vượt trội hơn. ထိုမျှလောက်သပ္ပာယ်၍ တင့်တယ်သော ရုပ်ပုံတော်သခင် ဘုရားရှင်ကို မျက်မြင်ကိုယ်တွေ့ ဖူးမြင်ရလျှင် တရားစစ် တရားမှန်ကို အနားဝပ်လျက် မြတ်နိုးလှစွာ မနာလိုရခြင်းမှာ ယခုခေတ် ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့ လွန်စွာ ကံဆိုးလှချေတကား။ → Được trực tiếp chiêm bái Đức Phật, bậc chủ tể của sắc thân uy nghiêm và tráng lệ như thế, rồi cung kính ở gần bên để lắng nghe giáo pháp chân chính với lòng tôn kính sâu sắc—đó là điều mà các tín đồ Phật giáo thời nay thật vô cùng kém may mắn khi không có được. သို့သော် ဘုရားရှင်၏ ဓမ္မစကြာ၊ အနတ္တလက္ခဏသုတ်၊ သတိပဋ္ဌာန်စသည်ဖြင့် အဖိုးတန်တရားတော်ကြီးများ မပျက်မပြား တည်ရှိနေသေးသောကြောင့်။ → Tuy nhiên, vì các thời pháp bảo quý giá như kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta), kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhana Sutta), kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta), v.v... vẫn còn tồn tại nguyên vẹn. ထိုတရားတော်များကို ကိုယ်တွေ့လိုက်စား၍ [ကျင့်ကြံရမည်]။ → Nên chúng ta cần phải thân hành tìm cầu và thực hành theo những giáo pháp ấy. TRANG 5 တရားထူးရအောင်၊ တရားထူးမရသေးလျှင် နောင်ပွင့်တော်မူလာမည့် အရိမေတ္တေယျဘုရားရှင်ကို ဖူးမြင်နိုင်အောင် ယခုကပင် ကြိုးစားကြပါလေ။ Hãy nỗ lực ngay từ bây giờ để đắc được Pháp đặc biệt; (chứng đắc được Pháp Cao Thượng;) nếu chưa đắc được Pháp đặc biệt, (chứng đắc được Pháp Cao Thượng,) hãy nỗ lực để có thể chiêm bái Đức Phật Ariya Metteyya sẽ xuất hiện trong tương lai. ရောင်ခြည်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) Giải thích về hào quang (Để học thuộc). နီလာယော နီလဌာနမှာ၊ ပီတောဒါတာ စ လောဟိတာ။ Nīlāyo nīlaṭṭhānamhā, pītodātā ca lohitā. Màu xanh từ những nơi có màu xanh, các màu vàng, trắng và đỏ. တမ္ဗာ တမ္ဗာ စ မဉ္ဇိဋ္ဌာ၊ နိက္ခမိံသု ပဘဿရာ။ Tambā tambā ca mañjiṭṭhā, nikkhamiṃsu pabhassarā. Màu đồng, màu đồng và màu đỏ thẫm, hào quang rực rỡ đã phát ra. ယဿ ဘဂဝတော-အကြင် ရွှေဘုန်းတော်သခင် ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏။ Yassa bhagavato - của Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của những vinh quang vàng son ấy. (hào quang phước báu cao thượng ấy.) နီလဌာနမှာ-ဆံမုတ်ဆိတ်တော်၊ မျက်နက်တော်မှစ၍ထိုထို ညိုရောင်ပိတ်ပိတ်၊ ကိုယ်အင်္ဂါတော် အစိတ်အပိုင်းမှ။ Nīlaṭṭhānamhā - từ những bộ phận thân thể có màu xanh thẫm như tóc, râu và tròng đen của mắt. နီလာယော-နီလာရွဲညို၊ ဖဲအညိုနှင့်၊ ကြာညိုပွင့်ချပ်၊ မြညိုယောင်သို့၊ လျှပ်လျှပ်စိုပြောင်၊ ညိုမှောင်သော ရောင်ခြည်တော်တို့သည်။ Nīlāyo - những luồng hào quang màu xanh thẫm, bóng loáng như ngọc saphia xanh, như vải lụa xanh, như cánh hoa sen xanh, như màu ngọc bích xanh thẫm. နိက္ခမိံသု-ဝန်းကျင်အထက်၊ ဝဲယာယက်၍၊ မြန်းထွက် ကွန့်မြူးတော်မူကြလေကုန်ပြီ။ Nikkhamiṃsu - đã lan tỏa, tỏa ra xung quanh phía trên, bên trái và bên phải một cách rực rỡ. ပီတဌာနမှာ-ကိုယ်အရေတော်၊ မျက်လုံးတော်မှစ၍ထွေထွေ၊ ရွှေရောင်ပိတ်ပိတ်၊ ကိုယ်အင်္ဂါတော် အစိတ်အပိုင်းမှ။ Pītaṭṭhānamhā - từ những bộ phận thân thể có màu vàng thẫm như làn da và đôi mắt. ပီတာစ-ရွှေနှစ်သိင်္ဂီ၊ ရွှေအထည်နှင့်၊ ရွှေရည်ယဉ်သန်း၊ ရွှေစင်ပန်းသို့၊ လျှမ်းလျှမ်းထိန်ဝေ၊ ဝါရွှေသောရောင်ခြည်တော်တို့သည်လည်း။ Pītā ca - những luồng hào quang màu vàng sáng rực rỡ như khối vàng ròng, như tấm vải vàng, như dòng vàng chảy hay như đóa hoa vàng tinh khiết. နိက္ခမိံသု-ဝန်းကျင်အထက်၊ ဝဲယာယက်၍၊ မြန်းထွက် ကွန့်မြူးတော်မူကြလေကုန်ပြီ။ Nikkhamiṃsu - đã lan tỏa, tỏa ra xung quanh phía trên, bên trái và bên phải một cách rực rỡ. သြဒါတဌာနမှာ-အရိုးတော် သွားတော်၊ မျက်ဖြူတော်မှ စ၍ဖွေးလူ၊ ဖြူရောင်ပိတ်ပိတ်၊ ကိုယ်အင်္ဂါတော်။ Odātaṭṭhānamhā - từ những bộ phận thân thể có màu trắng tinh khiết như xương, răng và lòng trắng của mắt. TRANG 6 အစိတ်အပိုင်းမှ၊ သြဒါတာ စ-ငွေလရောင်ခြည်၊ ငွေအထည်နှင့်၊ ငွေရည်ယဉ်သန်း၊ ငွေစင်ပန်းသို့၊ လျှမ်းလျှမ်းဖွေးလူ၊ ဖြူဝင်းသော ရောင်ခြည်တော်တို့သည်လည်း။ Từ các bộ phận ấy, Odātā ca - những luồng hào quang màu trắng sáng rực rỡ như ánh trăng bạc, như tấm vải bạc, như dòng bạc chảy hay như đóa hoa bạc tinh khiết. နိက္ခမိံသု-ဝန်းကျင်အထက်၊ ဝဲယာယက်၍၊ မြန်းထွက်ကွန့်မြူးတော်မူကြလေကုန်ပြီ။ Nikkhamiṃsu - đã lan tỏa, tỏa ra xung quanh phía trên, bên trái và bên phải một cách rực rỡ. လောဟိတဌာနမှာ-အသားတော် အသွေးတော်၊ နှုတ်ခမ်းတော်မှ စ၍ထိုထို၊ နီရောင်ပိတ်ပိတ်၊ ကိုယ်အင်္ဂါတော် အစိတ်အပိုင်းမှ။ Lohitaṭṭhānamhā - từ những bộ phận thân thể có màu đỏ thẫm như thịt, máu và đôi môi. လောဟိတာစ-ကမ္ဗလာနီ၊ သန္တာနီနှင့်၊ ကြာနီပွင့်ချပ်၊ ပတ္တမြားယောင်သို့၊ လျှပ်လျှပ်ထိန်ကြည်၊ နီသောရောင်ခြည်တော်တို့သည်လည်း။ Lohitā ca - những luồng hào quang màu đỏ sáng rạng rỡ như tấm thảm đỏ, như san hô đỏ, như cánh hoa sen đỏ hay như màu ngọc ruby. နိက္ခမိံသု-ဝန်းကျင်အထက်၊ ဝဲယာယက်၍၊ မြန်းထွက်ကွန့်မြူးတော်မူကြလေကုန်ပြီ။ Nikkhamiṃsu - đã lan tỏa, tỏa ra xung quanh phía trên, bên trái và bên phải một cách rực rỡ. တမ္ဗာ တမ္ဗာ စ-လက်ခြေဖဝါးတော်၊ လက်သည်းခြေသည်းတော်၊ စသည်ခင်းထိုထို၊ ကိုယ်အင်္ဂါတော် အစိတ်အပိုင်းမှ။ Tambā tambā ca - từ những bộ phận thân thể như lòng bàn tay, lòng bàn chân, móng tay và móng chân. မဉ္ဇိဋ္ဌာစ-ထန်းကျင်နီပုဆိုး၊ ပန်းရောင်သွေးသို့၊ နီထွေးလွင့်လွင့်၊ ဝါကြင်ကြင်လောင်း၊ မောင်းသော ရောင်ခြည်တော်အပေါင်းတို့ သည်လည်းကောင်း။ Mañjiṭṭhā ca - cùng với tất cả các luồng hào quang màu tía, đỏ hồng pha chút vàng nhạt giống như màu y nhuộm từ vỏ cây thốt nốt. ပဘဿရာ စ-နဂ်အလွှာ၊ ဝသန္တာဝယ်၊ သံဝါဝါချွန်း၊ မိုးရွာတုန်း၌၊ ရုန်းရင်းပြက်သန်း၊ လျှပ်စစ်ပန်းသို့၊ ပျံမြန်းပြီးပြက်၊ တလက်လက်ထွက်သော ရောင်ခြည်တော်တို့သည်လည်းကောင်း။* Pabhassarā ca - cùng với các luồng hào quang lóe sáng rực rỡ như những tia chớp xé dọc bầu trời khi cơn mưa rào đổ xuống trong mùa mưa. နိက္ခမိံသု-ဝန်းကျင်အထက်၊ ဝဲယာယက်၍၊ မြန်းထွက်ကွန့်မြူးတော်မူကြလေကုန်ပြီ။ Nikkhamiṃsu - đã lan tỏa, tỏa ra xung quanh phía trên, bên trái và bên phải một cách rực rỡ. *** မှတ်ချက်။ ။ အထက်ကောင်းကင်ကို "နဂ်အလွှာ" "မိုးအခါ" ကို "ဝသန္တာ" ဟု ခေါ်သည်။ မိုးလအခါ အထက်ကောင်းကင်ဝယ် မိုးရွာတုန်း၌ လျှပ်ပန်းသလို ဝင်းခနဲ လက်ခနဲလည်း ရောင်ခြည်တော်များ ထွက်တော်မူကြသည်။** * Ghi chú: Bầu trời phía trên được gọi là "Nag-ah-lwar", mùa mưa được gọi là "Vasanta". Trong mùa mưa, các tia hào quang cũng phát ra lóe sáng rực rỡ như những tia chớp trên bầu trời khi mưa đang rơi. TRANG 7 ကြည်ညိုရန် အဓိပ္ပာယ် Ý nghĩa để khởi tâm tịnh tín. နီလရောင်ခြည်တော်။ ။ ဘုရားရှင်၏ ဆံမုတ်ဆိတ်တော်နှင့် မျက်လုံးတော်အတွင်းက မျက်နက်ဝန်းတော်တို့သည် အညိုရောင် တောက်ပ၍ တင့်တယ်တော်မူကြကုန်၏။ Hào quang màu xanh thẫm (Nīla): Tóc, râu và tròng đen trong đôi mắt của Đức Phật có màu xanh thẫm rực rỡ và rất xinh đẹp. (trang nghiêm, đẹp đẽ) ထိုကဲ့သို့ ပင်ကိုယ်အားဖြင့် ညိုမှောင်နေသော ကိုယ်အင်္ဂါတော်၏ အစိတ်အပိုင်းမှ နီလရောင်ခြည်တော်များ ထွက်တော်မူကြသည်။ Những luồng hào quang màu xanh thẫm phát ra từ các bộ phận thân thể vốn có màu xanh đen tự nhiên như vậy. ဤနီလရောင်ခြည် ထွက်တော်မူသောအခါ ဣန္ဒနီလာ ကျောက်ရတနာအဆင်း၊ ရွဲညိုအဆင်း၊ တဝိတ်ဝိတ်တောက်သော ဖဲပုဝါညို အဆင်း၊ ကြာညိုပွင့်ချပ်အဆင်း၊ မြရတနာဖြင့် ပြုအပ်သော ယပ်တောင်အဆင်း၊ စသည်နှင့်တူစွာ အလွန်ကြည်ညိုဖွယ်ကောင်းသော ညိုညိုမှောင်မှောင်အရောင်တို့သည် ရှင်တော်ဘုရား၏ ဝဲယာဖက်နှင့် အထက်အောက် (ထက်ဝန်းကျင်) အရပ်တို့၌ အိမ်လုံးတောင်လုံးခန့်မျှလည်းကောင်း၊ ထို့ထက် ကြီးမားစွာလည်းကောင်း၊ အနှံ့အပြား ပျံ့နှံ့ကွန့်မြူးကာ အထူးကျက်သရေရှိပါပေသည်။ Khi hào quang xanh này tỏa ra, những màu xanh thẫm vô cùng đáng tịnh tín—giống như màu ngọc saphia xanh, màu đá quý xanh, màu khăn lụa xanh óng ánh, màu cánh hoa sen xanh, hay màu quạt làm từ ngọc bích—đã lan tỏa rực rỡ và uy nghi khắp xung quanh, phía trên và phía dưới Đức Phật với kích thước lớn như một ngôi nhà hay một ngọn núi. ပီတရောင်ခြည်တော်။ ။ ဘုရားရှင်၏ ကိုယ်အရေတော်နှင့် မျက်လုံးတော် အထက်က မျက်ခုံးတော်စသော အရေတော်တို့သည် ဝါဝါဝင်းဝင်း ရွှေအဆင်းကဲ့သို့ လွန်မင်းစွာ တင့်တယ်ကြကုန်၏။ Hào quang màu vàng (Pīta): Làn da của Đức Phật và các phần da như lông mày phía trên đôi mắt có màu vàng rực rỡ và xinh đẹp vô cùng như màu vàng ròng. ထိုသို့ ပင်ကိုယ်အားဖြင့် ရွှေအဆင်းရှိနေသော ကိုယ်အင်္ဂါ အစိတ်အပိုင်းမှ ပီတရောင်ခြည်တော်များ ထွက်တော်မူကြသည်။ Những luồng hào quang màu vàng phát ra từ các bộ phận thân thể vốn có màu vàng tự nhiên như vậy. ဤပီတရောင်ခြည် ထွက်တော်မူသောအခါ “သိင်္ဂီနိက်” ဟု ခေါ်သော သီဟိုဠ်ရွှေစင် ရွှေနှစ်အဆင်း၊ ရွှေပြား ရွှေထည်အဆင်း၊ Khi hào quang vàng này tỏa ra, nó có màu của vàng tinh khiết Sri Lanka được gọi là "Siṅgīnik", màu của những tấm vàng hay đồ vật bằng vàng. TRANG 8 တသွင်သွင်စီးသွားသော ရွှေရည်အဆင်း၊ ရွှေပန်းအဆင်း စသည်နှင့်တူစွာ အလွန်ကြည်ညိုဖွယ်ရှိသော ဝါရွှေရွှေအရောင်တော်တို့သည် ဘုရားရှင်၏ ထက်ဝန်းကျင်အရပ်၌ အိမ်လုံး တောင်လုံးခန့်မျှလည်းကောင်း၊ ထို့ထက် ကြီးမားစွာလည်းကောင်း၊ ပျံ့နှံ့ကွန့်မြူးလျက် အထူးကျက်သရေရှိပါပေသည်။ Nó giống như màu của dòng vàng đang chảy cuồn cuộn hay màu của hoa vàng; những sắc vàng vô cùng đáng tịnh tín ấy đã lan tỏa rực rỡ và uy nghi khắp xung quanh Đức Phật với kích thước lớn như một ngôi nhà hay một ngọn núi. သြဒါတရောင်ခြည်တော်။ ။ ဘုရားရှင်၏ အသားတော်အတွင်း၌ရှိသော အရိုးတော် သွားတော် မျက်ဖြူတော် စသည်တို့မှာ လွန်စွာဖြူဝင်း သန့်ရှင်းတင့်တယ်ပါပေကုန်၏။ Hào quang màu trắng (Odāta): Xương, răng và lòng trắng của mắt bên trong cơ thể Đức Phật vô cùng trắng sáng, sạch sẽ và xinh đẹp. ထိုသို့ ပင်ကိုယ်အားဖြင့် ဖြူဝင်းသော ကိုယ်အင်္ဂါတော် အစိတ်အပိုင်းမှ သြဒါတရောင်ခြည်တော်များ ထွက်တော်မူကြသည်။ Những luồng hào quang màu trắng phát ra từ các bộ phận thân thể vốn có màu trắng tự nhiên như vậy. ဤသြဒါတရောင်ခြည် ထွက်တော်မူသောအခါ ငွေအရောင်တောက်သော လရောင်အဆင်း၊ ငွေပြားငွေထည်အဆင်း၊ ကူးသန်းသွားလာသော ငွေရည်အယဉ် ငွေပန်းအဆင်း စသည်တို့နှင့်တူစွာ အလွန်ကြည်ညိုဖွယ်ရှိသော ဖြူဝင်းသောအရောင်တို့သည် ဘုရားရှင်၏ ထက်ဝန်းကျင်အရပ်တို့၌ အိမ်လုံး တောင်လုံးခန့်မျှလည်းကောင်း၊ ထို့ထက် ကြီးမားစွာလည်းကောင်း၊ အနှံ့အပြား ပျံ့နှံ့ကွန့်မြူးလျက် အထူးကျက်သရေရှိပါပေသည်။ Khi hào quang trắng này tỏa ra, những sắc trắng vô cùng đáng tịnh tín—giống như ánh trăng bạc rạng rỡ, màu của tấm bạc, màu của dòng bạc đang luân chuyển hay màu của hoa bạc—đã lan tỏa rực rỡ và uy nghi khắp xung quanh Đức Phật với kích thước lớn như một ngôi nhà hay một ngọn núi. လောဟိတရောင်ခြည်တော်။ ။ ဘုရားရှင်၏ အရေတော်အတွင်းက အသားတော် အသွေးတော်နှင့် နှုတ်ခမ်းတော် စသည်တို့မှာ လွန်စွာနီမြန်းပါပေကုန်၏။ Hào quang màu đỏ (Lohita): Thịt, máu bên dưới lớp da và đôi môi của Đức Phật vô cùng đỏ thắm. ထိုကဲ့သို့ ပင်ကိုယ်အားဖြင့် နီမြန်းထွေးသော ဟင်္သပဒါးသွေးနှင့်တူသော ကိုယ်အင်္ဂါအစိတ်အပိုင်းမှ Từ những bộ phận thân thể có màu đỏ tự nhiên giống như màu đỏ của thần sa (cinnabar) như vậy. TRANG 9 လောဟိတရောင်ခြည်တော်များ ထွက်တော်မူကြသည်။ ဤလောဟိတရောင်ခြည် ထွက်တော်မူသောအခါ ကမ္ဗလာနီအဆင်း၊ “သန္တာ” ဟုခေါ်အပ်သော ရတနာနီအဆင်း၊ ကြာနီပွင့်အဆင်း၊ ပတ္တမြားယပ်အဆင်း စသည်တို့နှင့်တူစွာ ကြည်ညိုဖွယ်ကောင်းသော အနီရောင်တို့သည် ဘုရားရှင်၏ ထက်ဝန်းကျင်အရပ်၌ အိမ်လုံးတောင်လုံးခန့်မျှလည်းကောင်း၊ ထို့ထက် ကြီးမားစွာလည်းကောင်း၊ ပျံ့နှံ့ ကွန့်မြူးလျက် အထူးကျက်သရေရှိပါပေသည်။ Hào quang màu đỏ đã phát ra; khi hào quang đỏ này tỏa ra, những sắc đỏ đáng tịnh tín—giống như màu thảm đỏ, màu ngọc đỏ gọi là "san hô", màu hoa sen đỏ hay màu quạt bằng ngọc ruby—đã lan tỏa rực rỡ và uy nghi khắp xung quanh Đức Phật với kích thước lớn như một ngôi nhà hay một ngọn núi. မဉ္ဇိဋ္ဌရောင်ခြည်တော်။ ။ မောင်းသော အဆင်းရှိသော မဉ္ဇိဋ္ဌရောင်ခြည်တော်များကား အဝါဖက်လည်းမကျ၊ အနီဖက်လည်းမကျ၊ နီကြင်ကြင် ဝါကြင်ကြင်ရှိသော ကိုယ်အင်္ဂါတော်၏ ထိုထိုအရပ်မှ ထွက်တော်မူကြသည်။ Hào quang màu tía (Mañjiṭṭha): Những luồng hào quang màu tía có sắc sậm, không hẳn nghiêng về vàng cũng không hẳn nghiêng về đỏ, phát ra từ những nơi có màu đỏ pha vàng trên thân thể. ဤမဉ္ဇိဋ္ဌရောင်ခြည် ထွက်တော်မူသောအခါ အချို့အရပ်တို့၌ရှိသော ထန်းကျင်ပင်၊ သို့မဟုတ် “နီပဆေး” ဟု ခေါ်အပ်သော သစ်ပင်၏အတွင်းသား အဆင်းကဲ့သို့ အဝါရင့်၊ ပန်းရောင်အစု၊ အနီနုသဏ္ဌာန် အင်မတန် ကြည်ညိုဖွယ်ကောင်းသော ရောင်ခြည်တော်တို့သည် ဘုရားရှင်၏ ထက်ဝန်းကျင်အရပ်တို့၌ အိမ်လုံး တောင်လုံးခန့်မျှလည်းကောင်း၊ ထို့ထက် ကြီးမားစွာလည်းကောင်း၊ အနှံ့အပြား ကွန့်မြူးလျက် အထူးကျက်သရေရှိပါပေသည်။ Khi hào quang tía này tỏa ra, những luồng hào quang vô cùng đáng tịnh tín—có hình thái như màu vàng đậm, màu hồng hay màu đỏ nhạt, giống như màu gỗ bên trong của cây thốt nốt hay loại cây gọi là "Nī-pa-say"—đã lan tỏa rực rỡ và uy nghi khắp xung quanh Đức Phật với kích thước lớn như một ngôi nhà hay một ngọn núi. ပဘဿရရောင်ခြည်တော်။ ။ ပြိုးပြိုးပြက်ထွက်သော “ပဘဿရ” ရောင်ခြည်တော်၏ အဆင်းကား ရှေ့ရောင်ခြည်တော် ငါးသွယ်၏ အဆင်းပင်ဖြစ်သည်။ Hào quang rực rỡ (Pabhassara): Sắc thái của luồng hào quang "Pabhassara" vốn phát ra lóng lánh chính là sự tổng hợp màu sắc của năm loại hào quang phía trước. ထွက်တော်မူပုံ ထူးသောကြောင့် ရောင်ခြည်တော်တစ်ပါးဟု ခွဲထားရသည်။ ရှေ့ရောင်ခြည်တော်များမှာ Vì cách thức phát ra đặc biệt nên được phân loại thành một loại hào quang riêng biệt. Các loại hào quang phía trước thì... TRANG 10 အဆက်မပြတ်ဘဲ အိမ်လုံး တောင်လုံးခန့် စသည်ဖြင့် ကြီးကြီးမားမား ကျယ်ဝန်းစွာ ပျံ့နှံ့ကွန့်မြူးလျက် ထွက်တော်မူကြသည်။ → Các tia sáng tỏa ra, lan rộng và nhảy múa một cách to lớn và vĩ đại như kích thước của những ngôi nhà hay những ngọn núi mà không hề đứt đoạn. ဥပမာ-ညိုသောရောင်ခြည်တော်ဆိုလျှင် လကွယ်သန်းခေါင် အခါ၌ ညိုမှောင်နေသကဲ့သို့ တစ်ဆက်တည်း ညိုမှောင်နေသည်။ → Ví dụ, nếu là tia sáng màu xanh sẫm, nó sẽ là một màu xanh sẫm liên tục giống như sự tối tăm của đêm ba mươi vào lúc nửa đêm. ဤ “ပဘာသရ” ရောင်ခြည်တော်ကား တစ်ဆက်တည်းမဟုတ်၊ ကောင်းကင်ဝယ် လျှပ်စစ်ပြတ်သလို ပြိုးခနဲ ပြတ်ခနဲ လက်ခနဲဖြစ်ကာ အရောင်အမျိုးမျိုးဖြာလျက် တစ်မျိုးအားဖြင့် ကျက်သရေရှိအောင် ထွက်တော်မူကြသည်။ → Luồng hào quang "Pabhassara" (Pali: Pabhassara - sáng chói) này không phải là một dải liên tục, mà nó tỏa ra các loại màu sắc rực rỡ một cách trang nghiêm. ဤကဲ့သို့ လင်းခနဲ လက်ခနဲနှင့် ပြိုးပြိုးပြတ် ထွက်တော်မူရာဝယ် “ပိုးစုန်းကြူး” ဟု ခေါ်အပ်သော ပိုးကောင်ကလေးများ ညအခါ၌ လက်သလို သေးသေးသိမ်သိမ် မဟုတ်။ → Khi tỏa sáng lấp lánh và rực rỡ như thế này, nó không nhỏ bé li ti như ánh sáng của loài côn trùng nhỏ gọi là "đom đóm" vào ban đêm. မှန်အပြင် ကြေးမုံအပြင်ပေါ်မှာ လရောင် ဓာတ်မီးရောင်ဟပ်သကဲ့သို့ ကတ်ကတ်သတ်သတ် မထင်မရှားဖြင့် မလင်းတလင်းမျိုးလည်း မဟုတ်၊ ကြီးကြီးမားမား ထင်ရှားစွာ ထွက်တော်မူပေသည်။ → Nó cũng không phải kiểu ánh sáng mờ ảo, không rõ ràng như ánh trăng hay ánh đèn pin phản chiếu trên bề mặt gương, mà nó tỏa ra một cách vĩ đại và hiển nhiên. ရောင်ခြည်တော်ပြဿနာ။ ။ပြခဲ့သည့်အတိုင်း “ရောင်ခြည်တော်” ဟူသည် ဘုရားရှင်၏ ကိုယ်ခန္ဓာ၌တည်ရှိသော အဆင်းတော်နှင့်တူစွာ အတွင်းစိတ်တော်၏ ကြည်လင်သန့်ရှင်းမှုကြောင့် တန်ခိုးဣဒ္ဓိပါဒ်တော်အစွမ်းဖြင့် အဆက်ဆက် ဖြာ၍ထွက်သော အရောင်များပင်ဖြစ်သည်။ → Vấn đề về hào quang: Như đã trình bày, "hào quang" chính là những luồng sáng tỏa ra liên tục nhờ vào năng lực thần thông (Pali: Iddhipāda) và sự thanh tịnh, trong sáng của tâm nội tại, tương ứng với sắc thân của Đức Thế Tôn. ယခုအခါ၌ လရောင် ဓာတ်မီးရောင်စသည်တို့ ဟတ်သဖြင့် ဘုရားရှင်နှင့်စပ်သော အရာဝတ္ထုများ၌ တစ်ခုခု အရောင်ကလေးတွေ့လျှင် “တကယ် ရောင်ခြည်တော်ပဲ” ဟု ပြောကြဆိုကြ ကောလာဟလဖြစ်နေကြသည်မှာ ဘာသာခြားလူမျိုးတို့ ပြက်ရယ် ပြောင်လှောင်စရာ ဖြစ်သောကြောင့် အဆင်ခြင်နည်းပါးသူ အချို့လူများအတွက် ဘုရားရှင်ကိုယ်တော်မြတ်မှာ ဂုဏ်တော်မတက်ဘဲ ဂုဏ်ပျက်ဖွယ်သာရှိသဖြင့် ဝမ်းနည်းဖွယ်ကောင်းလှချေသည်။ → Hiện nay, khi thấy bất kỳ ánh sáng nào trên các vật dụng liên quan đến Đức Phật do ánh trăng hay ánh đèn phản chiếu, người ta lại đồn thổi rằng "đó thật sự là hào quang", điều này gây ra sự chế nhạo từ những người ngoại đạo; đối với những người thiếu suy xét, điều này không làm tăng thêm uy đức mà còn có thể làm tổn hại đến danh tiếng của Đức Thế Tôn, thật là đáng buồn thay. TRANG 11 မင်းတုန်းမင်းတရားကြီး လက်ထက်က ရွှေပြည်များ၏ ပယောဂဖြင့် မန္တလေး မဟာမြတ်မုနိရုပ်ပုံတော်မှ ခဏခဏ ရောင်ခြည်တော် လွှတ်နေကြောင်းကို မင်းတုန်းမင်းတရားကြီး ကြားသိတော်မူ၍ “ယနေ့ကစပြီး ဘုရားက ရောင်ခြည်တော် မလွှတ်စေနှင့်” ဟု တားမြစ်ရဖူးသတဲ့။ → Có chuyện kể rằng dưới thời vua Mindon, do sự tác động của những người ở Shwe Pyi, có tin đồn hào quang thường xuyên tỏa ra từ tượng Phật Mahamuni ở Mandalay; khi vua Mindon nghe thấy, ông đã từng phải ra lệnh cấm rằng "Từ nay về sau đừng để Phật tỏa hào quang nữa". မိလိန္ဒမင်းအား အရှင်နာဂသိန် ဖြေပုံ → Cách Trưởng lão Nagasena trả lời vua Milinda. ဤနေရာဝယ် စေတိယပဋိဟာရိယ အခန်း၌ မိလိန္ဒမင်းအား အရှင်နာဂသိန် မိန့်တော်မူပုံကို မှတ်သားသင့်၏။ → Tại đây, trong chương về Tháp Diệu (Cetiya-pāṭihāriya), cần ghi nhớ cách Trưởng lão Nagasena (Pali: Nāgasena) đã thuyết giảng cho vua Milinda (Pali: Milinda). အရှင်နာဂသိန်။ ။မဟာရာဇာ-အကြောင်း ၃-မျိုးတွင် တစ်မျိုးမျိုးကြောင့် စေတီတော်မှ ရောင်ခြည်တော်စသော တန်ခိုးများကို ဖူးမြင်ကြရသည်။ → Trưởng lão Nagasena: "Tâu Đại vương, do một trong ba nguyên nhân sau đây mà người ta có thể chiêm bái được các thần thông như hào quang tỏa ra từ bảo tháp (Pali: Cetiya)." (၁) ရဟန္တာတစ်ပါးသည် ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မမူမီကပင် လူနတ်တို့ကို သနားတော်မူသောကြောင့် “ငါ၏ အရိုးဓာတ် ဌာပနာရာစေတီတော်မှ မည်သည့်တန်ခိုးမျိုး ထွက်ပေါ်ရစေသတည်း” ဟု အဓိဋ္ဌာန်တော်မူတတ်၏။ → (1) Một vị A-la-hán (Pali: Arahant) trước khi nhập Niết-bàn, vì lòng bi mẫn đối với nhân thiên, thường phát nguyện rằng: "Nguyện cho loại thần thông này, thần thông kia sẽ hiện khởi từ bảo tháp nơi tôn thờ xá lợi cốt tủy của ta." ထိုအဓိဋ္ဌာန်တော်မူချက်ကြောင့်လည်း စေတီတော်မှ ရောင်ခြည်တော်စသော တန်ခိုးများ ပေါ်ထွက်တတ်ပေသည်။ → Và cũng chính nhờ năng lực của lời phát nguyện (Pali: Adhiṭṭhāna) đó mà các thần thông như hào quang tỏa ra từ bảo tháp. (၂) သာသနာအကျိုးကို များစွာလိုလားသော နတ်တို့သည် “စေတီတော်၌ တန်ခိုးပြရလျှင် သာသနာတော်ကို ပိုမို၍ ကြည်ညိုကြလိမ့်မည်၊ ကြည်ညိုသူတို့မှာ ကုသိုလ်တရားတို့ပွားလိမ့်မည်” ဟု ကောင်းမြတ်သောဆန္ဒဖြင့် တန်ခိုးပြတတ်ကြ၏။ → (2) Những vị Chư thiên (Pali: Deva) tha thiết mong cầu lợi ích cho Giáo pháp, với tâm nguyện cao thượng rằng "Nếu hiển thị thần thông tại bảo tháp, người dân sẽ càng thêm tin kính Giáo pháp, và thiện pháp của người tin kính sẽ được tăng trưởng", nên họ hiển thị thần thông. TRANG 12 ထိုသို့ နတ်များ၏ တန်ခိုးပြမှုကြောင့်လည်း စေတီတော်မှ တန်ခိုးပေါ်ထွက်တတ်ပေသည်။ → Do sự hiển thị thần thông của các chư thiên như vậy, nên thần thông cũng có thể xuất hiện từ bảo tháp. (၃) သဒ္ဓါတရား ထက်သန်သော အမျိုးသား အမျိုးသမီး လူကြီး လူကောင်းတို့သည် ပန်း၊ နံ့သာ၊ အဝတ်စသော လှူဖွယ်ဝတ္ထုများကို စေတီတော်သို့ တင်လှူလျက် “မည်သည့် တန်ခိုးများ ပြပါစေသား” ဟု အဓိဋ္ဌာန်တတ်ကြ၏။ → (3) Những người thiện nam, tín nữ, những bậc hiền trí có đức tin (Pali: Saddhā) mạnh mẽ, khi dâng cúng các lễ vật như hoa, hương, y phục lên bảo tháp, thường phát nguyện rằng "Nguyện xin hãy hiển thị những thần thông này, thần thông kia". ထိုသို့ သဒ္ဓါထက်သန်သူတို့၏ ထူးခြားသော အဓိဋ္ဌာန်မှုကြောင့်လည်း စေတီတော်မှ တန်ခိုးထွက်ပေါ်တတ်ပေသည်။ ဤသို့ မိလိန္ဒမင်းအား အရှင်နာဂသိန် မိန့်တော်မူသည်။ → Chính nhờ sự phát nguyện đặc biệt của những người có đức tin mãnh liệt đó mà thần thông tỏa ra từ bảo tháp. Trưởng lão Nagasena đã thuyết giảng cho vua Milinda như vậy. ဤအမိန့်တော်ကို ထောက်ထားလျှင် ဘုရားရှင်နှင့် ရဟန္တာများ၏ အထူး အဓိဋ္ဌာန်ထားချက်မရှိသော စေတီတော်မှ ရောင်ခြည်တော်များ ထွက်ဖို့ရန် မဖြစ်နိုင်။ → Nếu dựa trên lời thuyết giảng này, thì đối với những bảo tháp không có sự phát nguyện đặc biệt của Đức Phật hay các vị A-la-hán, việc hào quang tỏa ra là điều không thể. အကယ်၍ ရောင်ခြည်တော် ထွက်ရိုးမှန်လျှင်လည်း ဆိုင်ရာနတ်များက ဆောင်ပြင်ခြင်းသာ ဖြစ်ရာ၏။ → Nếu hào quang thực sự tỏa ra, thì đó chỉ có thể là do các vị chư thiên hữu quan thực hiện. ဘုရားရှင်၏ အဓိဋ္ဌာန်တော်မူချက်ကြောင့် မဟာဗောဓိပင်မှလည်းကောင်း၊ အရိုးဓာတ်တော်များမှလည်းကောင်း၊ ရောင်ခြည်တော်များ ခမ်းနားစွာ ကွန့်မြူးကြောင်း၊ သာသနာကွယ်သောအခါ ဓာတ်တော်အားလုံး စုရုံး၍ ဘုရားပွင့်တော်မူရာ မူလမဟာဗောဓိပင်သို့ ကြွတော်မူပြီးလျှင် ရောင်ခြည်တော်များ ကွန့်မြူးကြလိမ့်မည် အကြောင်းမျှသာ ကျမ်းဂန်၌ လာသည်။ → Trong kinh điển chỉ ghi lại rằng, do năng lực phát nguyện của Đức Phật, hào quang tỏa rạng rỡ từ cây Đại Bồ Đề (Pali: Mahābodhi) và từ các xá lợi (Pali: Dhātu); và khi Giáo pháp biến mất, tất cả xá lợi sẽ tập hợp lại, đi đến gốc cây Đại Bồ Đề nơi Phật thành đạo và khi đó hào quang sẽ rực rỡ tỏa lan. ထို့ကြောင့် ရုပ်ပွားစေတီတော်များမှထွက်သော ရောင်ခြည်တော်ကို ဖူးရသည် ဖြစ်စေ၊ မဖူးရသည်ဖြစ်စေ ဤရောင်ခြည်တော်ဖွင့် ဘုရားရှိခိုးမှာလာသည့်အတိုင်း သက်တော်ထင်ရှား ဘုရားရှင်၏ ထက်ဝန်းကျင်ဝယ် အလွန် ကြည်ညိုဖွယ်ကောင်းသော ရောင်ခြည်တော် ခြောက်သွယ်တို့၏ စံပယ် ကွန့်မြူးနေပုံကို စိတ်ကူးဉာဏ်ဖြင့် မှန်းဆ၍ မိမိတို့ အိမ်မှာဖြစ်စေ၊ စေတီတော် ဆင်းတုတော် အနီးအပါးမှာဖြစ်စေ၊ ဘုရားအာရုံပြုရင်း ရောင်ခြည်တော်များ ထွက်တော်မူနေပုံကို ထင်ယောင် မြင်ယောင် ဖြစ်လာအောင် ကြိုးစားကြပါ။ → Do đó, dù có được chiêm bái hào quang tỏa ra từ các tượng Phật hay bảo tháp hay không, hãy theo nội dung bài kinh lễ bái hào quang này mà dùng trí tưởng tượng để hình dung ra sự tỏa sáng rực rỡ của sáu luồng hào quang vô cùng đáng kính xung quanh Đức Phật khi Ngài còn tại thế; dù là ở nhà hay bên cạnh bảo tháp, tượng Phật, hãy nỗ lực hướng tâm về Phật để có thể cảm nhận và thấy rõ như thể hào quang đang tỏa ra. သူကငါက လုပ်၍ပြသော အတုရောင်ခြည်များကို ဘုရားရောင်ခြည်တော်ဟု မထင်မှတ်ပါစေနှင့်။ → Đừng lầm tưởng những thứ ánh sáng giả tạo do người này người kia tạo ra là hào quang của Đức Phật. TRANG 13 စေတီတော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Bài kệ xưng tụng bảo tháp (Để học thuộc lòng). စရံ ယော ယဒိဝါ တိဋ္ဌံ၊ နိသိန္နော ဥဒဝါ သယံ။ နိဗ္ဗာယံ ဓာတုဘာဝေန၊ ဟိတံ သတ္တောနမာစရေ။ → (Pali Roman: Caraṃ yo yadivā tiṭṭhaṃ, nisinno udavā sayaṃ. Nibbāyaṃ dhātubhāvena, hitaṃ sattānamācare.) → Ngài, vị khi đang đi, hoặc khi đang đứng, khi đang ngồi, hoặc khi đang nằm; ngay cả khi đã nhập Niết-bàn dưới hình thức các xá lợi, vẫn luôn thực hiện những điều lợi ích cho chúng sinh. ယော ဘဂဝါ-အကြင် ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်။ → (Pali: Yo Bhagavā) - Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của những vinh quang vàng son ấy. (hào quang phước báu cao thượng ấy.) စရံ ဝါ-သံဃာတော်များ၊ ရှေ့တော်များက၊ ကြွသွားထို၍၊ စက်တော်ချီလျက်လည်းကောင်း၊ → (Pali: Caraṃ vā) - Khi Ngài đang đi hành quân (bước đi) cùng các tăng chúng hoặc đi (với tăng chúng đi) phía trước. ယဒိ ဝါ တိဋ္ဌံ-မကြွမသွား၊ ရွှေတောင်လားသို့၊ မားမားမတ်မတ်၊ ရပ်တော်မူလျက် လည်းကောင်း၊ → (Pali: Yadi vā tiṭṭhaṃ) - Khi Ngài không đi, mà đứng vững vàng hùng vĩ như núi vàng. နိသိန္နော-ပရိသတ်အလယ်၊ ရောင်ခြောက်သွယ်ဖြင့်၊ ထက်ဝယ်ဖွဲ့ခွေ၊ ထိုင်နေတော်မူလျက်လည်းကောင်း၊ → (Pali: Nisinno) - Khi Ngài đang ngồi kiết già giữa đại chúng với sáu luồng hào quang. ဥဒဝါ သယံ-အမေးပုစ္ဆာ၊ ဖြေရှင်းကာဖြင့်၊ ညဉ့်ခါကျောင်းပေါ်၊ လျောင်းတော်မူလျက်လည်းကောင်း၊ → (Pali: Udavā sayaṃ) - Hoặc khi Ngài đang nằm nghỉ tại tinh xá vào ban đêm sau khi đã giải đáp các câu hỏi. နိဗ္ဗာယံ-ဝါလေးဆယ့်ငါး၊ သက်တော်အားဖြင့်၊ ကြီးမားလေဘိ၊ ရှစ်ဆယ်ပြည့်၍၊ ပရိနိဗ္ဗာန်၊ ဝင်စံတော်မူခါနီးသည်ရှိသော်၊ → (Pali: Nibbāyaṃ) - Khi Ngài đã trải qua bốn mươi lăm hạ, thọ mạng đã lớn tròn đầy tám mươi tuổi, và sắp sửa nhập Niết-bàn. ဓာတုဘာဝေန-နောင်ခါစင်စစ်၊ ကိုးကွယ်ရပ်ဖို့၊ အနှစ်အမွေ၊ ဓာတ်တော်အနေဖြင့်လည်းကောင်း၊ → (Pali: Dhātubhāvena) - Và ngay cả dưới hình thức các xá lợi, vốn là tinh hoa kế thừa để chúng sinh nương tựa về sau. သတ္တာနံ-သုံးတိုက်ဝေနေ၊ ဗိုလ်ခြေများစွာ၊ သတ္တဝါတို့၏၊ → (Pali: Sattānaṃ) - Của các chúng sinh, đông đảo hữu tình trong ba cõi. ဟိတံ-လူ့ရွာနတ်ဌာန၊ နိဗ္ဗာန်အထိ၊ ချမ်းသာရှိကြောင်း၊ ကောင်းသောအစီးအပွားကို၊ → (Pali: Hitaṃ) - Những lợi ích tốt đẹp, những điều mang lại hạnh phúc từ cõi người, cõi trời cho đến Niết-bàn. အာစရေ-ရင်သွေးရာဟု၊ ပမာရှုလျက်၊ အမှုသင့်စွာ၊ ပြုကျင့်ပါပေသည်တကား။ → (Pali: Ācare) - Ngài đã thực hành một cách phù hợp, với lòng thương xót như đối với con trai Rahula của mình vậy. TRANG 14 ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét ဘုရားရှင်သည် “သတ္တဝါအများကို သံသရာဝဲမှ ကယ်တင် တော်မူမည်” ဟု ရည်ရွယ်တော်မူပြီးလျှင် ဘုရားဖြစ်ဖို့ရန် ပါရမီတော်များကို ဖြည့်ကျင့်တော်မူခဲ့သည့် အားလျော်စွာ ဘုရားဖြစ်သောအခါ တည်နေရမည့် အသက်တမ်းကာလလည်း လွန်စွာတိုလှ၍၊ သတ္တဝါများ၏ သန္တာန်မှာလည်း တရားကင်းမဲ့လှသဖြင့် လေးဆယ့်ငါးနှစ်ပတ်လုံး နေ့စဉ်နှင့်အမျှ အားလပ်ခွင့်ရ တော်မူဘဲ သတ္တဝါတို့၏အကျိုးကို ပြုကျင့်ရင်း အချိန်ကုန်စေတော်မူပါသည်။ → Đức Thế Tôn, sau khi định hướng rằng “Sẽ cứu vớt nhiều chúng sinh ra khỏi vòng xoáy sinh tử”, đã thực hành các ba-la-mật (Pali: Pāramī) để trở thành Phật; tương ứng với điều đó, khi thành Phật, vì tuổi thọ phải trụ lại quá ngắn ngủi và tâm tính chúng sinh lại quá rời xa giáo pháp, nên trong suốt bốn mươi lăm năm, Ngài đã dành trọn thời gian thực hiện lợi ích cho chúng sinh mà không hề có kỉ nghỉ ngơi hằng ngày. (không có thời gian rảnh rỗi) နေ့အချိန်။ ။ဆွမ်းဘုဉ်းပေးတော်မူမီ ဆွမ်းခံကြွတော်မူရင်းလည်း လူအပေါင်းကို သင့်လျော်အောင် ဟောပြောဆုံးမတော်မူရ၏။ → Thời gian ban ngày: Trước khi thọ thực, trong khi đi khất thực, Ngài cũng phải thuyết giảng và giáo huấn sao cho phù hợp với mọi người. ဆွမ်းဘုဉ်းပေးတော်မူပြီးနောက် ရဟန်းသံဃာတော်များ ဆည်းကပ်လာကြသောအခါ ဆုံးမဩဝါဒနှင့် ကမ္မဋ္ဌာန်းတရားကို ပေးတော်မူရ၏။ → Sau khi thọ thực xong, khi các chư Tăng đến diện kiến, Ngài phải ban lời giáo huấn (Pali: Ovāda) và đề mục thiền định (Pali: Kammaṭṭhāna). ထို့နောက် ရဟန်းများ ပြန်ကြကြသဖြင့် ခေတ္တမျှကိန်းအောင်း တော်မူပြီး၍ ထတော်မူသောအခါ တစ်လောကလုံးကို သိမ်းကျုံး လျက် ချေချွတ်သင့်သော သတ္တဝါအများကို ကြည့်ရှုတော်မူရ၏။ → Sau đó, khi các vị Tăng đã ra về, Ngài nghỉ ngơi trong chốc lát; khi thức dậy, Ngài quan sát khắp thế gian để xem xét những chúng sinh nào có đủ duyên lành cần được tế độ. ထို့နောက် ဆိုင်ရာမြို့ရွာများမှ ရောက်လာသော လူပရိသတ်ကို တရားဟောတော်မူရ၏။ → Tiếp theo, Ngài phải thuyết pháp cho hội chúng cư sĩ đến từ các thị trấn và làng mạc liên quan. ထို့နောက် ညနေစောင်း၍ လူအများ ပြန်သွားသောအခါ ရေသုံးသပ်တော်မူပြီးလျှင် ခေတ္တခဏနားနေ တော်မူစဉ် နေဝင်လေ၏။ → Sau đó, khi trời về chiều và mọi người đã ra về, Ngài tắm rửa sạch sẽ và trong khi đang nghỉ ngơi tạm thời thì mặt trời lặn. ညဉ့်အချိန်။ ။နေဝင်ပြီးနောက် ညဉ့်ဦးယံအခါ၌ ရောက်လာသော ရဟန်းတော်များတွင် အချို့က ကမ္မဋ္ဌာန်းတောင်း၊ အချို့က ပုစ္ဆာလျှောက်၊ အချို့ကလည်း တရားတောင်းလေရာ အားလုံး၏ → Thời gian ban đêm: Sau khi mặt trời lặn, vào canh đầu của đêm, trong số các vị Tăng đến diện kiến, có vị thì xin đề mục thiền định, có vị thì thưa hỏi thắc mắc, có vị thì cầu thỉnh nghe pháp; đối với tất cả TRANG 15 အလိုဆန္ဒကို ပြည့်ဝစေလျက် ညဉ့်ဦးယံကို ကုန်စေတော်မူပါသည်။ → Ngài làm cho ý nguyện của họ được thành tựu và dành trọn canh đầu của đêm như vậy. သန်းခေါင်ယံအခါ ရဟန်းတော်များ ပြန်ကြ၍ မကြာမီပင် လူခြေတိတ်ချိန်မှာ စကြာဝဠာတစ်သောင်းမှ အချို့သော နတ်ဗြဟ္မာ အပေါင်းတို့ လာရောက်၍ ပုစ္ဆာမေးကြ၊ တရားတောင်းပန်ကြပြန်ရာ ဖြေရှင်းရင်း ဟောပြောတော်မူရင်းဖြင့်ပင် သန်းခေါင်ယံအချိန်ကို ကုန်လွန်စေတော်မူ၏။ → Vào lúc nửa đêm, không lâu sau khi các vị Tăng ra về và không gian đã yên tĩnh, các vị Chư thiên (Pali: Deva) và Phạm thiên (Pali: Brahmā) từ mười ngàn thế giới đến để thắc mắc và cầu pháp; Ngài vừa giải đáp vừa thuyết giảng cho đến khi hết thời gian nửa đêm. မိုးသောက်ယံအခါ။ ။မိုးသောက်ယံအခါကို သုံးပိုင်း ပိုင်း၍ ရှေ့ဦးတစ်ပိုင်းအချိန်၌ စင်္ကြံကြွတော်မူ၏။ → Thời gian canh cuối: Thời gian canh cuối được chia làm ba phần, vào phần đầu tiên Ngài đi kinh hành (Pali: Caṅkama). အလယ်ပိုင်း၌ ကိန်းစက်တော်မူပြီးလျှင် အရုဏ်မတက်ခင် ခပ်စောစောအပိုင်း၌ ရှေးရှေးသော သာသနာက ဖြည့်ကျင့်ခဲ့၍ ကောင်းမှုပါရမီ စုံညီပြည့်ဝသဖြင့် ချေချွတ်သင့် သူတို့ကိုကြည့်ရှု ဆင်ခြင်တော်မူ၏။ → Vào phần giữa Ngài nằm nghỉ, sau đó vào phần sớm trước khi rạng đông, Ngài quan sát và xem xét những người đã từng tu tập trong các giáo pháp trước đây, nay phước báu ba-la-mật đã đầy đủ và xứng đáng được tế độ. ထို့နောက် အလင်းရောက်၍ အချိန်ကျက ဆွမ်းခံကြွတော်မူရ၏။ → Sau đó, khi ánh sáng xuất hiện và đến giờ, Ngài phải đi khất thực. ဤသို့လျှင် ရင်သွေးတော် ရာဟုလာနှင့်မခြားဘဲ သတ္တဝါအများကို သနားတော်မူသဖြင့် သတ္တဝါတို့၏ အကျိုးကိုသာ အမြဲပြုကျင့်တော်မူပေသည်။ → Như vậy, với lòng bi mẫn đối với chúng sinh không khác gì đối với người con đẻ Rahula, Ngài luôn luôn thực hiện lợi ích cho chúng sinh. ကြွချီတော်မူပုံ။ ။နောက်တော်ပါ သံဃာတော်များ၏ ရှေ့တော်က စက်လက္ခဏာတို့ဖြင့် တင့်တယ်သော ခြေတော်ကို ကြွချီလျက် ထိုထိုဤဤ ဒေသစာရီ လှည့်လည်တော်မူရင်းလည်း ဝေနေယျတို့၏ အကျိုးသည်ပိုးဆောင်ရွက်တော်မူ၏။ → Pháp tướng khi bộ hành: Đi phía trước các vị Tăng theo sau, Ngài bước đi với bàn chân thanh cao mang các tướng luân (Pali: Cakka), trong khi du hành phương này phương nọ (Pali: Desacārī), Ngài vẫn gánh vác thực hiện lợi ích cho những người hữu duyên (Pali: Veneyya). ထို့ကြောင့် ယခုအခါ ကြွသွား တော်မူပုံ ရေးသားထုလုပ်ထားအပ်သော ရုပ်ပုံ၊ ရုပ်ပွားဆင်းတုတော်များကို ဖူးရသည်ရှိသော် ရုပ်ပွားတော်လောက်သာ စိတ်မထားဘဲ (မိမိအိမ်၌ မိဘဘိုးဘွားတို့၏ ဓာတ်ပုံကိုမြင်ရလျှင် ဓာတ်ပုံတွင်က → Do đó, hiện nay khi được chiêm bái những hình ảnh, pho tượng được vẽ hoặc tạc theo tư thế bộ hành, đừng chỉ giữ tâm niệm đó là pho tượng (giống như khi nhìn thấy bức ảnh của cha mẹ ông bà tại nhà, không phải chỉ ở trong ảnh TRANG 16 အသက်ရှင်တုန်းက မိဘဘိုးဘွားကိုပါ တစ်ခါတည်း သတိရလျက် ပြောဆိုဆုံးမပုံတွေပါ ထင်ယောင် မြင်ယောင် ဖြစ်လာသကဲ့သို့) သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရား၏ ကြွသွားတော်မူပုံကိုပါ ထင်ယောင်မြင်ယောင် ဖြစ်လာစေလျက် နှစ်သက်ကြည်နူးစွာ ဖူးမြော်ကြပါ။ → mà đồng thời nhớ lại cha mẹ ông bà lúc còn sống, hiện lên rõ ràng cả những lúc họ giáo huấn), hãy chiêm bái với lòng hân hoan thành kính, làm cho hình ảnh Đức Thế Tôn lúc còn tại thế đang bộ hành hiện lên rõ ràng trong tâm trí. ရပ်တော်မူပုံ။ ။ကြွသွားတော်မူဘဲ ရွှေတောင်ကြီးအလား ကဲ့သို့ မားမားမတ်မတ် တန့်ရပ်တော်မူလျက်လည်း ဝေနေယျတို့၏ အကျိုးစီးပွားကို သည်ပိုးရွက်ဆောင်တော်မူ၏။ → Pháp tướng khi đứng: Khi không di chuyển mà đứng vững vàng hùng vĩ như một ngọn núi vàng, Ngài vẫn gánh vác thực hiện lợi ích và sự thịnh vượng cho những người hữu duyên. ထို့ကြောင့် ယခုအခါ ရပ်တော်မူနေပုံကို ရေးသားထုလုပ်အပ်သော ရုပ်ပုံ၊ ရုပ်ပွားဆင်းတုတော်များကို ဖူးမြော်ရသည်ရှိသော် သက်တော်ထင်ရှား ဘုရားရှင်ကိုယ်တော်မြတ်က ရပ်တော်မူလျက် မိမိအား ဆုံးမတော်မူနေပုံကို ထင်ယောင် မြင်ယောင်ဖြစ်လာအောင် အလွန်ရိုသေစွာ ဖူးမြော်ကြပါ။ → Vì vậy, hiện nay khi chiêm bái những hình ảnh, pho tượng được vẽ hoặc tạc theo tư thế đứng, hãy chiêm bái với sự tôn kính sâu sắc, làm sao để hình ảnh Đức Thế Tôn lúc còn tại thế đang đứng giáo huấn chính mình hiện lên rõ ràng trong tâm trí. ထိုင်နေတော်မူပုံ။ ။ပရိသတ်အလယ်မှာ ရောင်ခြည်တော် ခြောက်သွယ်ကို တစ်ခါတစ်ရံ လွှတ်တော်မူပြီးလျှင် ထက်ဝယ်တင် ပလ္လင်ဖွဲ့ခွေတော်မူလျက်လည်း တရားဟောပြောကာ သတ္တဝါအများ၏အကျိုးကို သည်ပိုးရွက်ဆောင်တော်မူခဲ့ပါသည်။ → Pháp tướng khi ngồi: Ở giữa hội chúng, đôi khi tỏa ra sáu luồng hào quang, trong khi ngồi kiết già (Pali: Pallaṅka), Ngài thuyết pháp và gánh vác thực hiện lợi ích cho nhiều chúng sinh. ထို့ကြောင့် ယခုအခါ တင်ပလ္လင်ခွေ ထိုင်နေတော်မူပုံကို ရေးသားထုလုပ် အပ်သော ရုပ်ပုံ၊ ရုပ်ပွားဆင်းတုတော်များကို ဖူးမြော်ရသည်ရှိသော် ရုပ်ပွားတော်လောက်တွင်သာ စိတ်မထားဘဲ သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရား၏အနီး၌ တရားဓမ္မသြဝါဒတော်ကို နာကြားနေရ သကဲ့သို့ ထင်မြင်လာအောင် ဖူးမြော်ကြပါ။ → Do đó, hiện nay khi chiêm bái những hình ảnh, pho tượng được vẽ hoặc tạc theo tư thế ngồi kiết già, đừng chỉ giữ tâm niệm ở mức độ pho tượng, mà hãy chiêm bái sao cho cảm thấy như thể đang được lắng nghe lời giáo huấn pháp bảo (Pali: Dhamma-ovāda) ngay bên cạnh Đức Thế Tôn lúc còn tại thế. TRANG 17 လျောင်းတော်မူပုံ။ ။ညဉ့်အခါ ဂန္ဓကုဋိတိုက်တော်ဝယ် ရံဖန်ရံခါ လျောင်းတော်မူလျက်လည်း နတ်ဗြဟ္မာများ၏ လျှောက်ထားသမျှ ပုစ္ဆာတို့ကို ဖြေရှင်းဟောပြော၍ သတ္တဝါတို့၏အကျိုးကို ဆောင်တော်မူပါသည်။ → Pháp tướng khi nằm: Vào ban đêm, tại hương phòng (Pali: Gandhakuṭi), đôi khi trong khi đang nằm, Ngài vẫn giải đáp và thuyết giảng tất cả những câu hỏi thưa thỉnh của các Chư thiên và Phạm thiên để mang lại lợi ích cho chúng sinh. ထို့ကြောင့် ယခုအခါ “ရွှေသာလျောင်း” ဟု ခေါ်အပ်သော လျောင်းတော်မူပုံကို ဖူးမြော်ရသည်ရှိသော် သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရား၏ အမေးပုစ္ဆာများကို ဖြေရှင်းဟောပြောနေပုံကို ထင်မြင် လာအောင် ဖူးမြော်ကြပါ။ → Vì vậy, hiện nay khi chiêm bái pháp tướng nằm được gọi là "Shwethalyaung" (Tượng Phật nằm vàng), hãy chiêm bái sao cho hình ảnh Đức Thế Tôn lúc còn tại thế đang giải đáp các câu hỏi hiện lên rõ ràng. ဓာတ်မွေ့တော်များ။ ။ဘုရားရှင်သည် ၂၉-နှစ် အရွယ်တော်၌ တောထွက်တော်မူ၍ ၃၅-နှစ် အရွယ်မှာ ဘုရားဖြစ်တော်မူပြီးလျှင် သက်တော် ၈၀-ပြည့်မှာ ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူသောကြောင့် ဘုရားအဖြစ်၌ ဝါတော် ၄၅-ဝါမျှသာ သီတင်းသုံးတော်မူရသည်။ → Các xá lợi: Đức Thế Tôn xuất gia vào năm 29 tuổi, thành Phật vào năm 35 tuổi, và vì Ngài nhập Niết-bàn (Pali: Parinibbāna) khi tròn 80 tuổi, nên Ngài chỉ trụ thế trong cương vị Phật được 45 hạ (Pali: Vassa). ထို ၄၅-ဝါမျှဖြင့် ကာလမကြာရကား နောင်အခါ ဗုဒ္ဓသာသနာတော်ကို ယုံကြည်သူတို့ ကိုးကွယ်ရစ်ကြဖို့ရာ အမွေအနှစ်ပေးခဲ့သည့်အနေ အားဖြင့် ရှင်တော်မြတ်၏ အရိုးဓာတ်တော်များကို အစိတ်စိတ် အမွှာမွှာဖြစ်အောင် အဓိဋ္ဌာန်တော်မူခဲ့ပါသည်။ → Vì khoảng thời gian 45 hạ đó không dài, nên để lại di sản cho những người tin kính Phật giáo (Pali: Buddhasāsanā) về sau có nơi chiêm bái nương tựa, Ngài đã phát nguyện (Pali: Adhiṭṭhāna) cho các xá lợi xương của Ngài được phân chia thành nhiều phần nhỏ. [သက်တော်ရှည်သော ဘုရားရှင်၏ အရိုးဓာတ်တော်ကား အစိတ်စိတ်အမွှာမွှာ မဖြစ်ဘဲ တစ်လုံးတစ်ခဲတည်း တည်ရစ်တော်မူ၏။] → [Đối với những vị Phật có tuổi thọ dài, xá lợi xương của các Ngài không phân chia thành nhiều phần mà tồn tại thành một khối duy nhất.] ထို့ကြောင့် ဓာတ်တော်များကို ဖူးမြော်ရသောအခါ၌လည်းကောင်း၊ ဓာတ်တော်များကို ဌာပနာ ထားသော စေတီပုထိုးတော်ကို ဖူးမြော်ရသောအခါ၌လည်းကောင်း၊ ဓာတ်တော် စေတီတော် → Do đó, khi được chiêm bái các xá lợi (Pali: Dhātu), hoặc khi được chiêm bái các bảo tháp (Pali: Cetiya) nơi tôn thờ xá lợi, [các xá lợi bảo tháp...] TRANG 18 လောက်တွင် စိတ်မထားဘဲ (မိဘဘိုးဘွား၏ အရိုး၊ သို့မဟုတ် အရိုးအိုးကို မြင်ရသောအခါ မိဘဘိုးဘွားများလည်း ထင်ယောင် မြင်ယောင် ဖြစ်လာသကဲ့သို့) သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရားကို ထင်မြင်လာစေလျက် နှစ်သက်ကြည်နူးစွာ ဖူးမြော်ကြပါ။ → (Tiếp theo trang 17) Đừng chỉ giữ tâm niệm ở mức độ đó, mà hãy chiêm bái với lòng hân hoan thành kính, làm cho hình ảnh Đức Thế Tôn lúc còn tại thế hiện lên rõ ràng (giống như khi nhìn thấy xương cốt hoặc hũ tro cốt của cha mẹ ông bà, thì hình ảnh của họ cũng hiện lên rõ ràng trong tâm trí như vậy). စေတီတော် ၄-ပါး။ ။(လူတို့၏ အမြတ်တနိုး ကိုးကွယ်ရာဌာနကို ပါဠိလို “စေတိယ” မြန်မာလို “စေတီ” ဟု ခေါ်သည်။) → Bốn loại Bảo tháp: (Nơi thờ tự được con người trân trọng kính ngưỡng, tiếng Pali gọi là “Cetiya”, tiếng Miến gọi là “Ceti”). မိမိတို့ အယူဝါဒ အားလျော်စွာ ကိုးကွယ်အပ်သော သစ်ပင်ကြီး၊ တောင်ကြီး၊ သဲပုံ၊ အုတ်ပုံ၊ ရုပ်တုဟူသမျှတို့ စေတီမည်ကြသည်သာ။ → Theo niềm tin riêng, tất cả những thứ như cây đại thụ, ngọn núi lớn, đống cát, đống gạch hay tượng đúc được thờ phụng thì đều được gọi là Bảo tháp. ထို့ကြောင့် ယခုအခါ မြန်မာနိုင်ငံ၌ အုတ်ပုံ သဲပုံများကိုသာ စေတီဟု ခေါ်ဝေါ်နေ ခြင်းသည် မစုံလင်သော ခေါ်ဝေါ်ခြင်းသာတည်း။ → Do đó, hiện nay ở Myanmar, việc chỉ gọi những đống gạch hay đống cát là Bảo tháp là cách gọi chưa đầy đủ. ထိုသို့ စေတီတော် အမျိုးမျိုး ရှိသည့်တွင် ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့ ကိုးကွယ်အပ်သောစေတီသည် ဓာတုစေတီ၊ ဓမ္မစေတီ၊ ဥဒ္ဒိဿစေတီ၊ ပရိဘောဂစေတီဟု ၄-မျိုးရှိ၏။ → Trong số các loại Bảo tháp đa dạng đó, có 4 loại Bảo tháp mà tín đồ Phật giáo thờ phụng là: Xá-lợi Bảo tháp (Dhātu-cetiya), Pháp Bảo tháp (Dhamma-cetiya), Đối chiếu Bảo tháp (Uddissa-cetiya) và Vật dụng Bảo tháp (Paribhoga-cetiya). ဓာတုစေတီတော်။ ။(ဘုရားရှင်ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူပြီးနောက် ကျန်ရှိ ရစ်သော အရိုးဓာတ်တော်များသည် ဓာတုစေတီမည်၏။) → Xá-lợi Bảo tháp (Dhātu-cetiya): (Những xá-lợi xương còn sót lại sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn được gọi là Xá-lợi Bảo tháp). အမွေအနှစ် အဖြစ်ဖြင့် ဘုရားရှင်ထားခဲ့တော်မူသောကြောင့် “ဓမ္မေတာ” ဟုလည်း ခေါ်ကြ၏။ အမွေအနှစ်တော်ဟု ဆိုလိုသည်။ → Vì được Đức Phật để lại như một di sản nên cũng được gọi là “Dhāmedā”, có nghĩa là di sản của Ngài. ထိုဓာတ်တော်များတွင် အကြီးဆုံးသည် ပဲနောက်ခြမ်းခန့်ရှိ၏။ အလတ်စားဓာတ်တော်မှာ ဆန်ကျိုး ဆန်ကွဲခန့်ရှိ၏။ အငယ်ဆုံး ဓာတ်တော်ကား မုန်ညင်းစေ့ခန့်ရှိသည်။ → Trong số các xá-lợi đó, hạt lớn nhất có kích thước khoảng nửa hạt đậu xanh. Hạt vừa có kích thước khoảng hạt gạo gãy. Hạt nhỏ nhất có kích thước khoảng hạt cải. ဓမ္မစေတီတော်။ ။(ဘုရားရှင်၏ တရားပိဋကတ်တော်များသည် ဓမ္မစေတီတော်မည်၏။) → Pháp Bảo tháp (Dhamma-cetiya): (Các tạng kinh điển giáo pháp của Đức Phật được gọi là Pháp Bảo tháp). ထိုပိဋကတ်တော်ဖြစ်သော တရားဓမ္မများသည် ရိုသေမြတ်နိုး ရှိခိုးကိုးကွယ်ရုံသာမက ထိုတရားတော်အတိုင်း ကျင့်ကြ → Những giáo pháp thuộc về tam tạng kinh điển này không chỉ để tôn kính, đảnh lễ và thờ phụng, mà còn để thực hành theo đúng giáo pháp đó... TRANG 19 ရသဖြင့် ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့အဖို့မှာ လွန်စွာအားကိုးလောက်သော စေတီတော်ပါပေတည်း။ → ...vì có thể thực hành được nên đối với các tín đồ Phật giáo, đây là loại Bảo tháp vô cùng đáng để nương tựa. ဥဒ္ဒိဿစေတီတော်။ ။ဥဒ္ဒိဿဟူသော ပါဠိသည် ရည်စူးအပ် ရည်ညွှန်းအပ်သော အရာဝတ္ထုကို ဟော၏။ → Đối chiếu Bảo tháp (Uddissa-cetiya): Từ Pali "Uddissa" chỉ những vật thể được dùng để hướng về hoặc tưởng niệm. ထို့ကြောင့် သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရားကို ရည်ညွှန်း၍ ဘုရားရှင်ပုံဟန်တော်၏ အတုပြုလုပ်အပ်သော ရုပ်တော်မူပုံ၊ ထိုင်တော်မူပုံ၊ လျောင်းတော်မူပုံကို ဥဒ္ဒိဿစေတီတော်ဟု မှတ်ပါ။ → Do đó, hãy ghi nhớ rằng những hình tượng được làm mô phỏng theo vóc dáng của Đức Phật như tượng đứng, tượng ngồi, tượng nằm để tưởng niệm Đức Thế Tôn lúc còn tại thế thì được gọi là Đối chiếu Bảo tháp. ထိုဥဒ္ဒိဿစေတီတော်များကို ရုပ်ပွားတော်၊ ဆင်းတုတော်ဟုလည်း အမည်ပေးကြသည်။ → Những Đối chiếu Bảo tháp đó cũng được đặt tên là tượng Phật (Rūppavā) hay hình tượng Phật (Sinn-tu). [ဘုရားရှင်၏ ရုပ်ပုံတော်ကို အတုပြု၍ထားသောကြောင့် “ရုပ်ပွားတော်” ဟုလည်းကောင်း၊ ဘုရားရှင်၏ အဆင်းသဏ္ဌာန် တော်ကို အတုပြုထားသောကြောင့် “ဆင်းတုတော်” ဟုလည်းကောင်း အမည်ပေးခြင်းတည်း။ ရုပ်ပွားတော် ဆင်းတုတော်မပါဘဲ စိတ်ထဲ၌သာ အာရုံပြု အပ်သော ပုံတော်ကိုလည်း “ဥဒ္ဒိဿစေတီတော်” ဟု ခေါ်နိုင် ပါသည်။] → [Được gọi là "Rūppavā" vì mô phỏng theo hình dáng của Đức Phật, và gọi là "Sinn-tu" vì mô phỏng theo sắc thái diện mạo của Ngài. Ngay cả khi không có hình tượng hay pho tượng mà chỉ là hình ảnh được quán tưởng trong tâm thì cũng có thể gọi là “Đối chiếu Bảo tháp”]. ပရိဘောဂစေတီတော်။ ။ဘုရားရှင်၏ အသုံးအဆောင်ကို ပါဠိလို “ပရိဘောဂ” ဟုခေါ်၏။ → Vật dụng Bảo tháp (Paribhoga-cetiya): Những đồ dùng của Đức Phật, tiếng Pali gọi là “Paribhoga”. ထို့ကြောင့် ဓာတ်တော်ဌာပနာထားသော အုတ်သား စေတီတော်၊ ရုပ်ပွားတော်ကိန်းဝပ်ရာဖြစ်သော ပြသာဒ် စသည်၊ ဗောဓိပင်၊ ဘုရားရှင်၏ အသုံးအဆောင်ဖြစ်သော သပိတ်၊ သင်္ကန်းများကို “ပရိဘောဂစေတီတော်” ဟု မှတ်ပါ။ → Do đó, hãy ghi nhớ rằng các bảo tháp bằng gạch có tôn thờ xá-lợi, các cung điện (Pyathat) nơi đặt tượng Phật, cây Bồ-đề (Bodhi), hay những đồ dùng của Đức Phật như bình bát và y sỉ (sỉ) đều là “Vật dụng Bảo tháp”. ဘုရား-ပုထိုး။ ။“ဘုရား-ပုထိုး” ဟူသော အသုံးအနှုန်းကို ယုဒယမှ ကူးစက်လာသော အသုံးဟု ကြံကြ၏။ → Phật - Bảo tháp (Paya-Patho): Thuật ngữ “Paya-Patho” được cho là cách dùng từ được truyền sang từ vùng Ayutthaya (Thái Lan). ယုဒယလူမျိုးများက ဆင်းတု စေတီတော်များကို စာရေးသောအခါ “ဝရား-ဗုဒ္ဓေါ” ဟုရေး၍ ဖတ်သော အခါ “ဖရား-ဗုတ်ထိုး” ဟု အသံထွက်၏။ ထိုအသံထွက်ကိုလိုက်၍ မြန်မာ တို့က “ဘုရား-ပုထိုး” ဟု ရေးဟန်တူ၏။ → Khi người dân Ayutthaya viết về các tượng Phật và bảo tháp, họ viết là “Varā-Buddho” nhưng khi đọc thì phát âm là “Phraya-But-hto”. Có vẻ như người Miến đã dựa theo âm đọc đó mà viết thành “Paya-Patho”. TRANG 20 ထိုယုဒယအသုံးဖြစ်သော “ဖရား-ဗုဒ္ဓေါ” စကား၌လည်း “ဝရား မြတ်သော+ဗုဒ္ဓေါ-ဘုရား၊ မြတ်သောဘုရား-မြတ်စွာဘုရား” ဟု ဆိုလို သည်။ → Trong cụm từ “Phraya-But-hto” theo cách dùng của người Ayutthaya đó, nó cũng có nghĩa là “Vara (cao quý) + Buddho (Phật) = Đức Phật cao quý”. ထို့ကြောင့် “ဝရား-ဘုရား-ဘုရား” ဤ ၃-မျိုးသည် ပါဠိ၊ ယုဒယ၊ မြန်မာအသုံးအားဖြင့် ကွဲပြားသော်လည်း “မြတ်” ဟူသော အနက်အားဖြင့် တူ၏။ → Vì vậy, ba từ "Vara", "Paya" (tiếng Miến) và "Paya" (trong tiếng Thái) dù khác nhau về cách dùng trong tiếng Pali, tiếng Thái và tiếng Miến, nhưng đều giống nhau ở nghĩa là “Cao quý”. “ဗုဒ္ဓေါ-ဗုတ်ထိုး-ပုထိုး” ဤ ၃-မျိုးလည်း ပါဠိ၊ ယုဒယ၊ မြန်မာအသုံးအဖြစ် ကွဲပြားသော်လည်း “ဘုရားရှင်” ဟူသော အနက် အားဖြင့် တူမျှသည်ဟု မှတ်ပါ။ → Hãy ghi nhớ rằng ba từ “Buddho”, “But-hto” và “Patho” này dù khác nhau về cách dùng trong tiếng Pali, tiếng Thái và tiếng Miến, nhưng đều tương đồng ở nghĩa là “Đức Phật”. [ယခုကာလ၌ “ဗုဒ္ဓမပါလျှင် စေတီ၊ ဗုဒ္ဓပါလျှင် ပုထိုး” ဟု ပြောကြသည်မှာ အခြေအမြစ်ကို မစဉ်းစားနိုင် ခြင်းကြောင့် ဖြစ်ရလေသည်။] → [Ngày nay, việc người ta nói rằng “Nếu không có tượng Phật thì gọi là Ceti (Bảo tháp), có tượng Phật thì gọi là Patho” là do không suy xét đến căn nguyên của từ ngữ]. ဘုရားပုံတော်ကို အာရုံပြုသင့်ပုံ → Cách nên quán tưởng hình ảnh Đức Phật ဗုဒ္ဓါနုဿတိ။ ။ဗုဒ္ဓါနုဿတိ ကမ္မဋ္ဌာန်း စီးဖြန်းပွားများရာ၌ “ဘုရားရှင်၏ ပုံပြင်တော်ကို အာရုံပြု၍ စီးဖြန်းရ၊ ဂုဏ်တော်ကိုသာ အာရုံပြု၍ စီးဖြန်းရမည်” ဟု ပြောကြသည်။ → Buddhanussati (Niệm Phật): Trong khi thực hành tu tập đề mục thiền định Niệm Phật (Pali: Buddhānussati), người ta thường nói rằng “Phải quán tưởng hình ảnh của Đức Phật để tu tập, hoặc chỉ quán tưởng ân đức của Ngài để tu tập”. ဘုရားရှင်၏ ရုပ်ပုံတော် သပ္ပါယ်ပုံသည် ဘဝေါဂုဏ်တော်၌ ပါဝင်သော သီရိဘုန်းတော်ပင် တည်း။ → Vẻ đẹp trang nghiêm của sắc thân Đức Phật chính là uy đức vinh hiển (Siri) nằm trong ân đức Bhagavā của Ngài. ထို့ကြောင့် ရုပ်ပုံတော်ဖြင့်၊ ရောင်ခြည်တော်ဖြင့်၊ စေတီတော် ဖြင့်၊ အခန်း ၃-ပိုင်းကိုပြု၍ စဉ်းစားသောအခါ ဗုဒ္ဓရှင်တော်၏ အမျိုးဇာတ်အားဖြင့် ပင်ကိုယ်အတိုင်းပင် အလွန်တင့်တယ် တော်မူပုံ၊ တစ်ခါတစ်ရံ ရောင်ခြည်တော်ခြောက်သွယ်ဖြင့်သာ၍ သပ္ပါယ်တော်မူပုံ၊ ထိုမျှလောက် တင့်တယ်သပ္ပါယ်တော်မူသော ကိုယ်တော်ဖြင့် အားလပ်ခွင့်မရအောင် သတ္တဝါများ၏အကျိုးကို → Do đó, khi suy xét qua ba phần: về sắc thân, về hào quang và về bảo tháp, [ta thấy] bản thân dòng dõi của Đức Phật đã vô cùng thanh cao; đôi khi Ngài lại càng trang nghiêm hơn với sáu luồng hào quang; và với kim thân thanh cao trang nghiêm như thế, Ngài đã thực hiện lợi ích cho chúng sinh không hề ngơi nghỉ... TRANG 21 ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူချိန်အထိ ဆောင်တော်မူပုံများကို စိတ်ထဲ၌ ကြည်နူးဖွယ်ရာ ထင်မြင်လာပါလိမ့်မည်။ → ...cho đến tận lúc nhập Niết-bàn (Pali: Parinibbāna), những hình ảnh đó sẽ hiện lên một cách đầy hân hoan trong tâm trí. ထိုသို့ ထင်မြင်လာသော ဘုရားအာရုံကို ပျောက်ကွယ်မသွားစေဘဲ အဖန်တလဲလဲ စွဲမြဲစွာ အာရုံယူနေမှုကို “ဗုဒ္ဓါနုဿတိ ကမ္မဋ္ဌာန်းတစ်မျိုး” ဟု မှတ်ပါ။ → Hãy ghi nhớ rằng việc giữ cho hình ảnh quán tưởng về Phật đó không bị mất đi, mà liên tục duy trì sự tập trung một cách bền vững, chính là “một loại đề mục thiền định Niệm Phật (Buddhanussati Kammaṭṭhāna)”. [ဗုဒ္ဓ=ဘုရားကို+အနု=အဖန်တလဲလဲ အထပ်ထပ်+သတိ=အမှတ်ရနေခြင်း။] → [Buddha = Phật + Anu = lặp đi lặp lại nhiều lần + Sati = sự ghi nhớ/niệm]. ထိုအာရုံယူမှု၏ ရှေးသူတော်ကောင်းတို့ ထုံးဟောင်းတစ်ခု ဖြစ် ကြောင်းကို မှတ်သားဖို့ရာ ဗုဒ္ဓအပဒါန်ပါဠိတော်မှ ထုတ်ပြဦးမည်။ → Để ghi nhớ rằng việc quán tưởng này là một truyền thống cổ xưa của các bậc thiện tri thức tiền bối, tôi sẽ trích dẫn thêm từ kinh điển Pali Apadāna (Thánh nhân ký sự). စကြာမင်း စိတ်ကူးပုံ။ ။ရှေးလွန်လေပြီးသောအခါ ငါတို့၏ ဘုရားလောင်းတော်သည် တစ်ခုသောဘဝဝယ် “တိလောကဝိဇယ” မည်သော စကြာမင်းဖြစ်ခဲ့ဖူး၏။ → Cách tưởng tượng của Chuyển Luân Vương (Ý niệm vè Chuyển Luân Thánh Vương): Trong một kiếp quá khứ xa xưa, vị Bồ-tát (Phật mẫu) (Phật Mẫu) của chúng ta đã từng là một vị vua Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti) tên là "Tilokavijaya". ထိုမင်းသည် သံဃာတော်အများ နှင့်တကွ ရှေးရှေးသော ဗုဒ္ဓရှင်တော်မြတ်တို့ကိုလည်းကောင်း၊ ပစ္စေကဗုဒ္ဓါတို့ကိုလည်းကောင်း စိတ်ထဲ၌ ထင်မြင်လာအောင် စိတ်ကူး၏။ → Vị vua đó đã tưởng tượng trong tâm để hình ảnh của các đức Phật toàn giác thuở xưa cùng với tăng chúng, cũng như các đức Phật Độc Giác (Pali: Paccekabuddha) hiện lên một cách rõ ràng. စိတ်ကူးသည့်အတိုင်း ထင်လာသော ဘုရားရှင်ကို လက်အုပ်ချီ၍ ဦးခေါင်းညွတ်လျက် နှစ်သက်ကြည်ညိုလှစွာ ရှိခိုးဦးချ၏။ → Ngài chắp tay, cúi đầu đảnh lễ với lòng tin kính (tịnh tín) hân hoan sâu sắc trước đức Phật đã hiện khởi theo đúng sự quán tưởng đó. ထိုမျှဖြင့် အားမရသေးဘဲ ရတနာမျိုးစုံဖြင့် ခြယ်လှယ် အပ်သော “ဝေဇယန္တာ” မည်သော ရတနာဗိမာန် ပြသာဒ်တော် ကြီးကို အထပ်ပေါင်းများစွာဆင့်လျက် စိတ်ကူးဖြင့် ဖန်ဆင်းလျက် ရှိ၏။ → Chưa dừng lại ở đó, Ngài còn dùng tâm tưởng để tạo ra một tòa cung điện báu (Pyathat) vĩ đại tên là "Vejayantā", được trang trí bằng đủ loại trân bảo với nhiều tầng lớp chồng lên nhau. ထိုဗိမာန်ကြီးဝယ် တင့်တယ်သာနားသော အခင်းမျိုးစုံကို လည်း စိတ်ကူးဖြင့် ခင်းထား၏။ သူ့နေရာနှင့်သူ ရေပြည့်အိုး၊ ပန်းပြည့် ရေတကောင်းများကိုလည်း တည်ထား၏။ → Trong tòa cung điện đó, Ngài cũng dùng tâm tưởng để trải ra đủ loại thảm đệm thanh cao. Tại những vị trí thích hợp, Ngài cũng đặt những bình nước đầy và những bình hoa tươi tốt. ထို့နောက် ကျယ်ပြန့်သော တံခါးကြီးများမှ နောက်ပါသံဃာတော်များနှင့်တကွ → Sau đó, từ những cánh cửa lớn rộng mở, cùng với các vị tăng chúng đi theo sau... TRANG 22 ဘုရားရှင်များစွာ ပစ္စေကဗုဒ္ဓါများစွာတို့မှာ မိမိ၏ ပင့်ဖိတ်ချက်အရ ကြွတော်မူလာကြ၍ ရွှေသားအတိပြီးသော ပလ္လင်တော်များဝယ် အသီးသီး ထိုင်နေတော်မူပုံ စိတ်ကူးလေသည်။ → Ngài dùng tâm tưởng để thấy nhiều vị Phật Toàn Giác và nhiều vị Phật Độc Giác (Pali: Paccekabuddha) đang ngự trên những tòa bảo tọa bằng vàng ròng theo lời cung thỉnh của mình. လှူဒါန်းပုံ။ ။ထို့နောက် လူ့ပြည် နတ်ပြည်ရှိသမျှ အထည် ကောင်းတို့ကို စုပေါင်းဆောင်ယူလျက် ထိုဘုရား၊ ပစ္စေကဗုဒ္ဓါ၊ ရဟန္တာ၊ သံဃာတော်တို့အား ၃-ထည်သော (တိစီဝရိက်) သင်္ကန်းကို လှူဒါန်း၍ မွန်မြတ်သော ခဲဖွယ် ဘောဇဉ် ချိုချဉ် သြဇာအဖြာဖြာ တို့ဖြင့် သပိတ်အသီးသီးသို့ အပြည့်ထည့်၍ ဆက်ကပ်နေပုံကို စိတ်ကူးပြန်လေသည်။ → Cách cúng dường: Tiếp theo, Ngài gom tất cả những loại vải tốt nhất ở cõi người và cõi trời, rồi dùng tâm tưởng để dâng cúng bộ tam y (Pali: Ticīvarika) đến các đức Phật, Phật Độc Giác, các vị A-la-hán và tăng chúng; đồng thời Ngài cũng dâng các loại vật thực thượng vị, trái cây ngọt lành vào đầy bình bát của mỗi vị. အသီးသီး ဆွမ်းဘုဉ်းပေးပြီးသောအခါ ဘုရားပစ္စေကာ အရိယာသံဃာတော်တို့သည် ဗိမာန်ကြီး၌ အသီး အသီးသော ရတနာတိုက်ခန်းသို့ဝင်ကာ ခေတ္တခဏမျှ ကိန်းအောင်း တော်မူပြီးနောက် ကိန်းအောင်းရာမှထ၍ တစ်ချို့က ဈာန်ဝင်စား နေပုံ၊ တစ်ချို့က ပြဿနာမေးပုံ၊ ဖြေပုံများကိုပါ စိတ်ကူးလေသည်။ → Ngài lại tưởng tượng rằng sau khi thọ thực xong, các đức Phật, Phật Độc Giác và thánh tăng đi vào các phòng thất bằng trân bảo trong cung điện để nghỉ ngơi tạm thời; sau đó họ thức dậy, có vị thì nhập thiền định (Pali: Jhāna), có vị thì thưa hỏi và giải đáp các thắc mắc. မွမ်းမံခြယ်လှယ်ပုံ။ ။ဘုရားပစ္စေကာ အရိယာသံဃာတော် တို့သည် ဈာန်ဝင်စားမှုစသော အလိုတော်ရှိရာကိစ္စဖြင့် မွေ့လျော် တော်မူနေစဉ် ထိုအရှင်မြတ်တို့၏အထက်တွင် ရတနာထီးဖြူ ဆောင်လျက် မွှေးကြိုင်သော ပန်းမျက်နှာကျက်တွေ တဝေဝေနှင့် ထီးများ၏ ပတ်ဝန်းကျင်ဝယ် နီမြန်းသော ဇာပန်းတွေ တွဲလျားကျ နေပုံ၊ ရတနာဗိမာန်၏ အရပ်လေးမျက်နှာတို့၌ ကြာမျိုးငါးပါးဖြင့် တင့်တယ်သော ရေကန်ကြီးများ တည်နေပုံ၊ ပတ်ဝန်းကျင်ဝယ် → Cách trang trí: Trong khi các vị Phật, Phật Độc Giác và thánh tăng đang an lạc trong thiền định hoặc các công hạnh khác, Ngài tưởng tượng phía trên các Ngài có những chiếc lọng trắng bằng trân bảo che phủ, có trần hoa thơm ngát tỏa hương, xung quanh lọng có những dải hoa đỏ buông rủ; tại bốn phương của cung điện trân bảo có những hồ nước lớn xinh đẹp với năm loại hoa sen, và xung quanh đó... TRANG 23 တည်ရှိနေသော ပန်းဥယျာဉ်၏ ပန်းပင်များမှ ပန်းဝတ်မှုန့်တို့သည် အထက်သို့ လွင့်တက်ကာ ဗိမာန်တော်ကြီးကို လွှမ်းဖုံးနေပုံ၊ ရွှေခုံပေါ်၌ ရောင်စုံမီးတိုင်များကို စကြာဝဠာအနှံ့စိုက်၍ ညှိထွန်း ထားပုံ၊ သစ်ပင်များနှင့် တောင်ထိပ်တိုင်း၌ အလံတလူလူ စိုက်ထူ ထားပုံတို့ကိုပါ စိတ်ကူးလေသည်။ → ...các phấn hoa từ những cây hoa trong vườn hoa tỏa bay lên không trung bao phủ lấy tòa cung điện vĩ đại; trên những bệ vàng, những ngọn đèn màu được thắp sáng rực rỡ khắp cả vũ trụ; trên các ngọn cây và đỉnh núi đều được cắm những lá cờ bay phấp phới; Ngài đã quán tưởng tất cả như vậy. ပရိသတ်များ။ ။ထိုမျှလောက် ကြည်နူးဖွယ်ကောင်းသော ဗိမာန်တော်ကြီး၏ အနီးအပါး၌ သိဆိုတီးမှုတ် မပြတ်သူတို့လည်း မနေနိုင် မထိုင်နိုင် ပျော်မြူး၍ ကြည်နူးသောစိတ်ဖြင့် ကကြ၊ သီဆို ကြ၊ တီးမှုတ်ကြပုံ၊ လူ၊ နတ်၊ သိကြား၊ နဂါး၊ ဂဠုန်၊ ကုမ္ဘဏ်၊ ယက္ခ၊ ဂန္ဓဗ္ဗမကျန် သူတော်ကောင်းမှန်သမျှလည်း အသီးသီး လက်အုပ် ချီကာ အရိယာတို့ သီတင်းသုံးရာဖြစ်သော ထိုဗိမာန်အနီးသို့ ချဉ်းကပ်လာကြပုံ၊ ထိုပရိသတ်အား စကြာမင်းကြီးက မိမိပြုအပ် သော ကုသိုလ်၏အဖို့ကို အမျှဝေစကား ပြောကြားနေပုံ၊ ဤနေရာ သို့ မရောက်လာသေးသူတို့အား နတ်များကတစ်ဆင့် ပြောပြနေပုံ တို့ကိုပါ စိတ်ကူးလေသည်။ → Hội chúng: Gần tòa cung điện tuyệt đẹp đó, những người đàn ca hát xướng không thể ngồi yên vì vui mừng hân hoan, họ nhảy múa, ca hát và hòa nhạc với tâm hồn thanh thản; tất cả các bậc thiện tri thức bao gồm con người, thiên nhân (Deva), vua trời (Sakka), rồng (Nāga), chim thần (Garuḍa), Kumbhaṇḍa, dạ-xoa (Yakkha), Càn-thát-bà (Gandhabba) đều chắp tay tiến lại gần cung điện nơi các bậc thánh đang cư ngụ; vị vua Chuyển Luân đang nói lời chia sẻ phước báu từ những việc thiện mình đã làm cho hội chúng đó, và các vị thiên nhân cũng thay mặt truyền đạt lại cho những người chưa đến được nơi này; Ngài đã quán tưởng tất cả như vậy. အကျိုးရပုံ။ ။ထိုကဲ့သို့ အလှူဒါနကြီးကို စိတ်ကူးဖြင့် ပေးလှူ သော စကြာမင်းကြီးသည် နတ်ရွာစံ ကံတော်ကုန်သောအခါ ထို ကောင်းမှုကြောင့် တာဝတိံသာ၌ ဖြစ်ရလေသည်။ ထိုကောင်းမှု စေတနာစုကြောင့် နတ်ပြည်မှ လူပြည်သို့လည်းကောင်း၊ လူပြည်မှ နတ်ပြည်သို့လည်းကောင်း၊ စုတေရွှေ့ပြောင်း၍ ဖြစ်လေရာ၌ ပညာ → Kết quả đạt được: Vị vua Chuyển Luân, người đã thực hiện đại thí sự bằng tâm tưởng như vậy, khi mệnh chung đã được tái sinh về cõi trời Tāvatiṃsa (Tam Thập Tam Thiên) nhờ phước báu đó. Nhờ vào khối tâm thiện (Cetanā) lành đó, khi Ngài luân hồi từ cõi trời xuống cõi người, hay từ cõi người lên cõi trời, thì trí tuệ... TRANG 24 အရည်အချင်း ရုပ်အဆင်းအားဖြင့် နတ်ချင်းလည်းသာလွန်၊ လူချင်းလည်းသာလွန်သူသာ ဖြစ်ခဲ့ရလေသည်။ ထို့ကြောင့် ယခုအခါ သူတော်ကောင်းစိတ်ဓာတ် ကိန်းဝပ်တည်ရှိသော အမျိုးသား အမျိုးသမီး လူကြီးသူမတို့သည် သန့်ရှင်းသော ဘုရားအနီးမှာ ဖြစ်စေ၊ အခြားတစ်နေရာမှာဖြစ်စေ၊ သက်တော်ထင်ရှား ဘုရားရှင် ကို ထင်မြင်လာအောင် စိတ်ကူးလျက် အထူးကြည်ညိုသော သဒ္ဓါ တရားဖြင့် ဗုဒ္ဓါနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်းဖြစ်အောင် စီးဖြန်းပွားများ၍ ပန်း၊ ဆီမီး၊ အမွှေးတိုင်စသော ပူဇော်ဖွယ်များကို ပူဇော်ကြပါကုန်။ → ...năng lực và sắc thân của Ngài luôn vượt trội hơn hẳn các thiên nhân khác cũng như vượt trội hơn hẳn những người khác. Vì vậy, hiện nay những nam nữ cư sĩ, những bậc cao niên có tâm hồn hướng thiện, dù là ở gần nơi thờ Phật sạch sẽ hay ở bất kỳ nơi nào khác, hãy quán tưởng sao cho hình ảnh Đức Thế Tôn lúc còn tại thế hiện lên rõ rệt, dùng đức tin (Saddhā) vô cùng thành kính để thực hành thiền định Niệm Phật (Buddhānussati Kammaṭṭhāna) và dâng cúng những vật phẩm như hoa, đèn dầu, hương đăng. ပုံအတွင်း ဂုဏ်သွင်းပါ။ ။သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရား ကို စိတ်ထဲထင်မြင်လာအောင် မှန်းဆနိုင်သူသည် ဘုရားရှင်ကို အထူးကြည်ညို လေးစားသူဖြစ်ပေကာစံ၊ ဘုရားရှင်၏ကိုယ်စား ရုပ်ပွားဆင်းတုတော်နှင့် ဓာတ်တော်ဌာပနာထားသော စေတီတော် များအနီးပါး၌ မလေးမစား မနေဝံ့တော့ပါ။ ဘာသာရေး၌ အလွန် အချိုးကျသော လူကောင်း ရှင်ကောင်း ဖြစ်လောက်ပါပြီ။ သို့ရာဝယ် လောက၌ ပုဂ္ဂိုလ်တစ်ဦးအပေါ်မှာ ဂုဏ်ထူးကိုမသိခင်က ကြည်ညို ပြီးနောက် ဂုဏ်ထူးကိုသိပြန်သောအခါ အတိုင်းထက်အလွန် ကြည်ညိုလေးစား အားထားကိုးကွယ်လိုသောစိတ်များ ဖြစ်ပေါ်လာ သကဲ့သို့ ထို့အတူ မြတ်စွာဘုရား၏ ချီးမွမ်း၍မကုန်နိုင်သော ဂုဏ်တော်များတွင် လူချင်း၊ နတ်ချင်း၊ ဗြဟ္မာချင်း ပြောကြလျက် → Hãy đưa ân đức vào trong hình ảnh: Người có thể tưởng tượng thấy Đức Thế Tôn lúc còn tại thế trong tâm là người có lòng tin kính và tôn trọng Đức Phật một cách đặc biệt, và sẽ không dám có thái độ thiếu tôn trọng khi ở gần các tượng Phật hay các bảo tháp tôn thờ xá-lợi vốn là đại diện cho Ngài. Người đó xứng đáng là một người tốt, một tu sĩ tốt chuẩn mực trong tôn giáo. Tuy nhiên, giống như trong đời thường, khi ta chưa biết đến đức hạnh đặc biệt của một người thì đã kính trọng, sau khi biết rõ đức hạnh đó thì lòng kính trọng, tin tưởng và muốn nương tựa lại càng tăng lên gấp bội; tương tự như vậy, trong số những ân đức không thể ca ngợi hết của Đức Thế Tôn, khi loài người, thiên nhân và phạm thiên cùng nhau đàm luận... TRANG 25 တသောသော ချီးမွမ်းအပ်သော ဂုဏ်တော် ၉-ပါးလောက်ကိုပင် မိမိဉာဏ်မိမိသမ္ပ သိရှိကြရလျှင် သဒ္ဓါ ပညာတို့သည် ရှေးကထက် တိုးပွားကြပါလိမ့်မည်။ → ...nếu chính trí tuệ của mình nhận thức được dù chỉ khoảng 9 ân đức (Pali: Guṇa) thường được ca tụng vang lừng đó, thì đức tin và trí tuệ sẽ được tăng trưởng hơn so với trước đây. ဆက်ပါဦးမည်- မိမိတို့သည် ဘဝများစွာ သံသရာဝယ် ကျင်လည်ခဲ့ရသော်လည်း စိတ်ထဲ၌ ဤဘုရားရှင်ဟူသော အာရုံမျိုး ကို ယူနိုင်ဖို့ရာ ခဲယဉ်းပါသည်။ ယခုအခါ ကံကောင်းလှသဖြင့် ဘုရားရှင်၏အကြောင်းအရာနှင့် ဂုဏ်တော်များကို ကြားသိရပါ သည်။ ထို့ကြောင့် အေးအေးဆေးဆေး မိမိအိမ်၌ ဘုရားရှင်ကို အာရုံပြုရင်း ရွတ်ဖတ်ရှိခိုးကြဖို့ရာ မကျဉ်းမကျယ်အနက်များကို နှုတ်တက်ဆောင်ထား၍ အဓိပ္ပာယ်များကို ကြည့်ရှုမှတ်သားပြီးလျှင် ထင်မြင်လာသော ဘုရားရှင်၏ ပုံတော်အတွင်း၌ ဤပြအပ်လတ္တံ့ သော ဂုဏ်တော်များကိုသွင်း၍ သန့်ရှင်းစင်ကြယ်သောသီလကို ဆောက်တည်ကာ ကြိုးစား၍ အာရုံပြုကြပါကုန်။ → Còn tiếp: Dẫu chúng ta đã từng luân hồi qua vô số kiếp trong vòng sinh tử (Saṃsāra), nhưng để có thể nắm bắt được loại đối tượng quán tưởng về Đức Phật này trong tâm là điều rất khó khăn. Hiện nay, thật may mắn vì chúng ta được nghe biết về hành trạng và ân đức của Ngài. Do đó, để có thể quán tưởng về Đức Phật và tụng niệm đảnh lễ một cách an tịnh tại nhà, hãy học thuộc lòng các nghĩa giải không quá ngắn cũng không quá dài, xem xét ghi nhớ ý nghĩa, rồi đưa các ân đức sắp được trình bày sau đây vào trong hình ảnh Đức Phật đã hiện lên rõ rệt, đồng thời thọ trì giới hạnh (Sīla) trong sạch và nỗ lực quán tưởng. အမှာ။ ။ဂုဏ်တော်အနက်များကို ကျက်သောအခါ အလွတ် အဖတ်ကောင်းသော ဆရာသမားတို့ထံ၌ စနစ်တကျဖတ်ပြီးမှ ကျက်ကြပါလေ၊ အလွတ်အဖတ်လည်း မမှန်၊ အသံကလည်း မကောင်းလျှင်ကား အသံကျယ်ကျယ် ရှိမခိုးဘဲ ခပ်တိုးတိုးရွတ်ဆို၍ ရှိခိုးပါလေ၊ အရမကျက်နိုင်လျှင် ဘုရားစေတီတော်ရှေ့၌ စာအုပ် ကြည့်၍ ဖတ်ကြပါလေ။ → Lưu ý: Khi học thuộc lòng các nghĩa của ân đức, hãy học sau khi đã nghe các thầy dạy đọc một cách hệ thống và chính xác; nếu việc đọc thuộc lòng không đúng hoặc giọng đọc không tốt thì đừng đảnh lễ với âm thanh quá lớn mà hãy tụng nhỏ nhẹ để đảnh lễ; nếu không thể học thuộc lòng được thì hãy mở sách ra đọc trước bàn thờ Phật hoặc bảo tháp. * * * * * * * TRANG 26 ဘုရားဂုဏ်တော်ဖွင့် → Giải nghĩa Ân đức Phật (ကျက်မှတ်ရန်) → (Để học thuộc lòng) ဂုဏ်တော် ၉ ပါး ပါဠိတော် → Chánh văn Pali về 9 Ân đức Phật ဣတိပိ သော ဘဂဝါ အရဟံ၊ သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓေါ၊ ဝိဇ္ဇာစရဏသမ္ပန္နော၊ သုဂတော၊ လောကဝိဒူ၊ အနုတ္တရောပုရိသဒမ္မသာရထိ၊ သတ္ထာဒေဝမနုဿာနံ၊ ဗုဒ္ဓေါ၊ ဘဂဝါ။ → Ngài là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét “ဣတိပိ သော ဘဂဝါ ”၌ “ဣတိပိ”သည် မိမိ၏ ဉာဏ်ထဲမှာ ထင်လာသော အကြောင်းတစ်ခုခုကို ညွှန်ပြအပ်သော ပါဠိ၊ “သော ဘဂဝါ”ကား မြတ်စွာဘုရားကို ညွှန်ပြသော ပါဠိတည်း၊ ထို့ကြောင့် ထိုပါဠိ ၂-ရပ်ကို ဂုဏ်တော် ၉-ပါးလုံးနှင့် တွဲစပ်ပါ။ → Trong cụm "Itipi so bhagavā", "Itipi" là từ Pali chỉ ra một nguyên nhân nào đó hiện khởi trong trí tuệ của mình, "so bhagavā" là từ Pali chỉ về Đức Thế Tôn; do đó, hãy kết hợp hai cụm Pali này với tất cả 9 ân đức. ၁။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ အရဟံ၊ → 1. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, ၂။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓေါ၊ → 2. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri, ၃။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ ဝိဇ္ဇာစရဏသမ္ပန္နော၊ → 3. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Minh Hạnh Túc, ၄။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ သုဂတော၊ → 4. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Thiện Thệ, ၅။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ လောကဝိဒူ၊ → 5. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Thế Gian Giải, ၆။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ အနုတ္တရောပုရိသဒမ္မသာရထိ၊ → 6. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, ၇။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ သတ္ထာဒေဝမနုဿာနံ၊ → 7. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Thiên Nhân Sư, TRANG 27 ၈။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ ဗုဒ္ဓေါ၊ → 8. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Phật, ၉။ ဣတိပိ သော ဘဂဝါ ဘဂဝါ။ → 9. Vì lý do này, Ngài là Đức Thế Tôn, bậc Thế Tôn. အရဟံဂုဏ်တော်ဖွင့် → Giải nghĩa Ân đức Arahaṃ (ကျက်မှတ်ရန်) → (Để học thuộc lòng) (၁) သော ဘဂဝါ-ထိုရွှေဘုန်းတော်သခင်, ရှင်တော်မြတ် ဘုရားသည်၊ ဣတိပိ ဣမိနာ ကာရဏေန-တစ်ထောင့်ငါးရာ ကိလေသာတို့၊ ဝါသနာဓလေ့, အထုံငွေ့မျှ, မငွေ့မရိပ်, ဝင်းဝင်း စိတ်သို့, ရွှေစိတ်ပုံသင်း, လွန်သန့်ရှင်း၍, မင်းမင်းပြည်သူ, ကြည်ဖြူ ကော်ရော်, အလှူတော်မှန်, အပူဇော်ကို ခံတော်မူထိုက်သော ဤ အကြောင်းကြောင့်လည်း၊ အရဟံ-အရဟံဟူသော ဂုဏ်တော်ကြီး ဖြင့်, အံ့ချီးမကုန်, ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်, ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား, ထင်ရှားတော်မူပါပေသည်တကား။ → (1) Đức Thế Tôn - bậc chủ tể của những vinh quang vàng son ấy (hồng danh cao thượng ấy), Itipi Iminā kāraṇena - vì lý do: Ngài đã gạt bỏ 1500 phiền não (Kilesa) không còn để lại dù chỉ là thói quen hay dư hương (Vāsanā), tâm Ngài luôn trong sạch rạng ngời, tỏa hương thơm ngát, xứng đáng thọ nhận sự cúng dường và lễ bái chân thành từ các bậc vua chúa và thần dân; vì lý do này, Arahaṃ - Ngài hiển hách, lừng danh với đại ân đức Arahaṃ, được tán dương không xiết kể, lan tỏa khắp nơi cho đến tận cõi Phạm thiên. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét အရဟံ ဂုဏ်တော်သည်- → Ân đức Arahaṃ có nghĩa là: ၁။ “ကိလေသာတို့မှ ဝေးကွာတော်မူ၏” ဟူသော အနက်၊ → 1. Ý nghĩa: "Bậc đã xa lìa khỏi các phiền não", ၂။ “လှူဒါန်းပူဇော်သမျှကို ခံယူတော်မူထိုက်၏”ဟူသော အနက်ကိုပြသည်။ → 2. Ý nghĩa chỉ rằng: "Xứng đáng thọ nhận mọi sự cúng dường và lễ bái". တစ်ထောင့်ငါးရာ ကိလေသာ။ ။ပုထုဇဉ်တို့၏သန္တာန်၌ ကိလေသာသည် အကျဉ်းအားဖြင့် ဆယ်ပါးရှိ၏။ အကျယ်အားဖြင့် တစ်ထောင့်ငါးရာ ရှိ၏။ → 1500 phiền não: Trong tâm tính của hạng phàm phu, phiền não tóm lược có 10 loại. Chia rộng ra có 1500 loại. TRANG 28 [ထို ၁၅၀၀ တွက်ပုံကို အလိုရှိက သင်္ဂြိုဟ်သင်ဖူးသူများကို မေးပါ။ အခြေပြုသင်္ဂြိုဟ် သမုစ္စည်းပိုင်းမှာလည်းပြထားသည်] → [Nếu muốn biết cách tính 1500 này, hãy hỏi những người đã học qua Thắng Pháp Tập Yếu (Abhidhammatthasaṅgaha). Trong phần Samuccaya (Tập yếu các pháp) của sách Thắng Pháp Cơ Bản cũng có trình bày] ဝါသနာဓလေ့ အထုံငွေ့။ ။သတ္တဝါတို့၏သန္တာန်၌ အငွေ့ အသက် ထုံလျက်ပါသော ကိလေသာတို့၏သတ္တိကို “ဝါသနာ-အထုံ” ဟုခေါ်သည်။ ရဟန္တာများသန္တာန်၌ ကိလေသာကုန်သွားသော်လည်း ဘဝဆက်တိုင်းကပါလာသော အထုံဝါသနာမှာ မကုန်တတ်ချေ။ ဥပမာ-စူးရှသော အရက်ထည့်ရာပုလင်းမှ အရက်ကုန်သွားသော် လည်း အရက်နံ့ အထုံမပျောက်သကဲ့သို့တည်း။ ဘုရားရှင်ကား ထိုကိလေသာတို့ကို အငွေ့အသက် အထုံဝါသနာ ပျောက်ကင်း အောင် ပယ်တော်မူပြီးဖြစ်၍ စိတ်တော်အစဉ်သည် အမြဲအားဖြင့် ဝင်းဝင်းဖိတ်ဖိတ် အရောင်တော်ကဲ့သို့ ကြည်လင်သန့်ရှင်း တော်မူပေသည်။ → Thói quen và dư hương (Vāsanā): Năng lực của phiền não vốn còn ám ảnh, tẩm nhiễm trong tâm tính chúng sinh được gọi là "Vāsanā - tập khí/dư hương". Trong tâm các vị A-la-hán, dù phiền não đã đoạn tận nhưng tập khí từ nhiều đời kiếp vẫn chưa hết hẳn. Ví dụ như một cái chai từng chứa rượu mạnh, dù rượu đã hết nhưng mùi rượu vẫn còn ám lại. Riêng Đức Phật đã đoạn tận các phiền não đó cho đến khi không còn cả dư hương hay tập khí, nên dòng tâm thức của Ngài luôn rạng ngời, trong sạch và thanh tịnh như hào quang của Ngài vậy. ပူဇော်ထိုက်ပုံ။ ။ထို့ကြောင့် အညစ်အကြေးကင်း၍ သန့်ရှင်း သော ဥယျာဉ်လယ်ယာ၌ စိုက်ပျိုးအပ်သော မျိုးစေ့သည် သန်မာ ကြီးမား ထွားကျိုင်းပွင့်လန်း၍ အကျိုးများသောကြောင့် ထိုမြေမျိုး၌သာ စိုက်ပျိုးကြသင့်သကဲ့သို့ ထို့အတူ ကိလေသာအနှောက်အယှက် မရှိသဖြင့် စိတ်တော်အစဉ် ကြည်လင်သော ဘုရားရှင်၌ လှူဒါန်း ပူဇော်ခြင်းဟူသော မျိုးစေ့များကို ကြဲချစိုက်ပျိုးလိုက်လျှင် ရည်ရွယ် သလောက် အကျိုးရနိုင်သောကြောင့် ရှင်တော်ဘုရားသည် လှူဒါန်း ပူဇော်သမျှကို ကောင်းစွာ ခံယူတော်မူထိုက်ပါပေသည်။ → Sự xứng đáng cúng dường: Do đó, cũng như hạt giống được gieo trồng trên thửa ruộng hay vườn tược sạch sẽ, không cỏ rác sẽ nảy mầm khỏe mạnh, to lớn, trổ hoa kết trái nhiều và chỉ nên gieo trồng trên loại đất như vậy; tương tự như thế, nếu gieo trồng những hạt giống là sự cúng dường và lễ bái nơi Đức Phật - bậc có dòng tâm thức luôn thanh tịnh vì không còn phiền não quấy nhiễu - thì sẽ đạt được kết quả như ý nguyện, cho nên Đức Thế Tôn hoàn toàn xứng đáng thọ nhận mọi sự cúng dường. TRANG 29 ဤသို့ အမင်းမင်းတို့၏ ပူဇော်ခြင်းကို ခံယူတော်မူထိုက်သော “အရဟံ”ဂုဏ်တော်ကြောင့် ဘုရားရှင်လက်ထက်တော်အခါ၌ “သဟမ္ပတိ”ဗြဟ္မာမင်းသည် မြင်းမိုရ်တောင်မျှ ပမာဏရှိသော ရတနာပန်းကုံးကြီးဖြင့် ပူဇော်ဖူးလေပြီ။ “ပိမ္ဗိသာရ”မင်းလည်း ဝေဠုဝန်ကျောင်းတိုက်တော်ကြီးဖြင့် ပူဇော်ဖူးလေပြီ။ ပရိနိဗ္ဗာန် စံတော်မူပြီးနောက်၌လည်း “ဓမ္မာသောက”မင်းသည် ၉၆-ကုဋေသော ဥစ္စာတို့ကို (စုတေခါနီးမှ ၄-ကုဋေထပ်ဖြည့်၍ ကုဋေတစ်ရာစွာ တိတိကို) အကုန်အကျခံလျက် ရှစ်သောင်းလေးထောင်သော ကျောင်း တိုက်တို့ဖြင့် ရှင်တော်မြတ်ဘုရားကို ရည်မှန်း၍ ပူဇော်ဖူးလေပြီ။ → Vì ân đức "Arahaṃ" xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của các vị vua này, nên vào thời Đức Phật còn tại thế, Phạm thiên Sahampati đã từng cúng dường vòng hoa trân bảo lớn bằng núi Meru. Vua Bimbisāra cũng đã từng cúng dường đại tu viện Veḷuvana (Trúc Lâm). Sau khi Ngài nhập Niết-bàn, vua Dhammāsoka (A-dục) cũng đã chi tiêu 96 triệu tài sản (đến lúc sắp băng hà thì thêm 4 triệu cho tròn đúng 100 triệu) để xây dựng 84.000 ngôi chùa cúng dường hướng về Đức Thế Tôn. ယခုအခါ ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့၏ အလှူဒါနပြုမှုတို့သည်လည်း ဘုရားရှင်ကို ကြည်ညိုမှုက အရင်းခံလျက်ရှိ၏။ ယခုတိုင်အောင် အပူဇော်ခံနေရပါသည်ဟူလို။ ဤသို့လျှင် ဘုရားရှင်၏ “အရဟံ” ဂုဏ်တော်ရနံ့သည် လူအဆင့်ဆင့် နတ်အဆင့်ဆင့် သင်းပျံ့လျက် ဗြဟ္မာပြည်တိုင်အောင် ပျံ့နှံ့မွှေးကြူပါသည်။ → Hiện nay, những hành động làm phước cúng dường của những người con Phật cũng đều lấy lòng kính tin Đức Phật làm gốc. Nghĩa là cho đến tận bây giờ, Ngài vẫn đang được tôn thờ cúng dường. Như vậy, hương thơm ân đức "Arahaṃ" của Đức Phật tỏa ngát qua từng lớp người, từng lớp thiên nhân và lan rộng thơm ngát cho đến tận cõi Phạm thiên. တိုက်တွန်းချက်။ ။ဘုရားရှင်၏ “အရဟံ”ဂုဏ်တော်ကို အောက်မေ့ကြည်ညိုသူသည် ပြအပ်ခဲ့သော ဘုရားရှင်၏ ပုံတော် အတွင်း၌ ရင်ချိုင့်အလယ် နှလုံးအိမ်ဝယ် ဘုရားရှင်စိတ်တော်၏ ကိလေသာအနှောက်အယှက်တို့မှ ကင်းသဖြင့် သန့်ရှင်းကြည်လင် တော်မူပုံကို ထင်မြင်အောင် အာရုံပြုပါ။ ထိုကြည်လင်သော စိတ် တော်ကို အတုယူကာ မိမိစိတ်၌လည်း လောဘ၊ ဒေါသ၊ မာန်မာန နှင့် ဣဿာ မစ္ဆရိယစသော ကိလေသာအနှောက်အယှက် ကင်းစင် ၍ အမြဲကြည်လင် သန့်ရှင်းအောင် သတိထားကြပါလေ။ ဤသို့ → Lời khuyến khích: Người tưởng nhớ và kính tin ân đức "Arahaṃ" của Đức Phật hãy quán tưởng sao cho hiện rõ hình ảnh tâm vương của Đức Phật tại trung tâm lồng ngực (tâm thất) luôn trong sạch rạng ngời vì không còn phiền não quấy nhiễu. Hãy noi theo tâm tịnh quang đó, chú ý giữ cho tâm mình cũng luôn rạng ngời, trong sạch bằng cách đoạn trừ các phiền não quấy nhiễu như tham (Lobha), sân (Dosa), ngã mạn (Māna), tật đố (Issā) và bủn xỉn (Macchariya). Như thế... TRANG 30 ဘုရားရှင်၏ ကိလေသာကင်း၍ စိတ်တော်သန့်ရှင်းမှုကို အာရုံပြုဖန်များလာလျှင် ထိုသန့်ရှင်းမှုသည် မိမိစိတ်၌ ဓာတ်သဘောကူးစက်၍ မိမိမှာလည်း သန့်ရှင်းသောစိတ်များ ဖြစ်လာပါလိမ့်မည်။ → Khi hành giả hướng tâm quán chiếu nhiều lần vào sự thanh tịnh và đoạn tận phiền não của Đức Thế Tôn, đặc tính thanh tịnh đó sẽ truyền dẫn vào tâm thức của mình, và những tâm ý thanh tịnh cũng sẽ khởi lên nơi chính mình. ဥပမာ- သူတော်ကောင်းနှင့် ပေါင်းသင်းသူသည် သူတော်ကောင်း ဖြစ်သကဲ့သို့ တည်း။ → Ví dụ như người thân cận với bậc thiện trí thức thì chính mình cũng trở thành bậc thiện trí thức vậy. သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Sammāsambuddha (Để học thuộc) (၂) သော ဘဂဝါ-ထိုရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်။ → (2) So Bhagavā: Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của ánh vinh quang vàng son (hồng danh cao thượng) ấy. ဣတိပိ ဣမိနာ စ ကာရဏေန-သဗ္ဗညုဉာဏ်အား၊ စွမ်းပကားဖြင့်၊ များသီခေါရ၊ ဝိကာရနှင့်၊ လက္ခဏပညတ်၊ နိဗ္ဗာန်ဓာတ်ဟု၊ ငါးရပ်သိရန်၊ ဉေယျဓံကို၊ ဖောက်ပြန်မရှိ၊ ကိုယ်တော်တိုင် သိတော်မူသော ဤအကြောင်းကြောင့်လည်း။ → Itipi iminā ca kāraṇena: Chính vì lý do Ngài tự mình thấu suốt không sai lệch năm pháp hữu tri (ñeyyadhamma) — gồm hữu vi (hành) (saṅkhāra), biến hóa (vikāra), chế định (lakkhaṇa-paññatti), Niết-bàn (nibbāna) và năm uẩn — bằng năng lực của Nhất Thiết Chủng Trí (Sabbaññuta-ñāṇa). သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓေါ-သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓဟူသော ဂုဏ်တော်ကြီးဖြင့်၊ အံ့ချီး၍မကုန်၊ ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်၊ ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား၊ ထင်ရှားတော်မူပါပေသည်တကား။ → Sammāsambuddho: Vì lẽ đó, Ngài nổi danh lừng lẫy, vang xa đến tận cõi Phạm thiên, được ca tụng không xiết kể với ân đức cao thượng được gọi là Sammāsambuddha (Bậc Chánh Biến Tri). ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để tham khảo သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓဂုဏ်တော်သည် “အလုံးစုံသောတရားကို ကိုယ်တော်တိုင် သိမြင်တော်မူနိုင်၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ → Ân đức Sammāsambuddha thể hiện ý nghĩa là "Ngài có thể tự mình thấu suốt tất cả các pháp". [သမ္မာ = မဖောက်မပြန် (အမှားမရှိအောင်) + သံ = ကိုယ်တော်တိုင် + ဗုဒ္ဓ = သိတော်မူနိုင်သည်] → [Sammā = không sai lệch (đúng đắn) + Saṃ = tự mình + Buddha = có thể hiểu biết]. TRANG 31 သဗ္ဗညုဉာဏ်အား၊ စွမ်းပကားဖြင့်။ → Bằng năng lực của Nhất Thiết Chủng Trí (Sabbaññuta-ñāṇa). ဘုရားရှင်သည် သဗ္ဗညုတဉာဏ်ကိုရဖို့ရန် လေးအသင်္ချေနှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်းတိုင်အောင် ကောင်းမှုပါရမီတော်များကို ဖြည့်ကျင့်ခဲ့သည့်အားလျော်စွာ ဘဝအဆက်ဆက် ရင့်လာသော ပညာသည် ဘုရားဖြစ်သည့်အခါ သဗ္ဗညုတဉာဏ်တော်အဖြစ်သို့ရောက်၍ လွန်စွာအစွမ်းသတ္တိ ထက်မြက်ပါပေသည်။ → Để đạt được Nhất Thiết Chủng Trí, Đức Thế Tôn đã hành trì bồi lòng các ba-la-mật suốt bốn tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp; do đó, tuệ giác được hun đúc qua nhiều đời kiếp khi thành Phật đã đạt đến quả vị Nhất Thiết Chủng Trí với năng lực vô cùng sắc bén. ယခုလောက၌ သေးငယ်သောမြူမှုန်တို့ကို လူအပေါင်းတို့ ဝိုင်း၍ကြည့်သောအခါ မျက်စိကောင်းသူများသာမြင်၍ မျက်စိမှုန်သူတို့ကား ဘယ်လိုပင် ကြည့်သော်လည်း မမြင်ရတော့ဘဲ မျက်စိကွယ်နေသူတို့မှာ ဆိုဖွယ်ရာမရှိတော့သကဲ့သို့။ → Giống như trong thế gian này, khi mọi người cùng nhìn vào những hạt bụi nhỏ li ti, chỉ những người mắt sáng mới thấy, còn người mắt kém dù cố nhìn cũng không thấy, và đối với người mù thì lại càng không cần phải bàn đến. ထိုအတူ သိဖွယ်အာရုံများကို သတ္တဝါဟူသမျှတို့ သိရှိဖို့ရန် အားထုတ်ကြသော်လည်း ပင်ကိုယ်ဉာဏ်မျက်စိရှိသလောက်သာ သိမြင်နိုင်ကြသည်။ → Tương tự như vậy, dù tất cả chúng sinh đều nỗ lực để hiểu biết các đối tượng tri thức, họ cũng chỉ có thể thấy biết theo giới hạn của con mắt trí tuệ tự thân. လုံးလုံးဉာဏ်မျက်စိမရှိသူတို့မှာ အရှေ့၊ အနောက်၊ တောင်၊ မြောက်နှင့် တင်းတောင်း ပမာဏကိုမျှ မသိနိုင်ကြပေ။ → Những người hoàn toàn không có con mắt trí tuệ thì ngay cả phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc hay kích thước của một cái thúng cũng không thể phân biệt được. ဗုဒ္ဓရှင်တော်၏ ဉာဏ်တော်သည်ကား သိသင့်သိဖွယ် အသွယ်သွယ်ကို မည်သူနှင့်မျှယှဉ်မရအောင် ရှင်းရှင်းလင်းလင်း သိတော်မူပါသည်။ → Riêng tuệ giác của Đức Phật thì thấu suốt mọi điều cần phải biết một cách rõ ràng minh bạch, không ai có thể so sánh được. ထိုသိဖွယ်တရားများကို “ဉေယျဓံ” ဟု ခေါ်၏။ → Những pháp cần được biết đó được gọi là "Ñeyyadhamma" (Pháp hữu tri). [ဉေယျ = သိသင့်သိထိုက်သော + ဓမ္မ = ဓမ္မ = တရား] → [Ñeyya = đáng được biết + Dhamma = pháp]. ဉေယျဓံတရား ၅ ပါးကား → 5 Pháp hữu tri (Ñeyyadhamma) là: ၁။ သင်္ခါရ-စိတ်စေတသိက်ဟူသော နာမ်တရားနှင့် နိပ္ပန္နရုပ်များ။ → 1. Saṅkhāra (Hành): Các danh pháp gồm Tâm (Citta), Tâm sở (Cetasika) và các sắc pháp thực tính (Nipphanna-rūpa). ၂။ ဝိကာရ-ဝိကာရရုပ် ငါးပါး။ → 2. Vikāra (Biến hóa): Năm loại sắc biến hóa. ၃။ လက္ခဏ-လက္ခဏရုပ်လေးပါး။ → 3. Lakkhaṇa (Đặc tính): Bốn loại sắc đặc tính. TRANG 32 ၄။ ပညတ်-လူနတ် ဗြဟ္မာ ဆင်မြင်း ကျွဲ နွား တော တောင် ရေ မြေစသော ပညတ်များ။ → 4. Paññatti (Chế định): Các khái niệm chế định như người, trời, phạm thiên, voi, ngựa, trâu, bò, rừng, núi, nước, đất, v.v. ၅။ နိဗ္ဗာန်-ရုပ်နာမ်ပညတ်မှတစ်ပါး ငြိမ်းအေးသော ဓာတ်ကြီးတစ်မျိုး။ → 5. Nibbāna (Niết-bàn): Một loại bản thể vắng lặng, tách biệt khỏi sắc, danh và chế định. [ဤ ငါးမျိုးမှတစ်ပါး သိဖွယ်ရာ မရှိပြီ၊ ဝိကာရနှင့်လက္ခဏကို ရုပ်ချင်းတူပါလျက် ခွဲထားသည်မှာ ပရမတ်အစစ် မဟုတ်သောကြောင့်တည်း။] → [Ngoài năm loại này ra thì không còn gì để biết nữa; sở dĩ Vikāra (Biến hóa) và Lakkhaṇa (Đặc tính) được tách riêng dù cùng là sắc pháp vì chúng không phải là thực tính pháp tuyệt đối (Paramattha)]. ဤဉေယျဓံငါးပါးသည် ဇိနာလင်္ကာရဋီကာ အသာဓာရဏကထ၌ပါရှိသည်။ → Năm pháp hữu tri này được ghi chép trong phần Asādhāraṇa-kathā của chú giải Jinālaṅkāra-ṭīkā. ဖောက်ပြန်မရှိ၊ ကိုယ်တော်တိုင်သိ။ → Không sai lệch, tự mình thông suốt. ဤဉေယျဓံတရား ငါးပါးကို ဘုရားရှင်သိတော်မူရာ၌ ဖောက်ပြန်မှားယွင်းသွားသည်ဟူ၍ မရှိ၊ နည်းပေးလမ်းပြမည့် ဆရာလည်း မရှိ၊ ကိုယ်တော်တိုင် သိတော်မူပေသည်။ → Trong việc thấu suốt năm pháp hữu tri này, Đức Thế Tôn không bao giờ có sự sai lạc hay lầm lẫn; Ngài cũng không có vị thầy nào chỉ dẫn, mà chính Ngài tự mình giác ngộ. ဤနေရာဝယ် ရပ်တန့်၍ စာဖတ်သူသည် ဗုဒ္ဓရှင်တော်မြတ်၏ သပ္ပါယ်သော ရုပ်အဆင်းတော်အတွင်း၌ “အရဟံဂုဏ်တော်” အရ စိတ်တော်၏ ကြည်လင်သန့်ရှင်းနေပုံ၊ ထိုကြည်လင်နေသော စိတ်တော်အစဉ်ဝယ် အလွန်ထက်မြက်သော ဉာဏ်တော်တည်နေပုံကို အာရုံယူကာ ဗုဒ္ဓါနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်း ပွားများကြပါလေ။ → Tại điểm này, người đọc hãy dừng lại, hướng tâm quán tưởng vào sự thanh tịnh của tâm đức theo ân đức "Araham" bên trong hình bóng trang nghiêm của Đức Phật, và cách mà tuệ giác cực kỳ sắc bén an trú trong dòng tâm thức thanh tịnh đó để tu tập pháp môn Phật tùy niệm (Buddhānussati). တိုက်တွန်းချက်။ → Lời khuyến tấn. အသိ အလိမ္မာ ဉာဏ်ပညာ ဟူသည် အလွန်အရေးကြီး၏။ → Sự hiểu biết và trí tuệ là điều vô cùng quan trọng. ပညာသင်ရာဝယ် ဆရာတစ်ဦးထံမှာ အတူသင်ယူပါလျက် အတတ်ချင်းကွာခြားနေပုံကိုလည်းကောင်း၊ စီးပွားဥစ္စာရှာဖွေရာဝယ် အရင်းအနှီးချင်းတူပါလျက် ဉာဏ်ရှိသူမှာ ကြီးပွား၍ ဉာဏ်နည်းသူမှာ မကြီးပွားနိုင်ဘဲ ဉာဏ်မရှိသူမှာ ဆုံးရှုံးရပုံကိုလည်းကောင်း၊ မိမချင်းတူပါလျက် အချို့သားသမီးများလိမ္မာ၍ အချို့ ယုတ်မာပုံကိုလည်းကောင်း၊ → (Hãy quán sát) trong việc học tập, dù cùng học một thầy nhưng kiến thức đạt được lại khác nhau; trong việc tìm kiếm tài sản, dù cùng vốn liếng nhưng người có trí thì hưng thịnh, người ít trí thì không phát đạt, còn người không trí thì thua lỗ; hay trong cùng một mẹ sinh ra, có đứa con thì ngoan hiền, có đứa lại hư hỏng; TRANG 33 ထိုကဲ့သို့ ကွာခြားသည့်အားလျော်စွာ လောကီဆိုင်ရာနှင့် သံသရာရေးတို့၌ ဉာဏ်ရှိသူကား ကြီးကျယ်ထွန်းကား၊ ဉာဏ်မရှိသူက ပျက်ပြားနစ်မွန်းရပုံကိုလည်းကောင်း စဉ်းစား၍ ဤ “သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓ” ဂုဏ်တော်ကို ကြည်ညိုကာ မိမိ၏ပညာပါရမီကို အမြဲတိုးပွားအောင် ကြိုးစားကြပါလေ။ → và sự khác biệt đó dẫn đến việc người có trí thì thành tựu vẻ vang trong cả đời đời sống thế tục lẫn nẻo luân hồi, còn người không trí thì bại hoại, chìm đắm; hãy suy xét như vậy để lòng thành kính hướng về ân đức "Sammāsambuddha" và nỗ lực làm tăng trưởng ba-la-mật trí tuệ của chính mình. “မရှိတာထက် မသိတာခက်” → "Không biết còn khổ hơn là không có." ဝိဇ္ဇာစရဏသမ္ပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Vijjācaraṇasampanna (Để học thuộc) (၃) သော ဘဂဝါ-ထိုရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်။ → (3) So Bhagavā: Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của ánh vinh quang vàng son (hồng danh cao thượng) ấy. ဣတိပိ ဣမိနာ စ ကာရဏေန-သုံးပါး၊ ရှစ်ပါး၊ ၂-မျိုးအားဖြင့်၊ ဟောထားပညာ၊ ဉာဏ်ဝိဇ္ဇာတည်း၊ နိဗ္ဗာန်ဓာတ်၊ အမြိုက်ရပ်သို့၊ ဆိုက်ကပ်ရန်ဖြင့်၊ အမှန်သင့်သည့်၊ အကျင့်စရဏ၊ ဆယ့်ငါးဝနှင့်၊ တကွပြည့်စုံ၊ ပြည့်စုံတော်မူသော ဤအကြောင်းကြောင့်လည်း။ → Itipi iminā ca kāraṇena: Chính vì lý do Ngài thành tựu trọn vẹn với Minh (Vijjā) — gồm 3 minh hoặc 8 minh như đã thuyết giảng — cùng với 15 Hạnh (Caraṇa), là những pháp thực hành chân chánh để đạt đến cõi bất tử Niết-bàn. ဝိဇ္ဇာစရဏ သမ္ပန္နော-ဝိဇ္ဇာစရဏသမ္ပန္နဟူသော ဂုဏ်တော်ကြီးဖြင့်၊ အံ့ချီး၍မကုန်၊ ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်၊ ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား၊ ထင်ရှားတော်မူပါပေသည်တကား။ → Vijjācaraṇasampanno: Vì lẽ đó, Ngài nổi danh lừng lẫy, vang xa đến tận cõi Phạm thiên, được ca tụng không xiết kể với ân đức cao thượng được gọi là Vijjācaraṇasampanna (Bậc Minh Hạnh Túc). ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để tham khảo ဝိဇ္ဇာစရဏသမ္ပန္နဂုဏ်တော်သည် “ဝိဇ္ဇာတရား၊ စရဏတရားနှင့် ပြည့်စုံတော်မူ၏” ဟူသော အနက်ကို ပြ၏။ → Ân đức Vijjācaraṇasampanna thể hiện ý nghĩa là "Ngài thành tựu trọn vẹn pháp Minh và pháp Hạnh". [ဝိဇ္ဇာ = အသိဉာဏ် + စရဏ = အကျင့် + သမ္ပန္န = ပြည့်စုံ၏။] → [Vijjā = tri thức (Minh) + Caraṇa = thực hành (Hạnh) + Sampanna = thành tựu trọn vẹn]. TRANG 34 သုံးပါး၊ ရှစ်ပါး-ဉာဏ်ဝိဇ္ဇာတည်း။ → Tam minh (3 minh) và Bát minh (8 minh) chính là Trí tuệ (Vijjā). အသိဉာဏ်ပညာဟူသော ဝိဇ္ဇာကို အချို့သုတ္တန်ဒေသနာတော်၌ ၃-ပါး၊ အချို့သုတ္တန်ဒေသနာတော်၌ ၈-ပါးဟု ၂-မျိုးအားဖြင့် ဟောထားတော်မူသောကြောင့် “ဝိဇ္ဇာသုံးပါး၊ ဝိဇ္ဇာရှစ်ပါး” ဟု ကွဲနေသည်။ → Trí tuệ được gọi là Minh (Vijjā) này, vì trong một số bài kinh thuộc Kinh Tạng (Sutta) được thuyết giảng là 3 loại, và trong một số bài kinh khác lại được thuyết là 8 loại, nên mới có sự phân biệt thành "Tam minh" và "Bát minh". [ဆောင်] သုံးပါး ဝိဇ္ဇာ၊ ပု-ဒိ-အာနှင့်၊ ဝိဇ္ဇာရှစ်ရပ်၊ ဝိပဿနာဉာဏ်၊ မနောမယိဒ္ဓိ၊ ဒိဗ္ဗနှင့်ဣဒ္ဓိ၊ ထည့်သိရေတွက်လေ။ → [Kệ nhớ] Tam minh gồm: Pubbe (Túc mạng minh), Dibba (Thiên nhãn minh) và Āsava (Lậu tận minh); Bát minh thì thêm vào: Vipassanā-ñāṇa (Vipassanā trí), Manomayiddhi (Ý sinh thân), Dibba-sota (Thiên nhĩ thông) và Iddhividha (Thần túc thông), hãy ghi nhớ và đếm đủ như vậy. ဝိဇ္ဇာသုံးပါး → Tam Minh (Vijjā 3) ပုဗ္ဗေနိဝါသာနုဿတိဉာဏ်။ → Pubbenivāsānussati-ñāṇa: Túc mạng minh. ရှေးရှေးဘဝ၌ ကြုံတွေ့ခဲ့သမျှကို ပြန်၍ အောက်မေ့နိုင်သောဉာဏ်။ → Trí tuệ có khả năng nhớ lại tất cả những gì đã trải qua trong các đời sống quá khứ. ဒိဗ္ဗစက္ခုဉာဏ်။ → Dibba-cakkhu-ñāṇa: Thiên nhãn minh. နတ်မျက်စိကဲ့သို့ ဝေးကွာသော အဆင်း၊ သေးငယ်သော အဆင်းကို မြင်နိုင်သောဉာဏ်။ → Trí tuệ có khả năng nhìn thấy các hình sắc ở xa hoặc các hình sắc cực kỳ nhỏ bé giống như thiên nhãn. အာသဝက္ခယဉာဏ်။ → Āsavakkhaya-ñāṇa: Lậu tận minh. ကိလေသာ အာသဝေါတို့ကို ကုန်စေနိုင်သော အရဟတ္တမဂ်ဉာဏ်။ → Trí tuệ của A-la-hán Đạo có khả năng đoạn tận các lậu hoặc phiền não. ဝိဇ္ဇာရှစ်ပါး → Bát Minh (Vijjā 8) ဝိပဿနာဉာဏ်။ → Vipassanā-ñāṇa: Vipassanā trí. “အနိစ္စ ဒုက္ခ အနတ္တ” ဟု ရုပ်နာမ်တရားအားလုံးကို သိမြင်နိုင်သောဉာဏ်။ → Trí tuệ có khả năng thấu thị tất cả các danh sắc pháp là "Vô thường, Khổ, Vô ngã". စေတောပရိယဉာဏ်။ → Cetopariya-ñāṇa: Tha tâm thông. သူတစ်ပါး၏ စိတ်ကိုသိနိုင်သောဉာဏ်။ → Trí tuệ có khả năng biết được tâm ý của người khác. မနောမယိဒ္ဓိဉာဏ်။ → Manomayiddhi-ñāṇa: Ý sinh thân trí. မိမိခန္ဓာကိုယ်အတွင်း၌ အလားတူကိုယ်တစ်မျိုးကို စိတ်ဖြင့် ဖန်ဆင်းနိုင်သောဉာဏ်။ → Trí tuệ có khả năng dùng tâm tạo ra một thân xác khác tương tự ngay bên trong cơ thể mình. TRANG 35 ဒိဗ္ဗသောတဉာဏ်။ → Dibba-sota-ñāṇa: Thiên nhĩ minh. နတ်တို့၏ နားကဲ့သို့ ဝေးသော အသံ၊ သေးငယ်သော အသံကို ကြားနိုင်သောဉာဏ်။ → Trí tuệ có khả năng nghe được các âm thanh ở xa hoặc cực nhỏ giống như tai của chư Thiên. ဣဒ္ဓိဝိဓဉာဏ်။ → Iddhividha-ñāṇa: Thần túc thông. မြေလျှိုး မိုးပျံ စသည်ဖြင့် တန်ခိုးအမျိုးမျိုးကို ဖန်ဆင်းနိုင်သောဉာဏ်။ → Trí tuệ có khả năng tạo ra các loại thần thông khác nhau như độn thổ, bay liệng trên không, v.v. ရှေ့ ၃-ပါးတွင် ဤငါးပါးကိုထည့်လျှင် ဝိဇ္ဇာရှစ်ပါးဖြစ်၏။ → Khi thêm 5 loại này vào 3 loại trước đó thì thành Bát minh. နိဗ္ဗာန်ဓာတ်-အကျင့်စရဏ။ → Bản thể Niết-bàn và Pháp Hạnh (Caraṇa). မပျက်စီးနိုင်သောအရာကို “အမြိုက်” ဟု ခေါ်၏။ → Thứ gì không thể bị tiêu diệt thì gọi là "Bất tử" (Amata/Amyite). ထိုအမြိုက်နှင့်တူသော နိဗ္ဗာန်ဓာတ်သို့ ရောက်ဖို့ရန်ကျင့်သော အကျင့်ကို “စရဏ” ဟုခေါ်သည်။ → Pháp thực hành để đạt đến bản thể Niết-bàn bất tử đó được gọi là "Caraṇa" (Hạnh). စရဏ ၁၅-ပါး → 15 Pháp Hạnh (Caraṇa 15) [ဆောင်] သဒ္ဓါ သတိ၊ ဟိရီသြတ္တပ်၊ ဝီရိယနှင့်၊ သုတပညာ၊ ခုနစ်ဖြာ၊ သဒ္ဓမ္မ ဟုပြု။ → [Kệ nhớ] Đức tin (Saddhā), Niệm (Sati), Tàm (Hirī), Quý (Ottappa), Tinh tấn (Viriya), Đa văn (Suta) và Tuệ (Paññā); bảy pháp này tạo thành Chánh pháp (Saddhamma). ထိုသဒ္ဓမ္မ၊ ခုနစ်ဖြာနှင့်၊ ဘော ဇာ သီ ဣန္ဒြ၊ ဈာန်လေးကြိမ်ထား၊ ဤဆယ့်ငါး၊ မှတ်သား စရဏ။ → Cùng với bảy pháp Saddhamma đó, cộng thêm: Tiết độ trong ăn uống (Bhojana), Cảnh giác (Jāgariya), Giới (Sīla), Kiểm soát căn môn (Indriya) và bốn tầng Thiền (Jhāna); hãy ghi nhớ mười lăm pháp này là Caraṇa. သဒ္ဓါ-“ကုသိုလ်-အကုသိုလ်ကံရှိသည်။ ထိုကံ၏ ကောင်းကျိုး မကောင်းကျိုးရှိသည်။ ရတနာသုံးပါး ရှိသည်။ နောင်ဘဝ ရှိသည်” ဟု ယုံကြည်မှု။ → Saddhā: Niềm tin rằng "Có nghiệp thiện và bất thiện; có quả lành và quả dữ của nghiệp đó; có Tam Bảo; có đời sau". သတိ-ကုသိုလ်ကောင်းမှု ဆိုင်ရာ၌ အမှတ်ရမှု။ → Sati: Sự ghi nhớ, chú tâm vào các việc thiện lành. ဟိရီ-ကောင်းမှု ဒုစရိုက်မှ ရှက်မှု။ → Hirī: Sự hổ thẹn đối với các hành vi ác hạnh. သြတ္တပ္ပ-မကောင်းမှု ဒုစရိုက်မှ ကြောက်လန့်မှု။ → Ottappa: Sự ghê sợ đối với các hành vi ác hạnh. TRANG 36 ဝီရိယ-ကုသိုလ်ကောင်းမှုကိုစွဲမြဲ အားထုတ်မှု။ → Viriya: Sự kiên trì nỗ lực trong các việc thiện lành. သုတ-အကြားအမြင်များမှု။ → Suta: Sự nghe nhiều biết rộng (Đa văn). ပညာ-အရာရာ၌ တတ်သိ လိမ္မာမှု။ → Paññā: Sự thấu hiểu và khôn ngoan trong mọi việc. ဤကား “သဒ္ဓမ္မ” ဟု ခေါ်အပ်သော သူတော်ကောင်းတရား ၇-ပါးတည်း။ → Đây chính là 7 pháp của bậc thiện trí thức được gọi là "Saddhamma". [သူတော်ဥစ္စာကား သတိနှင့် ဝီရိယကို နှုတ်ပြီးလျှင် သီလ (သီလစောင့်မှု) စာဂ (စွန့်ကြဲလှူဒါန်းမှု) ထည့်၍ ရေတွက်ရသည်။] → [Đối với "Tài sản của bậc thiện nam" (Saddhamma-dhana), thì phải bỏ Niệm và Tinh tấn ra, rồi thêm vào Giới (Giữ giới) và Thí (Bố thí) để đếm cho đủ]. ဘောဇနေမတ္တညုတတာ-စားသောက်ရာ၌ မိမိနှင့် သင့်မသင့် နှိုင်းချင့်၍ အတိုင်းအရှည်သိမှု။ → Bhojanemattaññutatā: Sự tiết độ trong ăn uống, biết cân nhắc và biết chừng mực cái gì hợp hay không hợp với mình. ဇာဂရိယာနုယောဂ-နိုးနိုးကြားကြား အိပ်မှု၊ အအိပ်အနေ နည်းမှု။ → Jāgariyānuyoga: Sự tỉnh giác trong giấc ngủ, ngủ ít và luôn tỉnh táo. သီလ-ဆိုင်ရာသီလကို နေ့စဉ်စောင့်ထိန်းမှု။ → Sīla: Sự hộ trì và giữ gìn các giới luật liên quan hàng ngày. ဣန္ဒြိယသံဝရ-တွေ့မြင် ကြားသိသမျှ၌ လောဘ ဒေါသ စသည် မဖြစ်စေဘဲ မျက်စိ နား နှာ စသော ဣန္ဒြေများကို ငြိမ်သက်အောင် စောင့်စည်းမှု။ → Indriyasaṃvara: Sự thu thúc các căn môn như mắt, tai, mũi, v.v., để giữ tâm bình lặng, không cho tham, sân khởi lên đối với những gì mắt thấy tai nghe. ပဌမဈာန်၊ ဒုတိယဈာန်၊ တတိယဈာန်၊ စတုတ္ထဈာန်၊ ပေါင်း စရဏ ၁၅-ပါး ဖြစ်၏။ → Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền; tổng cộng thành 15 pháp Caraṇa. “ဝိဇ္ဇာ” ဟူသော အသိဉာဏ်ရှိသော်လည်း “စရဏ” ဟူသော အကျင့်မရှိက နိဗ္ဗာန်မရနိုင်။ → Dẫu có trí tuệ gọi là "Minh" (Vijjā), nhưng nếu không có sự thực hành gọi là "Hạnh" (Caraṇa) thì không thể đạt được Niết-bàn. “စရဏ” အကျင့်သာရှိ၍ “ဝိဇ္ဇာ” ဟူသော အသိဉာဏ်မရှိလျှင် လမ်းမှန်မရောက်ဘဲ အလွဲကိုကျင့်နေသဖြင့် ခရီးတွင်ဘဲရှိမည်။ → Nếu chỉ có thực hành "Hạnh" mà không có trí tuệ "Minh", hành giả sẽ không đến được con đường đúng đắn mà chỉ thực hành sai lạc, mãi quẩn quanh trên đường. ရှင်တော်မြတ်ဘုရားကား အထွတ်အထိပ်ဖြစ်သော ဝိဇ္ဇာ-ဉာဏ်၊ စရဏ-အကျင့်နှင့် ပြည့်စုံတော်မူပါသည်။ → Riêng Đức Thế Tôn thì thành tựu trọn vẹn cả Minh-trí và Hạnh-trí ở mức độ tối thượng. TRANG 37 တိုက်တွန်းချက်။ → Lời khuyến tấn. အရာရာ၌ အသိဉာဏ်ဖြင့် အမှန်ကို ကျင့်ကြံအားထုတ်မှသာ ထမြောက်နိုင်သည်။ → Trong mọi việc, chỉ khi thực hành đúng đắn bằng trí tuệ thì mới có thể đạt được thành tựu. ယခုအခါ၌ကား အသိဉာဏ်ရှိပါလျက် သိသလောက် ကျင့်ကြံအားထုတ်မှု “စရဏ” မရှိသောကြောင့် အောက်ကျနောက်ကျ ဖြစ်နေသူတွေ များလှ၏။ → Ngày nay, có rất nhiều người dù có trí tuệ nhưng vì thiếu sự thực hành "Caraṇa" tương xứng nên lâm vào cảnh trì trệ, tụt hậu. ထို့ကြောင့် ဘုရားရှင်၏ “ဝိဇ္ဇာစရဏသမ္ပန္န” ဂုဏ်တော်ကို အာရုံပြုလျက် ကြည်ညိုကြပြီးလျှင် မိမိသန္တာန်၌ အသိရော အကျင့်ပါ ၂-ဖြာလုံး ပြည့်စုံအောင် ကြိုးစားသင့်ကြသတည်း။ → Vì vậy, hãy hướng tâm chiêm bái ân đức "Vijjācaraṇasampanna" của Đức Thế Tôn và nỗ lực để tự thân mình thành tựu trọn vẹn cả hai phương diện: Hiểu biết và Thực hành. သုဂတ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Sugata (Để học thuộc) (၄) သော ဘဂဝါ-ထိုရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်။ → (4) So Bhagavā: Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của ánh vinh quang vàng son (hồng danh cao thượng) ấy. ဣတိပိ ဣမိနာ စ ကာရဏေန-ဒီပင်္ကရာ၊ ထုတ်ချာသန်း၊ ခြေတော်ရင်းမှ၊ မှန်ကင်းသိရီ၊ ဗောဓိမဏ္ဍိုင်၊ ခန်းဝါပိုင်အောင်၊ ဆယ်ခိုင်ပါရမီ၊ စုံပြည်ညီလျက်၊ သုံးလီဘဝ၊ များသတ္တ၏၊ သုခစီးပွား၊ ကျင့်သောအားဖြင့်၊ မိုက်မှားအယူ၊ မိစ္ဆာဟူက၊ ဆံဖြူတစ်စိ၊ မကပ်ငြိဘဲ၊ သတိသမ္ဗဇဉ်၊ မပြတ်ယှဉ်လျက်၊ သဗ္ဗညုဉာဏ်တော်၊ ရကြောင်းဇော်၍၊ ကြွတော်မူခဲ့သော ဤအကြောင်းကြောင့်လည်း။ → Itipi iminā ca kāraṇena: Chính vì lý do Ngài đã bước đi (đến đích) bằng cách thực hành trọn vẹn mười ba-la-mật, khởi đầu từ dưới chân đức Phật Dīpaṅkarā cho đến khi đắc chứng đạo quả dưới cội Bồ-đề vinh quang, vì lợi ích và hạnh phúc của chúng sinh trong ba cõi; Ngài luôn duy trì Chánh niệm và Tỉnh giác, không để vướng kẹt dù chỉ một mảy may vào các tà kiến sai lạc, dốc lòng hướng đến chứng đắc Nhất Thiết Chủng Trí. သုဂတော-သုဂတဟူသော ဂုဏ်တော်ကြီးဖြင့်၊ အံ့ချီး၍မကုန်၊ ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်၊ ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား၊ ထင်ရှားတော်မူပါပေသည်တကား။ → Sugato: Vì lẽ đó, Ngài nổi danh lừng lẫy, vang xa đến tận cõi Phạm thiên, được ca tụng không xiết kể với ân đức cao thượng được gọi là Sugata (Bậc Thiện Thệ). TRANG 38 သုဂတ ဂုဏ်တော်၏ အဓိပ္ပာယ်မှာ “ကောင်းစွာ ကြွတော်မူခဲ့၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ → Ý nghĩa của ân đức Sugata thể hiện qua nội dung là "Ngài đã khéo đi đến đích" (đã ngự đi một cách tốt đẹp). [သု = ကောင်းစွာ + ဂတ = ကြွတော်မူခဲ့သည်။] → [Su = tốt đẹp/khéo + Gata = đã đi/ngự đi]. ထုတ်ချာသန်း။ ။ အထွတ်အထိပ် အချုပ်အခြာ မြင့်မြတ်သော ဘုရားရှင်။ → Thôk-char-thán (ထုတ်ချာသန်း): Đức Thế Tôn là bậc tối thượng, là cứu cánh và là bậc cao quý nhất. မှန်ကင်းသိရီ။ ။ ပြာသာဒ် စသည်တို့၏ အထွတ်၌ တပ်ထားအပ်သော တုရင်မှန်ကင်းကဲ့သို့ မိုးမှောက်နေသော မြေပေါ်ဝယ် ကျက်သရေရှိသော ဗောဓိပင်။ → Hmân-kín-thi-ri (မှန်ကင်းသိရီ): Cội Bồ-đề rực rỡ vinh quang trên mặt đất, giống như đỉnh chóp (turing) được đặt trên nóc các tòa lâu đài hay cung điện. ဗောဓိမဏ္ဍိုင်။ ။ ဗောဓိပင်ပေါက်ရာ မြေအရပ်သည် ဇမ္ဗူဒီပကျွန်း၏ အလယ်ဗဟို မဏ္ဍိုင်ဖြစ်သောကြောင့် ဗောဓိပင်ကိုလည်း “မဏ္ဍိုင်” ဟု ဆိုသည်။ → Bodhimaṇḍိုင် (ဗောဓိမဏ္ဍိုင်): Nơi cội Bồ-đề mọc lên là tâm điểm, là trục chính của châu Diêm-phù-đề (Jambudīpa), nên cội Bồ-đề cũng được gọi là "Trục chính" (Mဏ္ဍိုင်). (တစ်နည်း) ဗောဓိပင်ကိုပင် သဗ္ဗညုတဉာဏ်၏ ကြည်လင်ရာဖြစ်၍ ဗောဓိမဏ္ဍိုင်ဟု ဆိုသည်။ → (Cách khác) Chính cội Bồ-đề là nơi Nhất Thiết Chủng Trí (Sabbaññuta-ñāṇa) trở nên sáng tỏ, nên được gọi là Bodhimaṇḍိုင်. [ဤနည်း၌ “ကြည်လင်ခြင်း” အနက်ကိုဟောသော “မဏ္ဍ” ဟူသော ပါဠိမှ မဏ္ဍိုင်ဖြစ်လာသည်ဟု ကြံပါ။] → [Theo cách này, hãy hiểu rằng từ Mဏ္ဍိုင် xuất phát từ chữ Pali "Maṇḍa" mang nghĩa là "sự trong sáng/tinh khiết"]. ခန်းဝါပိုင်အောင်။ ။ အရောင်အဝါရှိသော ခန်းဆောင်နေရာကို “ခန်းဝါ” ဟု ခေါ်သည်။ → Khán-war-paing-aung (ခန်းဝါပိုင်အောင်): Nơi phòng ốc có ánh hào quang rực rỡ được gọi là "Khán-war" (ခန်းဝါ). ဤ၌ ဗောဓိပင်ကို အရောင်အဝါရှိသော အခန်းဆောင်ကဲ့သို့ ဥပမာပြုထားသည်။ → Ở đây, cội Bồ-đề được ví như một căn phòng rực rỡ ánh sáng. “ရောင်ဝါထိန်လွှမ်းသည့် အခန်းဆောင်သို့ရောက်လျှင် အင်မတန် အဖိုးတန်သော ရတနာကို ရသကဲ့သို့၊ သဗ္ဗညုတဉာဏ်တည်းဟူသော အဖိုးတန်ရတနာကိုလည်း ဗောဓိမဏ္ဍိုင်တည်းဟူသောနေရာ၌ ရတော်မူသည်” ဟူလို။ → "Giống như khi vào một căn phòng ngập tràn ánh sáng thì thu được báu vật vô giá, Đức Phật cũng đã đắc được báu vật vô giá là Nhất Thiết Chủng Trí tại chính nơi gọi là Bodhimaṇḍိုင် này." TRANG 39 ဘုရားရှင်သည် ဘုရားဆုပန်တော်မူရာ ဒီပင်္ကရာထုတ်ချာသန်း တရားမင်း၏ ခြေတော်ရင်းမှစ၍ “ဗောဓိမဏ္ဍိုင်” တည်းဟူသော ခန်းဝါဆောင်နန်းကို စိုးပိုင်စံမြန်းတော်မူလျက် ဘုရားဖြစ်သည်တိုင်အောင် (ကာမ, ရူပ, အရူပအားဖြင့် ဘဝသုံးပါး၌ရှိသော) သတ္တဝါအများ၏ စီးပွားချမ်းသာအလို့ငှာ ပါရမီဆယ်ပါးကို အစုံအညီ ဖြည့်ကျင့်တော်မူခဲ့ပေသည်။ → Kể từ khi phát nguyện dưới chân Đức Phật Dīpaṅkarā cao thượng cho đến khi đắc chứng Phật quả tại "Bodhimaṇḍိုင်" rực rỡ, Ngài đã thực hành trọn vẹn mười ba-la-mật vì lợi ích và hạnh phúc của vô số chúng sinh (trong ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới). ထိုဖြည့်ကျင့်စဉ်အခါ၌ မိစ္ဆာအယူဟူသော မိစ္ဆာဒိဋ္ဌိ အယူဆိုးကြီးများလည်း ကိုယ်တော်၏သန္တာန်၌ တစ်ဆံခြည်မျှ မြူမှုန်ကလေးမျှ တစိတစိ မကပ်ငြိရအောင် လေးအသင်္ချေနှင့် ကမ္ဘာတစ်သိန်းပတ်လုံး ဘဝဆက်တိုင်း လွန်ကဲသော သတိ “သမ္ဗဇဉ်” ဟု ခေါ်အပ်သော ပညာတရားတို့ကို အမြဲလက်ကိုင်ထားတော်မူ၍ သဗ္ဗညုတဉာဏ်တော်အရှင် ဘုရားရှင်အဖြစ်သို့ ရောက်ဖို့ရန်သာ ဖြောင့်ဖြောင့်မှန်မှန် ကျင့်ကြံတော်မူခဲ့ပေသည်။ → Trong suốt quá trình tu tập bốn tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, Ngài luôn nắm giữ giáo pháp trí tuệ được gọi là Chánh niệm và "Tỉnh giác" (Sampajañña) cực kỳ cao tột qua mọi đời kiếp, để không một mảy may tà kiến (Micchā-diṭṭhi) nào có thể bám dính vào tâm thức, và Ngài đã thực hành một cách ngay thẳng, đúng đắn chỉ để đạt đến quả vị Phật, bậc chủ tể của Nhất Thiết Chủng Trí. [ဤနေရာ၌ ရပ်တန့်၍ “ဘုရားရှင်သည် ပါရမီဖြည့်တော်မူစဉ်က မိစ္ဆာအယူကို မယုံမိအောင် သတိနှင့်ဉာဏ် အမြဲရှိပုံကို” အာရုံပြုလိုက်ပါ။] → [Tại điểm này hãy dừng lại và quán tưởng rằng: "Trong khi thực hành ba-la-mật, Đức Thế Tôn đã luôn duy trì Chánh niệm và Trí tuệ để không bao giờ tin theo tà kiến"]. တိုက်တွန်းချက်။ → Lời khuyến tấn. သာသနာပအခါဝယ် မိစ္ဆာအယူများတွေ့ လွန်စွာလွှမ်းမိုးလာမည်ဖြစ်၍ ဘုရားရှင်၏ သုဂတဂုဏ်တော်ကို ကြည်ညိုပြီးလျှင် မိမိတို့လည်း မိစ္ဆာအယူဟူသမျှ ဘဝဆက်တိုင်း မကပ်ငြိ မယုံမိအောင် သတိပညာတရားကို သန်သန်ကြီးထားအပ်ကြကုန်၏။ → Trong thời kỳ không có giáo pháp (ngoài giáo pháp), các tà kiến sẽ xuất hiện và lấn lướt mạnh mẽ; do đó, sau khi thành kính hướng về ân đức Sugata của Đức Thế Tôn, chính chúng ta cũng phải giữ vững Chánh niệm và Trí tuệ thật mạnh mẽ để không bị vướng kẹt hay tin theo bất kỳ tà kiến nào trong mọi đời kiếp. “ကုသိုလ်ကံ အကုသိုလ်ကံရှိ၏၊ ထိုကံ၏ ကောင်းကျိုး မကောင်းကျိုးရှိ၏” ဟု ကံနှင့်ကံ၏အကျိုးကို နားလည်သော “ကမ္မဿကတာဉာဏ်” ကို မိမိသန္တာန်၌ဖြစ်အောင် ပထမကြိုးစားသင့်၏။ → Trước tiên, cần nỗ lực làm khởi phát nơi chính mình "Nghiệp tự hữu trí" (Kammassakatā-ñāṇa) — tức là sự hiểu biết về nghiệp và quả của nghiệp rằng: "Có nghiệp thiện và nghiệp bất thiện; có quả báo lành và quả báo dữ của các nghiệp đó". TRANG 40 ထို့နောက် “ဤခန္ဓာကိုယ်၌ ရုပ်တရား နာမ်တရားသာ ရှိ၏” ဟု သိအောင် ဆရာသမားအထံ မေးမြန်း၍ ထိုရုပ်နာမ်၏ အနိစ္စ, ဒုက္ခ, အနတ္တဖြစ်ပုံကို နားလည်သော ဝိပဿနာဉာဏ်ဖြစ်အောင် ကြိုးစားပါ။ → Sau đó, hãy học hỏi nơi bậc thầy để biết rằng "Trong thân thể này chỉ có danh pháp và sắc pháp", rồi nỗ lực hành trì để đạt được tuệ Minh sát (Vipassanā-ñāṇa) — tức là sự thấu hiểu về tính chất Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha) và Vô ngã (Anatta) của danh sắc đó. ထိုသို့သိလျှင် ပါရမီဖြည့်လိုသော သို့မဟုတ် ကမ္မဋ္ဌာန်းအားထုတ်လိုသောဆန္ဒ ပြင်းပြ၍ မိစ္ဆာအယူသမ္မတ ဂုဏ်ပကာသနစိတ်တွေပါ ကင်းဝေးသွားပါလိမ့်မည်။ → Khi đã hiểu biết như vậy, nguyện vọng muốn bồi đắp ba-la-mật hoặc muốn thực hành thiền định sẽ trở nên mãnh liệt, và những tâm ý dính mắc vào tà kiến hay danh lợi hào nhoáng cũng sẽ tự nhiên xa rời. လောကဝိဒူ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Lokavidū (Để học thuộc) (၅) သော ဘဂဝါ-ထိုရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်။ → (5) So Bhagavā: Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của ánh vinh quang vàng son (hồng danh cao thượng) ấy. ဣတိပိ ဣမိနာ စ ကာရဏေန-သတ္တောကာသ၊ သင်္ခါရဟု၊ လောကသုံးဘုံ၊ အလုံးစုံကို၊ အာရုံထင်စွာ၊ ပိုင်းခြားကာဖြင့်၊ ကောင်းစွာကုန်စင်၊ သိမြင်တော်မူသော ဤအကြောင်းကြောင့်လည်း။ → Itipi iminā ca khoaṇena: Chính vì lý do Ngài đã thấu suốt một cách rõ ràng, phân biệt rành mạch và trọn vẹn tất cả ba loại thế gian: Sattaloka (Chúng sinh thế gian), Okāsaloka (Cõi thế gian) và Saṅkhāraloka (Hành thế gian). လောကဝိဒူ-လောကဝိဒူဟူသော ဂုဏ်တော်ကြီးဖြင့်၊ အံ့ချီး၍မကုန်၊ ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်၊ ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား၊ ထင်ရှားတော်မူပါပေသည်တကား။ → Lokavidū: Vì lẽ đó, Ngài nổi danh lừng lẫy, vang xa đến tận cõi Phạm thiên, được ca tụng không xiết kể với ân đức cao thượng được gọi là Lokavidū (Bậc Thế Gian Giải). ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để tham khảo လောကဝိဒူဂုဏ်တော်သည် “လောကအားလုံးကို သိမြင်တော်မူနိုင်ပေ၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ → Ân đức Lokavidū thể hiện ý nghĩa là "Ngài có thể thấu thị tất cả các thế gian". [လောက = ကမ္ဘာလောကကြီးကို + ဝိဒူ = သိတော်မူနိုင်သည်] → [Loka = thế giới/thế gian + Vidū = có thể biết/thấu suốt]. TRANG 41 လောကသုံးပါး။ ။ သတ္တလောက၊ သြကာသလောက၊ သင်္ခါရလောကဟု လောကသုံးပါးရှိ၏။ → Ba loại thế gian: Có ba loại thế gian là Sattaloka, Okāsaloka và Saṅkhāraloka. သက်ရှိသတ္တဝါအပေါင်းသည် သတ္တလောကမည်၏။ → Toàn thể các chúng sinh hữu tình được gọi là Sattaloka (Chúng sinh thế gian). သတ္တဝါတို့၏ တည်နေရာဘုံဌာနသည်လည်းကောင်း၊ ဘုံမရှိသော နေရာဌာနသည်လည်းကောင်း သြကာသလောကမည်၏။ → Nơi cư ngụ, trú xứ của chúng sinh, cũng như những khoảng không gian không có cảnh giới cư ngụ, được gọi là Okāsaloka (Cõi thế gian). ရုပ်တရား၊ နာမ်တရားအားလုံးသည် သင်္ခါရလောကမည်၏။ → Tất cả các sắc pháp và danh pháp được gọi là Saṅkhāraloka (Hành thế gian). သတ္တလောက သိတော်မူပုံ။ ။ “ဤကမ္ဘာလောကကြီး၌ အပါယ်လေးပါးတွင် ခြတောင်ပို့တစ်ခု၌ ခြသတ္တဝါပေါင်းများစွာ၊ ပုရွက်တွင်း တစ်တွင်း၌ ပုရွက်သတ္တဝါပေါင်းများစွာ၊ ငါးဥတစ်ခု၌ ငါးသတ္တဝါလေးတွေများစွာ၊ ပြိတ္တာသတ္တဝါတွေများစွာ၊ ငရဲသတ္တဝါတွေများစွာ၊ လူနတ်ဗြဟ္မာသတ္တဝါတွေ များစွာရှိသည်” ဟု သိရုံမျှဖြင့် ဆန်းကျယ်လှသည် မဟုတ်ပါ။ → Cách thấu suốt về Chúng sinh thế gian (Sattaloka): Việc chỉ biết rằng "Trong thế giới này, ở bốn đường ác đạo, có vô số chúng sinh là mối trong một tổ mối, vô số chúng sinh là kiến trong một hang kiến, vô số cá con trong một bọc trứng cá, hay có vô số chúng sinh ngạ quỷ, chúng sinh địa ngục, và vô số chúng sinh người, trời, phạm thiên" thì vẫn chưa phải là điều quá kỳ diệu. ဘုရားရှင်ကား ထိုသိမှုမျိုးထက် လွန်၍ သတ္တဝါတစ်ယောက်ကို “ဤသူသည် စရိုက်အမျိုးမျိုးတွင် မည်သည့်စရိုက်က လွန်ကဲနေ၏။ အနုသယအမျိုးမျိုးတွင် မည်သည့်အနုသယက ထက်သန်နေ၏။ ပင်ကိုယ်ဆန္ဒ ညံ့ဖျင်း၏ သို့မဟုတ် ထက်သန်၏။ သဒ္ဓါစသော ဣန္ဒြေ ၅-ပါးတွင် မည်သည့်ဣန္ဒြေက ထက်မြက်၍ မည်သည့်ဣန္ဒြေက ညံ့သေး၏” စသည်ဖြင့် သိတော်မူပါသည်။ → Nhưng Đức Thế Tôn còn thấu suốt vượt xa hơn sự hiểu biết đó; đối với một chúng sinh, Ngài biết rằng: "Người này trong các loại tính cách (carita) thì tính cách nào đang nổi trội; trong các loại phiền não ngủ ngầm (anusaya) thì loại nào đang mạnh mẽ; ý muốn nội tại là yếu kém hay mãnh liệt; trong năm căn (indriya) như đức tin, v.v., thì căn nào sắc bén và căn nào còn yếu ớt", v.v. ထိုသို့ သိတော်မူရာ၌ အတွေးအခေါ်အားဖြင့် မှန်းဆ၍ သိတော်မူခြင်း မဟုတ်။ → Sự thấu suốt như vậy không phải là do suy luận hay đoán mò. ဆရာဝန်သည် ပြွန်တံဖြင့် လူနာ၏ အပူဒီဂရီကို ချိန်ကြည့်သောအခါ တက်သော အပူဒီဂရီကို သိနိုင်သကဲ့သို့ ထို (သို့) ... → Giống như vị bác sĩ khi dùng nhiệt kế đo nhiệt độ của bệnh nhân thì có thể biết chính xác độ sốt đang tăng lên như thế nào, cũng như vậy... TRANG 42 သတ္တဝါ၏ အတွင်းဓာတ် အခြေအနေအားလုံးကို ကွဲကွဲပြားပြားနှင့် ထင်ရှားစွာ သိမြင်တော်မူနိုင်ပါသည်။ → Ngài có thể thấu suốt một cách rõ ràng, phân biệt rành mạch và hiển nhiên tất cả mọi trạng thái tâm tính nội tại của chúng sinh. [စရိုက်-အနုသယ-ဣန္ဒြေတို့၏ အကြောင်းများမှာ အဘိဓမ္မာနှင့် သက်ဆိုင်သောကြောင့် မိမိတို့လေ့လာနေကျ အဘိဓမ္မာကျမ်းစာများ၌ ရှာဖွေကြည့်ရှု၍လည်းကောင်း၊ မေးမြန်း၍လည်းကောင်း သိပါလေ။] → [Vì các nội dung về Tính cách (Carita), Phiền não ngủ ngầm (Anusaya) và Căn (Indriya) thuộc về lĩnh vực A-tỳ-đàm (Abhidhamma), nên hãy tìm hiểu thêm trong các kinh sách A-tỳ-đàm mà quý vị thường học hoặc hỏi han các bậc thầy để được rõ]. သြကာသလောက သိတော်မူပုံ။ ။ သတ္တဝါတို့နေရာ ကမ္ဘာလောကကြီး တည်နေပုံကိုပြရာ၌ ကျမ်းဂန်အဆိုသည် ယခုခေတ် လောကဓာတ်ဆရာတို့၏ အယူအဆနှင့် မတူသည်ရှိနေ၏။ → Cách thấu suốt về Cõi thế gian (Okāsaloka): Khi trình bày về cách thức tồn tại của thế giới nơi chúng sinh cư ngụ, những ghi chép trong giáo điển có những điểm không giống với quan điểm của các nhà khoa học tự nhiên thời nay. ကမ္ဘာတည်နေဟန်ကို ပါဠိကျမ်းဂန်များ၌ ဆိုပုံကား- ဤမြေကြီးသည် အထု(အထူ)အားဖြင့် ယူဇနာပေါင်း ၂-သိန်း ၄-သောင်း ရှိ၏။ → Cách mô tả sự tồn tại của thế giới trong các kinh điển Pali như sau: Quả đất này có độ dày tổng cộng là 240,000 do-tuần (yojanā). အထက်တစ်ဝက်သည် ပကတိမြေသားဖြစ်၍ အောက်တစ်ဝက်မှာ ကျောက်မြေသား ဖြစ်သတည်း။ → Một nửa phía trên là lớp đất thường, còn một nửa phía dưới là lớp đất đá. ဤမြေကြီး၏အောက်၌ ယူဇနာ ၄-သိန်း ၈-သောင်းထုသော ရေပြင်ကြီး တည်ရှိ၏။ → Phía dưới quả đất này là một biển nước dày 480,000 do-tuần. “ရေပြင်” ဟုဆိုသော်လည်း အရည်ဟုမမှတ်မယူ၊ အလွန်အေး၍ ခဲနေသော ရေခဲတုံးကြီးဖြစ်ဟန်ရှိ၏။ → Dù gọi là "biển nước" nhưng không nên hiểu là chất lỏng; nó giống như một khối băng khổng lồ cực kỳ lạnh lẽo và đông cứng. မြေအထုထက် ၂-ဆလောက်ထူသော ရေခဲတုံးကြီးက မြေပြင်ကို ပင့်မြှောက်ခံယူထားနိုင်သည်မှာ အံ့သြစရာမရှိတော့ပြီ။ → Việc một khối băng dày gấp đôi độ dày của đất có thể nâng đỡ và chịu đựng được sức nặng của mặt đất thì không còn gì đáng ngạc nhiên nữa. ထိုရေပြင်ကြီးကိုကား ယူဇနာ ၉-သိန်း ၆-သောင်းထုသော လေပြင်ကြီးက အောက်မကျအောင် ပင့်မြှောက်တိုက်ခတ်လျက်ရှိ၏။ → Biển nước đó lại được một lớp không khí (gió) dày 960,000 do-tuần nâng đỡ và thổi ngược lên để không bị rơi xuống dưới. ဤလေပြင်ကြီး အောက်၌လည်း ဆုံးနိုင်အောင် ဟင်းလင်းဟာလာ အာကာသကောင်းကင် ရှိလေသည်။ → Phía dưới lớp không khí này là khoảng không gian (ākāsa) trống rỗng vô tận. ဤကား ကမ္ဘာမြေကြီး၏ အောက်ပိုင်းမြေပုံတည်း။ → Đây chính là bản đồ cấu tạo phần bên dưới của quả đất. TRANG 43 စကြဝဠာတစ်ခုဟု သတ်မှတ်အပ်သော ဤကမ္ဘာမြေကြီး၏ အဝန်းယူဇနာမှာ သုံးသန်းခြောက်သိန်းတစ်သောင်းသုံးရာငါးဆယ် ရှိ၏။ → Chu vi của quả đất này, vốn được xác định là một tiểu thế giới (Cakkavāḷa), là 3,610,350 do-tuần. ကမ္ဘာမြေဝန်းကို ကျောက်တောင်ကြီးများက တံတိုင်းခတ်သလို ရံပတ်၍နေ၏။ → Bao quanh chu vi thế giới là những dãy núi đá lớn sừng sững như những bức tường thành. ထိုကျောက်တောင်ကြီးများ ဆက်စပ်၍ ရံပတ်နေသည်ကိုပင် စကြဝဠာမဟာရံတံတိုင်းဟု ခေါ်စမှတ်ပြုကြ၏။ → Chính những dãy núi đá nối liền bao quanh đó được gọi là "Bức tường thành vĩ đại của tiểu thế giới" (Cakkavāḷa-mahāpabbata). ဤကမ္ဘာမြေဝန်း၏ အတွင်း၌ကား သမုဒ္ဒရာရေပြင်ကြီး ရှိ၏။ → Bên trong chu vi thế giới này là các biển đại dương. ထိုရေပြင်၏ အနက်ဆုံးနေရာသည် ယူဇနာ ၈-သောင်း ၄-ထောင် နက်၏။ → Nơi sâu nhất của biển nước đó có độ sâu là 84,000 do-tuần. အလယ်ဗဟို တည့်တည့်၌ကား ရေ၏အထက်၌ ယူဇနာ ၈-သောင်း ၄-ထောင်၊ ရေ၏အတွင်း၌ ယူဇနာရှစ်သောင်း လေးထောင်ရှိ၍ ယူဇနာပေါင်း ၁-သိန်း ၆-သောင်း ၈-ထောင် မြင့်သော မြင်းမိုရ်တောင် တည်ရှိ၏။ → Ngay tại tâm điểm, có núi Myin-mo (Sineru) cao tổng cộng 168,000 do-tuần; trong đó phần nổi trên mặt nước là 84,000 do-tuần và phần chìm dưới mặt nước cũng là 84,000 do-tuần. ထိုမြင်းမိုရ်တောင်၏ ပတ်ဝန်းကျင်၌ “သီတာ” ခေါ်သော မြစ်တစ်ခြားစီ၍ မြင်းမိုရ်တောင်၏ အောက်တစ်ဝက်လောက်နိမ့်သော ယုဂန္ဓိုရ်တောင် တည်ရှိ၏။ → Bao quanh núi Sineru là biển Thida (Sīdā-samudda), và kế đó là núi Yugandhara với chiều cao chỉ bằng khoảng một nửa núi Sineru. ဤနည်းအတိုင်း “သီတာမြစ်” တစ်ခု ခြားကာခြားကာ တောင်စဉ် ခုနစ်ထပ် မြင်းမိုရ်တောင်ကို ရံပတ်၍ တည်လေသည်။ → Cứ theo cách này, có bảy vòng núi (Sattasīdantari) bao quanh núi Sineru, ngăn cách bởi mỗi biển Sīdā xen kẽ. ထိုမြင်းမိုရ်တောင်နှင့် တောင်စဉ်ခုနစ်ထပ်တို့၏ လေးမျက်နှာ အရပ်ရှိ ရေလယ်ခေါင်၌ ကျန်းကြီး ကျန်းငယ် အသွယ်သွယ် ပေါ်ထွန်းလျက်ရှိ၏။ → Tại bốn phương hướng chính giữa biển khơi, nằm ngoài núi Sineru và bảy vòng núi, có các châu lục lớn và nhỏ khác nhau xuất hiện. ထိုကျွန်းမြေများသည်ပင် လူစသော သတ္တဝါတို့၏ တည်နေရာ မြို့ရွာတောတောင်များ ဖြစ်ကြလေသည်။ → Những vùng đất châu lục này chính là nơi cư ngụ, là thành thị, làng mạc, rừng núi của con người và các chúng sinh khác. အရှေ့ဘက်၌ပေါ်ထွန်းသော ကျွန်းမြေကို အရှေ့ကျွန်း၊ တောင်ဘက်၊ အနောက်ဘက်၊ မြောက်ဘက်တို့၌ပေါ်ထွန်းသော ကျွန်းမြေများကို တောင်ကျွန်း၊ အနောက်ကျွန်း၊ မြောက်ကျွန်းဟုခေါ်သည်။ → Châu lục xuất hiện ở phía Đông gọi là Đông Thắng Thần Châu; các châu lục ở phía Nam, Tây, Bắc lần lượt gọi là Nam Thiệm Bộ Châu (Zambu-deepa), Tây Ngưu Hóa Châu và Bắc Cu-lô Châu. TRANG 44 ထိုမြင်းမိုရ်တောင်၏ ထက်ဝက်လောက်၌ ယုဂန္ဓိုရ်တောင်ထိပ်နှင့် ညီမျှသောအရပ်ဝယ် စတုမဟာရာဇ်နတ်ပြည် တည်ရှိ၏။ → Ở ngang tầm lưng chừng núi Sineru, tại vị trí cao bằng đỉnh núi Yugandhara, là nơi tọa lạc của cõi trời Tứ Đại Thiên Vương (Cātumahārājikā). မြင်းမိုရ်တောင်ထိပ်ပေါ်လောက်၌ တာဝတိံသာနတ်ပြည် တည်ရှိ၏။ → Ngay trên đỉnh núi Sineru là nơi tọa lạc của cõi trời Đao Lợi (Tāvatiṃsa). ဤနတ်ပြည် နှစ်ထပ်သာလျှင် မြေနှင့်ဆက်စပ်လျက်ရှိသည်။ → Chỉ có hai cõi trời này là còn kết nối với thực thể đất (núi). ယာမာ၊ တုသိတာ၊ နိမ္မာနရတိ၊ ပရနိမ္မိတဝသဝတ္တီနတ်ပြည်နှင့် အထက်ဗြဟ္မာ့ဘုံတို့ကား မြေနှင့်မဆက်စပ်ဘဲ ကောင်းကင်အရပ်မှာပင် တည်ရှိကြ၏။ → Các cõi trời Dạ Ma (Yāmā), Đâu Suất (Tusita), Hóa Lạc (Nimmānaratī), Tha Hóa Tự Tại (Paranimmita-vassavattī) và các tầng Phạm Thiên bên trên thì không kết nối với đất mà tọa lạc ngay giữa không trung. ဤကား ကမ္ဘာ၏အထက်ပိုင်း မြေပုံတည်း။ [လောကဓာတ်ဆရာတို့၏ ကမ္ဘာ့မြေပုံကို လောကဓာတ်ကျမ်းစာများ၌ ရှုပါ။] → Đây chính là bản đồ phần bên trên của thế giới. [Hãy tham khảo bản đồ thế giới của các nhà khoa học trong các sách giáo khoa khoa học tự nhiên]. ဤဘုံအမျိုးမျိုးတို့ တည်နေဟန်နှင့်တကွ နတ်ဗြဟ္မာတို့ စံစားပုံကို ရိုက်နှိပ်ပြီး “သင်္ဂြိုဟ်ဘာသာဋီကာ” နှင့် ဒုတိယအကြိမ်ရိုက် “ကိုယ်ကျင့်အဘိဓမ္မာ” တို့ထည့်သွင်း ပြထားပြီး။ → Cách thức tồn tại của các cảnh giới này cùng với cách thọ hưởng của chư Thiên và Phạm Thiên đã được trình bày trong sách "Sankhiya-Bhathatika" và bản in lần thứ hai của "Koy-kyint-abhidhamma". ဤပြခဲ့သော ကမ္ဘာကဲ့သို့ အခြားသော စကြဝဠာကမ္ဘာကြီးများလည်း မရေတွက်နိုင်အောင် များမြောင်စွာရှိသေး၏။ → Giống như tiểu thế giới đã trình bày, còn có vô số các tiểu thế giới khác nhiều đến mức không thể đếm xuể. ဘုရားရှင်သည် ထိုပြအပ်ခဲ့သော စကြဝဠာ ကမ္ဘာလောကဓာတ်ကြီးများကိုလည်း အကုန်အစင် သိမြင်တော်မူနိုင်ပေသည်။ → Đức Thế Tôn cũng có thể thấu suốt toàn bộ các hệ thống tiểu thế giới vĩ đại đã được nêu trên. သင်္ခါရလောကကို သိမြင်တော်မူပုံ။ ။ ရုပ်နာမ်တရားတွေ ပေါင်းစပ်နေသည်ကို “ပုဂ္ဂိုလ်၊ သတ္တဝါ၊ သူ၊ ငါ၊ ယောက်ျား၊ မိန်းမ၊ အထီး၊ အမ” စသည်ဖြင့် ခေါ်ဝေါ်ကြရသည်။ → Cách thấu suốt về Hành thế gian (Saṅkhāraloka): Sự kết hợp của các danh pháp và sắc pháp thường được gọi là "cá nhân, chúng sinh, người này, người kia, đàn ông, phụ nữ, giống đực, giống cái", v.v. ထိုရုပ်နာမ်ကို ဖယ်ထားလျှင် သို့မဟုတ် ရုပ်နာမ်အားလုံး အဆုံးသတ်ချုပ်သွားလျှင် ပုဂ္ဂိုလ်၊ သတ္တဝါ၊ သူ၊ ငါဟူ၍ မရှိတော့ပြီ။ → Nếu tách rời danh sắc đó ra, hoặc nếu tất cả danh sắc đều chấm dứt hoàn toàn, thì cái gọi là cá nhân, chúng sinh, người này, người kia sẽ không còn tồn tại nữa. ခန္ဓာကိုယ်၌ မြေဓာတ်၊ ရေဓာတ်၊ လေဓာတ်၊ မီးဓာတ်ဟု အမာခံဓာတ်ကြီး ၄-ပါးရှိ၏။ → Trong thân thể có bốn đại chủng chính (Mahābhūta) làm nền tảng là: Địa đại (đất), Thủy đại (nước), Phong đại (gió) và Hỏa đại (lửa). TRANG 45 ထိုအမာခံဓာတ်ကြီး ၄-ပါးကို မှီခမ်းခံလျက်သော အမွှန်းတင်ရုပ်များလည်း ရှိ၏။ → Cũng có các loại sắc y sinh (Upādā-rūpa) dựa trên bốn đại chủng chính đó mà tồn tại. ထိုရုပ်အစိတ်အမြဲကလေးတွေ ပေါင်းစပ်နေသော အစုအခဲကို “ရုပ်ကလာပ်” ဟုခေါ်၏။ → Những tập hợp gồm các phân tử sắc pháp cực nhỏ kết hợp lại với nhau được gọi là "Sắc phân tử" (Rūpa-kalāpa). ရုပ်ကလာပ်မှုန် တစ်ခုတစ်ခုသည် ပကတိ မျက်စိတို့ဖြင့် မမြင်ရလောက်အောင် သိမ်မွေ့သေးငယ်၏။ → Mỗi một phân tử sắc pháp cực kỳ tinh vi và nhỏ bé đến mức mắt thường không thể nhìn thấy được. “လောကဓာတ်ဆရာတို့သည် သူတို့၏ မှန်ပြောင်းအားဖြင့် အသေးအမွှားဆုံး ရုပ်မှုန်ကလာပ်များကို မြင်နိုင်၏” ဟုဆိုသော်လည်း ကလာပ်တစ်ခုတည်းကို မြင်ရသည်မဟုတ်။ → Dù các nhà khoa học nói rằng có thể nhìn thấy các hạt vật chất nhỏ nhất qua kính hiển vi, nhưng thực tế họ không nhìn thấy từng phân tử riêng lẻ. ကလာပ်မှုန်ကလေးတွေ အတော်များများ ပေါင်းစပ်နေသည်ကိုသာ မြင်သည်။ → Họ chỉ nhìn thấy một số lượng lớn các phân tử nhỏ kết hợp lại với nhau mà thôi. ကလာပ်တစ်ခုတစ်ခု၌ “ပထဝီ အာပေါ တေဇော ဝါယော ဝဏ္ဏ ဂန္ဓ ရသ သြဇာ” ဤရုပ် ၈-ခု စုပေါင်းနေကြောင်းသိဖို့ကား လောကဓာတ်ပညာ၏ အရာမဟုတ်တော့ပြီ။ → Còn việc biết rằng trong mỗi phân tử (kalāpa) có sự hội tụ của 8 sắc pháp: "Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Sắc, Hương, Vị, dưỡng chất (Oja)" thì không còn thuộc phạm vi của khoa học thế gian nữa. ဘုရားရှင်ကား ထိုကဲ့သို့ အသေးအမွှား ရုပ်ကလေးများအပြင် ထိုရုပ်ကလေးများ ဖြစ်ပေါ်လာဖို့ အကြောင်းနှင့်တကွ လက္ခဏာစသည်တို့ကိုပါ အကုန်အစင် သိမြင်တော်မူနိုင်ပေသည်။ → Riêng Đức Thế Tôn, ngoài những sắc pháp cực nhỏ như vậy, Ngài còn có thể thấu suốt toàn bộ nguyên nhân sanh khởi cũng như các đặc tính (lakkhaṇa), v.v., của chúng. ထို့ပြင် ထိုရုပ်ကလာပ်ကလေးတွေ စုပေါင်း တွေ့ခဲ့နေသဖြင့် သတ္တဝါဟု ခေါ်သော ဤခန္ဓာကိုယ်အတွင်း၌ စိတ်၊ စေတသိက်ဟူသော နာမ်တရားရှိသေး၏။ → Hơn nữa, bên trong thân thể được gọi là chúng sinh này — vốn là sự tập hợp của các phân tử sắc pháp — còn có các danh pháp là Tâm (Citta) và Tâm sở (Cetasika). ထိုနာမ်တရား၏ အစွမ်းကြောင့် အဆင်း၊ အသံ၊ အနံ့၊ အရသာ၊ အတွေ့နှင့် သိဖွယ်ဟူသမျှကို သိမြင်ကြရပေသည်။ → Nhờ năng lực của các danh pháp này mà chúng sinh có thể nhận biết được hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm và tất cả những gì có thể nhận thức được. ထိုနာမ်တရားတို့၏ အကြောင်းကိုကား လောကဓာတ်ပညာရှိတို့ ထိမိအောင်သိဖို့ မဆိုထားဘီ၊ ဖဿ၊ ဝေဒနာ၊ သညာစသော နာမည်ကိုပင် မသိမြင်နိုင်ကြတော့ချေ။ → Đừng nói đến việc các nhà khoa học thế gian thấu hiểu được bản chất của các danh pháp này, ngay cả những cái tên như Xúc (Phassa), Thọ (Vedanā), Tưởng (Saññā), v.v., họ cũng không thể nhận biết được. TRANG 46 ရှင်တော်ဘုရားကား ထိုနာမ်တရားတို့ ဖြစ်ခြင်း၏အကြောင်းနှင့်တကွ လက္ခဏာတို့ကိုပါ အကုန်အစင် သိမြင်တော်မူနိုင်ပေသည်။ → Đức Thế Tôn có thể thấu suốt toàn bộ các đặc tính (lakkhaṇa) cùng với nguyên nhân sanh khởi của các danh pháp đó. ဤသို့ ရှင်တော်ဘုရားသည် သတ္တလောက၊ သြကာသလောက၊ သင်္ခါရလောကတို့ကို အကုန်အစင် သိမြင်တော်မူရကား “အလွန်အလွန် သိနိုင်ပါပေ၏” ဟု ချီးကျူးရသော ဗြဟ္မာမင်းတို့ကပင် ဘုရားရှင်ကို “လောကဝိဒူ = လောကအားလုံးကို သိမြင်တော်မူသော ဘုရား” ဟု ဦးထိပ်ပေါ်တွင် မြှောက်တင်ကိုးကွယ်ကြပေသည်။ → Vì Đức Thế Tôn thấu suốt hoàn toàn chúng sinh thế gian (Sattaloka), cõi thế gian (Okāsaloka) và hành thế gian (Saṅkhāraloka) như vậy, nên ngay cả các vị Phạm Thiên vương — những vị vốn được ca ngợi là "có trí tuệ vô cùng rộng lớn" — cũng tôn kính đặt Ngài lên hàng đầu và lễ bái Ngài là "Lokavidū" (Bậc thấu suốt tất cả thế gian). တိုက်တွန်းချက်။ ။ဘုရားရှင်၏ လောကသုံးပါး သိတော်မူရာ၌ သတ္တလောကကို သိတော်မူခြင်းမှာ သတ္တဝါကို ချေချွတ်ဖို့အရေးဝယ် အလွန်အရာရောက်သော အချက်ပေတည်း။ → Lời khuyến tấn: Trong việc thấu suốt ba loại thế gian của Đức Thế Tôn, thì việc thấu suốt chúng sinh thế gian là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc giáo hóa và độ trì chúng sinh. ဟောပြောချေချွတ်တော်မူရာ၌ ထိုသတ္တဝါတို့၏ ပင်ကိုယ်စရိုက် အနုသယနှင့် ဣန္ဒြေအနုအရင့်ကို နှိုင်းယှဉ်ပြီးမှ သင့်တော်သော တရားရေအေးအမြိုက်ဆေးကို တိုက်ကျွေး၍ ချေချွတ်တော်မူပေသည်။ → Khi thuyết pháp giáo hóa, Ngài đã so sánh, đối chiếu căn tính (carita), phiền não ngủ ngầm (anusaya) và sự muồi thục của các căn (indriya) của chúng sinh đó rồi mới ban cho liều thuốc pháp bảo cam lộ phù hợp để cứu độ họ. ဥပမာ- ဆေးကုကျွမ်းကျင်သော သမားတော်သည် လူနာ၏ရောဂါကို အခြေအမြစ်နှင့်တကွ သိပြီးမှ သင့်တော်သောဆေးကို တိုက်ကျွေးသကဲ့သို့တည်း။ → Ví dụ như một vị thầy y giỏi chuyên môn, sau khi đã biết rõ căn nguyên bệnh trạng của bệnh nhân thì mới cho dùng loại thuốc thích hợp vậy. ထို့ကြောင့် ယခုသာသနာတော်တွင်း၌ တရားထူးမရကြသေးလျှင် နောင်ဘုရားရှင်တို့နှင့် တွေ့ကြုံသောအခါ လွယ်ကူစွာ ချေချွတ်ထိုက်သူဖြစ်အောင် ယခုနှယ်က ဆိုးဝါးသော အနုသယ ကိလေသာဓာတ်တွေကို ပါးလွှာသည်ထက် ပါးလွှာစေပြီးလျှင် သဒ္ဓါ ပညာစသော ဣန္ဒြေများ ရင့်သန်ထက်မြက်ဖို့ရန် ကြိုးစားကြပါကုန်။ → Do đó, trong thời kỳ giáo pháp hiện nay nếu vẫn chưa chứng đắc pháp thượng nhân, thì để trở thành người dễ dàng được cứu độ khi gặp các đức Phật tương lai, ngay từ bây giờ hãy nỗ lực làm cho các chủng tử phiền não ngủ ngầm xấu xa trở nên mỏng nhẹ nhất có thể, đồng thời rèn luyện cho các căn như Tín và Tuệ trở nên già dặn và sắc bén. ဤနေရာဝယ် စာဖတ်ရင်း ရပ်တန့်၍ ဘုရားရှင်၏ သဗ္ဗညုတဉာဏ်တော်၏အတွင်း၌ သန့်ရှင်းသော စိတ်တော်မှာ ယှဉ်နေသော... → Tại điểm này, hãy tạm dừng việc đọc để quán tưởng về tâm ý thanh tịnh tương ưng bên trong Nhất Thiết Chủng Trí (Sabbaññuta-ñāṇa) của Đức Thế Tôn... TRANG 47 သော သဗ္ဗညုတဉာဏ်တော်ဖြင့် လောကအားလုံးကို သိတော်မူပုံ၊ မိမိကိုယ်တိုင် ဘုရားရှင်ကိုဖူးရလျှင် မိမိစိတ်ကိုကြည့်၍ မိမိနှင့်သင့်တော်သောတရားကို ဟောတော်မူမည့်ပုံ၊ ထိုတရားတော်နာရင်း တရားထူးရမည့်ပုံကိုပါ “မစားရ၊ ဝမခန်း” အာရုံပြုလိုက်စမ်းပါ။ → ...cách mà Ngài thấu suốt toàn bộ thế gian bằng Nhất Thiết Chủng Trí đó; hãy thử tưởng tượng xem nếu tự thân mình được đảnh lễ Đức Thế Tôn, Ngài sẽ nhìn thấu tâm mình và thuyết giảng bài pháp phù hợp với mình như thế nào, và ngay khi nghe bài pháp ấy mình sẽ chứng đắc pháp cao thượng ra sao — hãy quán tưởng sâu sắc đến mức như "chưa ăn mà đã cảm thấy no lòng". လောက၌ နေမင်းသာ ပေါ်မထွက်လာလျှင် ခလုတ် ကန်သင်း ကုန်းကျင်း အရပ်တို့ကို ခွဲခြား၍မသိနိုင်ဘဲ သွားတိုင်း သွားတိုင်း တိုက်မိ ခိုက်မိ ကျင်းထဲကျဖွယ်ရှိသကဲ့သို့ ထို့အတူ ဘုရားရှင်နေမင်းသာ ပေါ်ထွက်၍မလာလျှင် ကုသိုလ် အကုသိုလ်ကို ခွဲခြား၍မသိဘဲ အကုသိုလ်တွေကိုသာပြုမိကာ သတ္တဝါအများပင် အပါယ်လားဖို့ ရှိတော့သည်။ → Trên thế gian này, nếu mặt trời không mọc lên thì con người sẽ không thể phân biệt được các chướng ngại, bờ đê hay địa hình cao thấp, hễ đi là sẽ bị vấp ngã hoặc rơi xuống hố; cũng vậy, nếu "Mặt trời Phật" không xuất hiện thì chúng sinh sẽ không phân biệt được thiện và bất thiện, cứ thế phạm vào các việc bất thiện và đa số sẽ phải đọa vào ác đạo. အနုတ္တရောပုရိသဒမ္မသာရထိ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) (၆) သော ဘဂဝါ-ထိုရွှေဘုန်းတော်သခင် ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်၊ ဣတိပိ ဣမိနာစ ကာရဏေန-ဆုံးမသင့်ရန်၊ သတ္တဝါမှန်သော်၊ ချောက်တန်လျှင်ချောက်၊ မြှောက်တန်မြှောက်၍၊ အောက်အောက်ထက်ထက်၊ ဆင့်ဆင့်စုံဖုံ၊ ပုံပုံသင်ပေး၊ အစဉ်ဖေးလျက်၊ ယဉ်ကျေးလေအောင်၊ သွေးဆောင်ဆုံးမတော်မူတတ်သော ဤအကြောင်းကြောင့်လည်း၊ အနုတ္တရောပုရိသဒမ္မသာရထိ-အနုတ္တရော ပုရိသဒမ္မသာရထိဟူသော ဂုဏ်တော်ကြီးဖြင့်၊ အံ့ချီး၍မကုန်၊ ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်၊ ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား၊ ထင်ရှားတော်မူပါပေသည်တကား။ → (6) So Bhagavā - Đức Thế Tôn giáo chủ cao thượng đó; Iti pi iminā ca kāraṇena - vì lý do này: đối với chúng sinh cần được hóa độ, Ngài dùng biện pháp khi thì khiển trách lúc thì tán dương, dạy dỗ tỉ mỉ từ thấp đến cao theo trình độ, luôn dìu dắt và khuyên bảo để họ trở nên thuần thục và cao thượng; chính vì lý do này mà Ngài danh tiếng lẫy lừng, được ca tụng không xiết kể với đức hạnh vĩ đại "Anuttaro Purisadammasārathi" (Bậc Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu), vang dội đến tận cõi Phạm Thiên. TRANG 48 ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် အနုတ္တရောပုရိသဒမ္မသာရထိဂုဏ်တော်သည် “ဆုံးမထိုက်သော သတ္တဝါများကို ယဉ်ကျေးအောင် ဆုံးမမှု၌ အတုမရှိ စွမ်းနိုင်ပါပေသည်” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ [အနုတ္တရော+ပုရိသဒမ္မ+သာရထိ၊ အနုတ္တရော = အတုမရှိမြတ်သည်+ပုရိသ = ယောက်ျား (သတ္တဝါ) +ဒမ္မ = ဆုံးမထိုက်သူ+သာရထိ = ဆုံးမနိုင်သည်]။ → Ý nghĩa tham khảo: Đức hạnh Anuttaro Purisadammasārathi thể hiện ý nghĩa là "Ngài có khả năng vô song trong việc giáo hóa những chúng sinh cần được hóa độ để họ trở nên thuần thành". [Anuttaro + Purisadamma + Sārathi; Anuttaro = cao thượng không đối thủ + Purisa = trượng phu (chúng sinh) + Damma = người cần được giáo hóa + Sārathi = người điều khiển/giáo hóa]. အောက်အောက်ထက်ထက်။ ။အောက်အောက် သီလဂုဏ်နှင့် အထက်အထက် ဈာန်မဂ်ဖိုလ်ဂုဏ်များ အဆင့်ဆင့်စုံလင်အောင် အဖုံဖုံသင်ပေးပြီးလျှင် အစဉ်မပြတ် ဖေးဖေးမမ စောင့်ရှောက်တော်မူသည်။ → Từ thấp đến cao: Ngài dạy dỗ mọi phương diện để chúng sinh thành tựu trọn vẹn từng bước từ các đức hạnh trì giới ở bậc thấp đến các đức hạnh Thiền định, Đạo, Quả ở bậc cao, đồng thời luôn liên tục nâng đỡ và bảo hộ. တောဆင်ရိုင်း၊ မြင်းရိုင်းများကို ယဉ်ကျေးအောင် ဆုံးမမှု၌ အတုမရှိ ကျွမ်းကျင်သော ဆင်ဆရာ၊ မြင်းဆရာတို့သည် အလွန်ရိုင်းပျသော ဆင်-မြင်းများကို တဖြည်းဖြည်း ယဉ်ကျေးလာအောင် ဆုံးမပြီးလျှင် မင်းတို့၏ စီးတော်ဆင်၊ စီးတော်မြင်းများအဖြစ်သို့ ရောက်စေသကဲ့သို့ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားလည်း “လောကဝိဒူ” ဂုဏ်တော်၌ ပြခဲ့သည့်အတိုင်း သတ္တဝါတို့၏အတွင်းစိတ်ကို ရှေ့နောက်ကုန်စင် သိမြင်တော်မူသောကြောင့် ဆုံးမဖို့ရန် သင့်တော်သော သတ္တဝါများကို တွေ့မြင်တော်မူသောအခါ ချောက်၍ဆုံးမမှ အကျွတ်တရားရမည်သူဖြစ်လျှင် ချောက်၍ဆုံးမတော်မူ၏၊ မြှောက်ပင်၍ဆုံးမမှ အကျွတ်တရားရမည်သူဖြစ်လျှင် မြှောက်ပင်၍ ဆုံးမတော်မူသည်။ → Giống như những người luyện voi, luyện ngựa bậc thầy vô song trong việc huấn luyện voi rừng, ngựa hoang đã dạy dỗ những con vật cực kỳ hung dữ trở nên thuần thục và biến chúng thành voi báu, ngựa báu cho nhà vua cưỡi; Đức Thế Tôn cũng vậy, như đã trình bày ở đức hạnh "Lokavidū", vì Ngài thấu suốt tường tận tâm ý bên trong của chúng sinh nên khi gặp những chúng sinh cần được giáo hóa, nếu là người phải dùng sự răn đe (khiển trách) mới chứng đắc được thì Ngài dùng sự răn đe để dạy dỗ, nếu là người phải dùng sự tán dương (khuyến khích) mới chứng đắc được thì Ngài dùng sự tán dương để dạy dỗ. TRANG 49 ထိုသို့ ဆုံးမရာ၌ ပင်ကိုယ်က သီလမရှိသူဖြစ်လျှင် သီလ၌ တည်စေတော်မူ၏။ → Khi giáo hóa như vậy, nếu người đó vốn dĩ không có giới hạnh, Ngài sẽ giúp họ an trú trong giới. သီလရှိပြန်လျှင်လည်း အထက်အထက်ဈာန်တရား၊ မဂ်တရားတို့ကို ထိုသူ၏ ပါရမီအားလျော်စွာ တိုးတက်ရအောင် ဆုံးမတော်မူ၏။ → Nếu đã có giới hạnh, Ngài sẽ dạy dỗ để họ đạt được các bậc cao hơn là Thiền định và Đạo pháp tùy theo Ba-la-mật của người đó. ထိုဘဝ၌ မည်သည့်တရားထူးကိုမျှ မရထိုက်လျှင် နောင်နောင်ဘဝ၌ အထုံပါအောင် ဆုံးမတော်မူ၏။ → Nếu trong kiếp này người đó chưa thể chứng đắc được bất kỳ pháp thượng nhân nào, Ngài sẽ dạy dỗ để tạo nên chủng tử (vô lậu) cho các kiếp vị lai. ဘုရားရှင်၏ အဆုံးအမကို သီးခြားခံယူရလျှင် မယဉ်ကျေးသူ မရှိ၊ ယဉ်ကျေးသူချည်းသာ ဖြစ်ကြလေသည်။ → Khi nhận được sự giáo hóa riêng biệt của Đức Thế Tôn thì không một ai không trở nên thuần thục, tất cả đều trở thành người thiện lành. ဤနေရာဝယ် ရပ်တန့်၍ ဘုရားရှင်၏ စိတ်တော် ကြည်လင်ပုံ၊ ဉာဏ်တော်ထက်မြက်ပုံ၊ ထိုဉာဏ်တော်ဖြင့် ဟောပြောဆုံးမမှုရန် တရားမျိုးစုံကို သိတော်မူပုံ၊ ထိုတရားမျိုးစုံမှ သင့်တော်သောတရားတို့ကို ရွေးချယ်၍ သတ္တဝါတစ်ယောက်အား ဆုံးမတော်မူလျှင် တရားအထူးရပုံကို အာရုံပြုကာ ဘုရားရှင်၌ ကြည်ညိုစိတ် တိုးပွားအောင် ကြိုးစားကြပါလေ။ → Tại đây hãy tạm dừng để quán tưởng về sự trong sáng của tâm Ngài, sự sắc bén của trí tuệ Ngài, việc Ngài thấu hiểu muôn vàn giáo pháp để thuyết giảng dạy dỗ, và khi Ngài chọn lọc pháp phù hợp từ muôn vàn giáo pháp đó để dạy dỗ một chúng sinh thì người ấy chứng đắc pháp cao thượng như thế nào — hãy quán tưởng như vậy để nỗ lực làm tăng trưởng lòng tịnh tín nơi Đức Thế Tôn. တိုက်တွန်းချက်။ ။ဤစကားအစဉ်ဖြင့် “ဘုရားရှင်သည် တွေ့သမျှ သတ္တဝါတိုင်းကို အကျွတ်တရားရအောင် ဆုံးမတော်မူသည် မဟုတ်၊ အထိုက်အလိုက် တရားထူးရလောက်သော ပါရမီအခံရှိသူကိုသာ ဉာဏ်တော်ဖြင့် ကြည့်ရှု၍ အထူးဆုံးမတော်မူသည်” ဟု နားလည်ကြပါ။ → Lời khuyến tấn: Qua trình tự trình bày này, hãy hiểu rằng: "Không phải Đức Thế Tôn giáo hóa mọi chúng sinh Ngài gặp đều chứng đắc pháp, mà Ngài chỉ dùng trí tuệ quán sát và đặc biệt giáo hóa những người có sẵn căn lành Ba-la-mật xứng đáng để chứng đắc pháp mà thôi". ဘုရားရှင်လက်ထက်၌ သာဝတ္ထိပြည်ရှင် ဘုရင်ကောသလမင်းကြီးနှင့် မိဖုရားခေါင်ကြီး မလ္လိကာတို့သည် ဘုရားကျောင်းဒကာ ကျောင်းအမဖြစ်၍ ဘုရားကို လွန်စွာကြည်ညိုကြ၊ တရားကိုလည်း မကြာမကြာနာပါလျက် မည်သည့်တရားထူးကိုမျှ ရကြသည်ဟု ကျမ်းဂန်၌ မတွေ့ရပါ။ → Trong thời Đức Phật, vua Kosala — vị vua cai trị thành Sāvatthi — và hoàng hậu Mallikā là những thí chủ hộ trì chùa chiền, vô cùng tịnh tín nơi Đức Phật và cũng thường xuyên nghe pháp, nhưng trong kinh điển không thấy ghi chép rằng họ đã chứng đắc được pháp thượng nhân nào. TRANG 50 ယခုကာလ၌ သဒ္ဓါလွန်၍ ပညာနည်းပါးသူတို့ကား “ဘုရားနှင့် တွေ့လျှင်ပင် ကေန်တရားထူးရနိုင်မည်”ဟု မျှော်လင့်နေကြရုံမက ယခုဘဝမှာပင် အတော်အတန် တတ်သိနားလည်သူကို ဆည်းကပ်ရလျှင် “ထိုသူ၏တရားတွေ မိမိမှာ အလိုလိုကူးစက်လာလိမ့်မည်”ဟု တွေးဆကြ၏။ → Trong thời đại nay, những người có đức tin quá mức nhưng thiếu hụt trí tuệ không chỉ mong đợi rằng "chỉ cần gặp Đức Phật là có thể đắc được đạo quả đặc biệt", mà họ còn suy nghĩ rằng nếu được thân cận với một người hiểu biết khá nhiều ngay trong kiếp này thì "những giáo pháp của người đó sẽ tự động truyền sang cho mình". ကိုယ်အားထုတ်မှ ကိုယ်ရနိုင်သည်ကိုကား မသိရှာကြကုန်။ → Họ không hề biết rằng chỉ khi tự mình nỗ lực thực hành thì mới có thể tự mình đạt được kết quả. ထို့ကြောင့် နောင်ပွင့်တော်မူလာမည့် ဘုရားရှင်နှင့် တွေ့ရသော အခါ၌လည်း ဆုံးမထိုက်သော ပါရမီအခံ လုံလောက်ပြီးသူဖြစ်အောင် ယခုလိုအတော်အတန် တတ်သိနားလည်သော ဘဝကောင်းက ဖြစ်ခွင့်ကြုံသော ပါရမီအားလုံးကို သိမ်းကျုံး၍ ဖြည့်ကျင့်ကြပါကုန်။ → Do đó, để trở thành người có đủ nền tảng Ba-la-mật xứng đáng được giáo huấn khi gặp đức Phật sẽ xuất hiện trong tương lai, hãy nỗ lực vun bồi trọn vẹn tất cả các Ba-la-mật mà mình có cơ hội thực hiện được từ kiếp sống tốt đẹp có sự hiểu biết nhất định như hiện nay. သတ္ထာဒေဝမနုဿာနံ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Satthā devamanussānaṃ (Để học thuộc). (၇) သော ဘဂဝါ-ထို ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည် ဣတိပိ ဣမိနာ စ ကာရဏေန-သတ္ထာဝါဟော၊ ကုန်သည်ကျော်သည်၊ ဖော်လှေငယ်သား၊ နောက်ပါများကို၊ ရေရှားဘေးအစ၊ ကန္တာရမှ၊ ခေမမြေသို့၊ ထုတ်ကယ်ယူသို့၊ → (7) So Bhagavā – Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của những vinh quang cao thượng (hồng danh cao thượng) ấy, Iti pi iminā ca kāraṇena – vì lý do này: Satthāvāho – giống như một vị thương gia trưởng tài ba dẫn dắt những người lái buôn cấp dưới và những người đi theo từ nơi sa mạc đầy hiểm họa khan hiếm nước đến được vùng đất an toàn, ထိုတူတစိ၊ ခဲယဉ်းဘိသည့်၊ ဇာတိ ဇရာ၊ မရဏဟု၊ ကန္တာရကြမ်း၊ ခရီးလမ်းမှ၊ ရွှေနန်းမြေသို့၊ ပြည်နိဗ္ဗူသို့၊ နတ်လူဗြဟ္မာ၊ သတ္တဝါကို၊ ကောင်းစွာဆောင်ယူ၊ ကယ်တင်တော်မူတတ်သော ဤအကြောင်းကြောင့်လည်း၊ သတ္ထာဒေဝမနုဿာနံ-သတ္ထာဒေဝမနုဿာနံဟူသော ဂုဏ်တော်ကြီးဖြင့်၊ → cũng tương tự như vậy, Người đã khéo léo dẫn dắt và cứu độ các chúng sinh gồm thiên nhân, loài người và phạm thiên thoát khỏi con đường hành trình sa mạc khắc nghiệt của Sinh, Già, Chết đầy khó khăn để đến được vùng đất của cung vàng, tức là thành phố Niết-bàn; chính vì lý do này, Ngài có ân đức lớn lao gọi là Satthā devamanussānaṃ. TRANG 51 အံ့ချီး၍မကုန်၊ ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်၊ ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား၊ ထင်ရှားတော်မူပါပေသည်တကား။ → Thật sự là một sự vĩ đại không thể ca ngợi cho hết, sự nổi tiếng và vang lừng của Ngài lan tỏa khắp cho đến tận cõi Phạm thiên. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để xem xét (giải thích thêm). သတ္ထာဒေဝမနုဿာနံဂုဏ်တော်သည် “နတ်လူတို့၏ ရှေ့ဆောင်ဦးစီး ကုန်သည်ကြီးနှင့် တူတော်မူ၏”ဟူသော အနက်ကိုပြသည်။ → Ân đức Satthā devamanussānaṃ thể hiện ý nghĩa rằng "Ngài giống như một vị thương gia trưởng, người dẫn đường của chư thiên và loài người". [ဒေဝမနုဿာနံ-နတ်လူတို့၏+သတ္ထာ-(ဆရာဖြစ်၍)ကုန်သည်ကြီးနှင့် တူတော်မူသည်]။ → [Devamanussānaṃ – của chư thiên và loài người + Satthā – (vì là bậc thầy nên) giống như vị thương gia trưởng]. သတ္ထာဝါဟော၊ ကုန်သည်ကျော်သည်။ → Satthāvāho: Vị thương gia nổi tiếng. “သတ္ထာဝါဟ” ဟူသော ပါဠိကို “သတ္ထာဝါဟော”ဟု စပ်ဆိုသည်၊ ကုန်သည်ငယ်များ၏ အကြီးအမှူးဖြစ်၍ ကူးသန်းရောင်းဝယ်မှု၌ ကျွမ်းကျင် နားလည်သော “ကုန်သည်ကြီး”ဟူလို။ → Từ Pali "Satthāvāha" được kết nối thành "Satthāvāho", có nghĩa là "vị thương gia lớn", người đứng đầu các thương gia nhỏ và là người am hiểu, thành thạo trong việc buôn bán giao thương. ကန္တာရမှ။ → Từ sa mạc (Kantāra). “ခြင်္သေ့ သစ်ကျား ခိုးသား စားပြ ပေါများ၍ အစာရေစာရှားသောခရီးကို “ကန္တာရ”ဟုခေါ်သည်။ → Con đường có nhiều sư tử, báo, cọp, kẻ trộm, cướp và khan hiếm thức ăn, nước uống thì được gọi là "Kantāra" (sa mạc/nơi hiểm trở). အသွားအလာ ခက်ခဲသောကြောင့် “ခရီးခဲ”ဟုလည်း ခေါ်သည်။ [ခေမမြေ = ဘေးရန်မရှိသော ကုန်းမြင့်မြေအရပ်]။ → Vì đi lại khó khăn nên cũng được gọi là "con đường gian nan". [Khema mye = vùng đất cao ráo, nơi không có hiểm nguy]. ဇာတိဇရာ၊ မရဏာဟု။ → Là Sinh (Jāti), Già (Jarā), Chết (Maraṇa). “ဇာတိ = ပဋိသန္ဓေနေရမှု၊ ဇရာ-အိုမှု၊ မရဏ-သေရမှုဟူသော ဘေးကြီးတို့ဖြင့် မရှောင်သာ မတိမ်းသာအောင် ကြမ်းတမ်းသော သံသရာခရီး ကန္တာရကြီးမှ။ → Từ sa mạc lớn của hành trình luân hồi (Saṃsāra), nơi khắc nghiệt đến mức không thể tránh né hay lẩn trốn khỏi các đại nạn là Sinh (thụ thai), Già (lão hóa) và Chết (tử vong). ရွှေနန်းမြေသို့၊ ပြည်နိဗ္ဗူသို့။ → Đến vùng đất cung vàng, đến thành phố Niết-bàn. “ရွှေထီး ရွှေနန်း၌ စံမြန်းရသကဲ့သို့ အေးမြချမ်းသာသော နိဗ္ဗာန်ပြည်တည်းဟူသော မြေအပြင်သို့။ → Đến với vùng đất chính là thành phố Niết-bàn mát mẻ và hạnh phúc, giống như việc được ngự trên cung vàng điện ngọc. TRANG 52 ရှေးအခါ၌ လှည်းအစီးများစွာ ငါးရာတစ်ထောင်စသည် စုပေါင်း၍ ကုန်များကို တင်ဆောင်လျက် ကူးသန်းရောင်းဝယ်လေ့ရှိကြ၏။ → Thời xưa, người ta thường tập hợp nhiều xe bò, từ năm trăm đến một ngàn chiếc, để chở hàng hóa đi buôn bán giao thương. အကြီးအမှူးဖြစ်သော ကုန်သည်ကြီးလည်း ပါရှိရသည်။ → Trong đó phải có một vị thương gia trưởng làm người đứng đầu. လမ်းစခန်း၌ ခြင်္သေ့၊ သစ်၊ ကျား၊ ဘီလူး၊ ခိုးသူ၊ စားပြ စသော ဘေးတို့ဖြင့် အလွန်ဆိုးဝါး၍လည်းကောင်း၊ အစာရေစာရှားပါး၍ လည်းကောင်း၊ နေအလွန်ပူသော သဲပြင်ကြီးဖြစ်၍လည်းကောင်း၊ အကူးအသန်း အသွားအလာခက်၍ “ကန္တာရ”ခေါ်သော ခရီးဆိုး ခရီးကြမ်းများလည်း ရှိတတ်လေသည်။ → Trên các chặng đường, thường có những con đường xấu và gian khổ gọi là "sa mạc" (Kantāra) vì sự nguy hiểm của sư tử, báo, cọp, quỷ dữ, kẻ trộm, cướp; hoặc vì sự khan hiếm thức ăn nước uống; hoặc vì đó là bãi cát rộng lớn với cái nắng vô cùng thiêu đốt khiến việc đi lại rất khó khăn. ကုန်သည်မျိုးကြီးတို့သည် ထိုခရီးဆိုးကြီးမှ လွတ်မြောက်၍ ဘေးမရှိရာသို့ရောက်အောင် အဖော်ငယ်သား ကုန်သည်များကို ပို့ဆောင်သကဲ့သို့ ဘုရားရှင်ကိုယ်တော်မြတ်လည်း အိုရမှု နာရမှု သေရမှု စိုးရိမ်ပူဆွေး ငိုကြွေးမြည်တမ်း ပင်ပန်းဆင်းရဲ တကွဲတပြားဖြစ်ရမူစသော ဘေးဒုက္ခတို့ဖြင့် မရှောင်သာအောင် ဆိုးသွမ်းသော သံသရာတည်းဟူသော ကန္တာရကြီးမှ သတ္တဝါအများကို ကယ်တင်၍ နိဗ္ဗာန်တိုင်အောင် ပို့ဆောင်တော်မူရကား ကုန်သည်ကြီးနှင့် တူတော်မူပေသည်။ → Giống như những vị thương gia trưởng dẫn dắt các thương gia cấp dưới thoát khỏi con đường xấu đó để đến nơi an toàn, Đức Thế Tôn cũng cứu độ nhiều chúng sinh thoát khỏi sa mạc lớn của luân hồi đầy rẫy những hiểm họa không thể tránh khỏi như già, bệnh, chết, sầu ưu, bi thán, khổ đau và chia lìa, để đưa họ đến tận Niết-bàn; vì vậy Ngài giống như một vị thương gia trưởng. တိုက်တွန်းချက်။ → Lời khuyến khích. “ဘုရားတစ်ဆူတစ်ဆူ ပွင့်တော်မူလာသောအခါ များစွာသောသတ္တဝါကို နိဗ္ဗာန်သို့ ပို့ဆောင်တော်မူပါလျက် ငါတို့တစ်တွေ မလိုက်ပါနိုင်ဘဲ ကျန်ရစ်ခဲ့ကြရသည်မှာ လွန်စွာဝမ်းနည်းဖွယ်ကောင်းလှပေပြီ၊ သို့ပါလျက် ယခုခေတ်၌ သူတော်ကောင်းအခေါ်ခံရသူတို့မှာ ကိုယ့်တာဝန်ဖြစ်သော တရားအားထုတ်မှု၊ → "Khi mỗi một vị Phật xuất hiện, Ngài dẫn dắt rất nhiều chúng sinh đến Niết-bàn, vậy mà chúng ta lại không thể đi theo và bị rớt lại sau, điều này thật là đáng buồn; thế nhưng, trong thời đại nay, những người được gọi là bậc thiện trí thức lại xao nhãng nhiệm vụ của chính mình là thực hành giáo pháp," TRANG 53 ပါရမီဖြည့်မှုကို မကြိုးစားဘဲ “နိဗ္ဗာန်ကို မြန်မြန်ရလိုပါ၏”ဟု ဆုတောင်းတုန်းပင်။ → "họ không nỗ lực vun bồi Ba-la-mật mà vẫn cứ cầu nguyện rằng 'con muốn mau chóng đạt được Niết-bàn'." ထိုသို့ ဆုတောင်းရင်း ကျန်ရစ်ကြရသည်ကိုကား သတိရကြဟန်မတူ၊ သတိရ၍ ကြိုးစားလိုသူအတွက်မှာမူ ယခုလည်း အချိန်ရပါသေး၏။ → Có vẻ như họ không nhận ra rằng mình bị rớt lại chính vì chỉ lo cầu nguyện như thế; tuy nhiên, đối với những ai đã tỉnh thức và muốn nỗ lực, thì bây giờ vẫn còn kịp thời gian. ဘုရားရှင် ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူပြီးနောက်မှ သတိရ၍ တရားတော်လာအတိုင်း ကြိုးစားသူတွေ အရှင်မဟိန္ဒထေရ်၊ သံဃမိတ္တာထေရီ စသည်ကဲ့သို့ များစွာကျွတ်တမ်းဝင်ခဲ့ကြပါသည်။ → Sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, những người tỉnh thức và nỗ lực theo đúng giáo pháp như Ngài Mahinda Thera, bà Saṅghamittā Therī và nhiều vị khác đã đạt được sự giải thoát. ထို့ကြောင့် ဘုရားကို အာရုံပြုရင်း ဖြစ်လာသော နှစ်သက်မှု (ပီတိ) စိတ်ကိုပင် အနိစ္စ ဒုက္ခ အနတ္တဟု ဝိပဿနာကမ္မဋ္ဌာန်းရှုကာ မိမိ၏ ခန္ဓာကိုယ်နှင့်တကွ တစ်လောကလုံးကို ငြီးငွေ့စရာဟု ဆင်ခြင်စမ်းပါလော့၊ ပီတိတစ်ခုကိုပင် အနိစ္စ၊ ဒုက္ခ၊ အနတ္တဟု မြင်လာသောအခါ တစ်ကိုယ်လုံးရှိ ရုပ်တရား နာမ်တရားတွေကိုလည်း ကူးစက်၍ အနိစ္စ၊ ဒုက္ခ၊ အနတ္တဟု မြင်လာနိုင်ပါသည်။ → Do đó, hãy thử hành trì thiền quán (Vipassanā) bằng cách quán chiếu ngay cả tâm hỷ lạc (Pīti) phát sinh khi hướng tâm về Đức Phật là Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anatta), và quán xét toàn bộ thế gian cùng với thân thể mình là điều đáng nhàm chán; khi đã thấy được ngay cả một niềm hỷ lạc là vô thường, khổ, vô ngã, thì cái thấy đó sẽ lan tỏa để có thể thấy được tất cả danh pháp và sắc pháp trong toàn bộ cơ thể cũng là vô thường, khổ, vô ngã. ဗုဒ္ဓဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Buddho (Để học thuộc). (၈) သော ဘဂဝါ-ထိုရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည် ဣတိပိ ဣမိနာ စ ကာရဏေန-ဒုက္ခသမုဒယ၊ နိရောဓနှင့်၊ မဂ္ဂမည်သာ၊ လေးသစ္စာကို၊ ဦးစွာပိုင်ပိုင်၊ သိမြင်နိုင်၍၊ သုံးဆိုင်ဝေနေ၊ များဗိုလ်ခြေကို၊ မသွေအတူ၊ သိစေတော်မူနိုင်သော ဤ → (8) So Bhagavā – Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của những vinh quang (hồng danh) cao thượng ấy, Iti pi iminā ca kāraṇena – vì lý do này: Ngài đã tự mình thấu suốt trước tiên bốn sự thật là Khổ (Dukkha), Tập (Samudaya), Diệt (Nirodha) và Đạo (Magga), và Ngài có khả năng làm cho đông đảo chúng sinh trong ba cõi cũng được biết đến (những sự thật ấy) một cách không sai chạy; vì lý do này... TRANG 54 အကြောင်းကြောင့်လည်း၊ ဗုဒ္ဓေါ-ဗုဒ္ဓဟူသော ဂုဏ်တော်ကြီးဖြင့်၊ အံ့ချီး၍မကုန်၊ ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်၊ ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား၊ ထင်ရှားတော်မူပါပေသည်တကား။ → Chính vì lý do này, với ân đức lớn lao gọi là Buddho, thật sự là một sự vĩ đại không thể ca ngợi cho hết, sự nổi tiếng và vang lừng của Ngài lan tỏa khắp cho đến tận cõi Phạm thiên. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để xem xét. ဗုဒ္ဓဂုဏ်တော်သည် “ကိုယ်တော်တိုင်သိ၍ သူတစ်ပါးကိုလည်း သိစေတော်မူနိုင်သည်”ဟူသော အနက်ကို ပြ၏။ → Ân đức Buddho thể hiện ý nghĩa rằng "Ngài tự mình thấu suốt và cũng có khả năng làm cho những người khác cùng thấu suốt". (၁) ဒုက္ခသစ္စာ။ ။(ဒုက္ခ-ဆင်းရဲခြင်း+သစ္စာ-အမှန်) ရုပ်ခန္ဓာနှင့် စိတ်စေတသိက်ဟူသော နာမ်ခန္ဓာတရားတွေ ပေါင်းစပ်နေသည်ကို “ခန္ဓာကိုယ်”ဟု ခေါ်၏။ → (1) Dukkha saccā: (Dukkha - sự khổ + Saccā - sự thật). Sự kết hợp của các pháp sắc thân (rūpakkhandha) và danh thân (nāmakkhandha) gồm tâm và tâm sở được gọi là "thân thể". ဤခန္ဓာကိုယ်သည် ဒုက္ခတုံး ဒုက္ခခဲ ဆင်းရဲခြင်း အမှန်ဖြစ်၏။ → Thân thể này chính là một khối khổ, một đống khổ, là một sự thật về sự khổ. ဤခန္ဓာကိုယ်ကြီးရှိလို့သာ စားဖို့ သောက်ဖို့ ဝတ်ဖို့ နေဖို့ ရှာဖွေသွားလာရ၏။ အိုရ နာရ သေရ ကြုံရ၏။ → Chỉ vì có thân thể này mà phải đi lại tìm kiếm cái ăn, cái uống, cái mặc, cái ở; phải đối mặt với cái già, cái bệnh, và cái chết. အရှာအဖွေအနေ မတရားသဖြင့် အပါယ်လေးပါးသို့ ကျရောက်ကာ ဒုက္ခခံရ၏။ စိုးရိမ်ပူဆွေး ငိုကြွေးမြည်တမ်း ပင်ပန်းဆင်းရဲရ၏။ → Nếu việc tìm kiếm sinh kế không đúng pháp thì sẽ rơi vào bốn đường ác đạo và chịu khổ; phải sầu ưu, bi thán, thân thể nhọc nhằn, tâm hồn đau khổ. ထောင်တန်းကျသဖြင့် အရှက်တကွဲ အကျိုးနည်းလည်း ဖြစ်ကြရ၏။ အလွန်အလွန် စီးပွားတွေ စုဆောင်းပြီးမှ စွန့်ပစ်ထားခဲ့ရ၏။ မခွဲချင်ဘဲနှင့် တကွဲတပြားဖြစ်ရ၏။ → Do bị tù tội mà phải chịu nhục nhã và tổn hại; sau khi tích lũy rất nhiều tài sản thì lại phải từ bỏ lại tất cả; dù không muốn chia lìa nhưng vẫn phải chịu cảnh mỗi người một nơi. ခေတ္တခဏ ချမ်းသာသလို ထင်ရသော်လည်း အစဆုံးကြည့်လိုက်လျှင် ချမ်းသာစစ်စစ်ဟူ၍ မမြင်ရချေ။ → Dù có vẻ như hạnh phúc trong chốc lát, nhưng nếu quán xét từ đầu đến cuối thì chẳng thể thấy được một hạnh phúc thực sự nào cả. “အလွန်ချမ်းသာသည်”ဟုဆိုရသော နတ်ပြည် ဗြဟ္မာပြည်များသို့လည်းရောက်ဖို့ရန် အားထုတ်ရသော ဒုက္ခ၊ ရောက်ပြီးသည်နောက်၌ ပျက်စီးရသောအခါ ဒုက္ခ၊ [နတ်ပြည်၌“ပျက်စီးလိမ့်မည်”ဟု စောစောက အချို့သိနှင့်ကြသဖြင့် “ဤမျှလောက် ကြီးကျယ်သော စည်းစိမ်ကို စွန့်ရတော့မှာပါတကား”ဟု ဇောချွေးများ ကျပြီးလျှင် “အလွန်အလွန် ဆင်းရဲရလေသည်”]။ → Ngay cả cõi Thiên và cõi Phạm thiên được cho là "rất hạnh phúc", thì cũng có cái khổ khi phải nỗ lực để đạt đến, và cái khổ khi bị hoại diệt sau khi đã đến đó; [Ở cõi Thiên, vì một số vị biết trước rằng "mình sẽ bị hoại diệt", họ toát mồ hôi hột vì nghĩ rằng "phải từ bỏ khối tài sản vĩ đại dường này sao" và cảm thấy vô cùng đau khổ]. TRANG 55 ဤသို့ဆင်းရဲကန် စင်စစ်မှန်သောကြောင့် ငါ၏ခန္ဓာကိုယ်နှင့် သတ္တဝါအားလုံး၏ ခန္ဓာကိုယ်သည် ဒုက္ခသစ္စာချည်းပါတကား။ → Vì sự khổ này là hoàn toàn có thật, nên thân thể của tôi và thân thể của tất cả chúng sinh đều chỉ là Khổ đế (Dukkha saccā) mà thôi. (၂) သမုဒယသစ္စာ။ ။(သမုဒယ-ဒုက္ခဖြစ်ကြောင်း + သစ္စာ-အမှန်) ထိုဒုက္ခ၏ အကြောင်းရင်းကား “တဏှာလောဘ”ခေါ်သော နှစ်သက်ခင်မင် လိုချင်တောင့်တမှုသည် အကြောင်းအမှန်ဖြစ်တော့၏။ → (2) Samudaya saccā: (Samudaya - nguyên nhân sinh khổ + Saccā - sự thật). Nguyên nhân gốc rễ của sự khổ đó chính là sự thật về "Taṇhā lobha" (Tham ái), tức là sự yêu thích, trì mến và mong muốn khát khao. ဒုက္ခသစ္စာ၌ပြခဲ့သော ဒုက္ခဟူသမျှသည် ဤလိုချင်တောင့်တမှုကို အကြောင်းပြု၍ ဖြစ်၏။ → Tất cả những nỗi khổ đã nêu trong Khổ đế đều phát sinh do lấy sự mong muốn khát khao này làm nguyên nhân. ထိုတောင့်တလိုချင်မှုကြောင့် တစ်ခါတစ်ရံ မတရားပြုမိ၍ ဤလောက၌ပင် မင်းပြစ်မင်းဒဏ်၊ နောက်သံသရာ၌ အပါယ်လေးပါးသို့ ကျရောက်လျက် အတိုင်းမသိ ဆင်းရဲဒဏ်ကို ခံရသည်၊ → Vì sự khát khao mong muốn đó mà đôi khi làm điều phi pháp, ngay trong đời này phải chịu hình phạt của luật pháp, và trong vòng luân hồi sau này phải rơi vào bốn đường ác đạo, chịu hình phạt khổ đau vô bờ bến. သံသရာဝဋ်ဆင်းရဲမှ မလွတ်ဘဲ တဝဲလည်လည် ကျင်လည်ရချက်သည် ထိုထိုဘဝကို တောင့်တလိုချင်သော လောဘတဏှာ၏ စနက်သာတည်း။ → Việc cứ luân chuyển mãi không thoát khỏi nỗi khổ của vòng lặp luân hồi (Vaṭṭa) chính là do sự tác động của tham ái (Lobha taṇhā), thứ luôn khát khao mong muốn các đời sống này khác. တောင့်တလိုချင်မှုဟူသော တဏှာလောဘသည် တရားသဖြင့် မချုပ်တည်းနိုင်မျှ သူ့အလိုလျောက်သာဖြင့် မည်သည့်အခါမျှ နောက်ဆုတ်လိမ့်မည်မဟုတ်။ → Tham ái lobha, tức là sự khát khao mong muốn, nếu không thể chế ngự bằng Pháp thì cứ theo bản năng của nó, sẽ chẳng bao giờ dừng lại. “သံပရာသီး ကြီးလေ ချဉ်လေ”ဖြစ်သကဲ့သို့လည်းကောင်း၊ “ငယ်စဉ်ကပေါက်သော နွားဦးချိုသည် ကြီးလေ ရှည်လေ”ဖြစ်သကဲ့သို့လည်းကောင်း၊ “မီးသည် လောင်စာများလေ မီးတောက်ကြီးလေ”ဖြစ်သကဲ့သို့လည်းကောင်း၊ ဤတဏှာလောဘ၏သဘောသည်လည်း “ရလေ လိုလေ၊ ရဖန်များလေ လောဘတိုးလာလေပင်”ဖြစ်တော့သည်။ → Giống như "quả chanh càng lớn thì càng chua", như "chiếc sừng bò mọc từ nhỏ càng lớn thì càng dài", như "lửa càng nhiều củi thì ngọn lửa càng to"; bản chất của tham ái lobha này cũng vậy, "càng có được càng muốn thêm, có được nhiều lần thì lòng tham lại càng tăng trưởng". TRANG 56 တဏှာလောဘ ကြီးလာသလောက်လည်း ဒုက္ခကြီးကြီးပင် ရောက်ကြမည်သာ။ → Tham ái lobha càng lớn bao nhiêu thì người ta cũng sẽ chỉ nhận lấy nỗi khổ lớn bấy nhiêu mà thôi. မန္ဓာတ်စကြာမင်း ဝတ္ထု။ ။ဤကမ္ဘာ၏ အစပိုင်းလောက်က ဘုရားအလောင်းတော်သည် လေးကျွန်းလုံးကို အစိုးရသော မန္ဓာတ်စကြာမင်းဖြစ်၏။ → Chuyện vua Chuyển luân vương Mandhātā: Vào khoảng đầu kiếp trái đất này, Bồ-tát là vua Mandhātā, bậc Chuyển luân vương cai quản cả bốn châu lục. တစ်နေ့သ၌ စကြာရတနာဖြင့် ပရိသတ်ခြံရံလျက် ကောင်းကင်ခရီး၌ လေးကျွန်းလုံးလှည့်လည်စဉ် စတုမဟာရာဇ် နတ်ပြည်၏ ကြီးကျယ်ခမ်းနားကြောင်းကို ကြားရ၍ အခြံအရံ ပရိသတ်များနှင့်တကွ စတုမဟာရာဇ်နတ်ပြည်သို့ ချီတက်လေသော် စတုမဟာရာဇ်နတ်မင်းကြီး ၄-ပါးက ခရီးဦးကြိုဆိုလျက် နတ်ပြည်ကို ဆက်သကြ၏။ → Một ngày nọ, khi đang du hành khắp bốn châu lục trên không trung cùng đoàn tùy tùng bằng báu vật vòng xe (Cakkāratana), nghe nói về sự vĩ đại và huy hoàng của cõi thiên Tứ Đại Thiên Vương (Cātumahārājikā), đức vua cùng đoàn tùy tùng đã tiến về cõi thiên đó; khi ấy bốn vị đại thiên vương đã ra đón rước và dâng cõi thiên cho vua. ထိုအခါ နတ်စည်းစိမ်ကို ခံစားရသော်လည်း တာဝတိံသာနတ်ပြည်သည် ဤနတ်ပြည်ထက်ပင် အဆတစ်ရာမက သာလွန်ကြီးကျယ်ကြောင်း ကြားရပြန်၍ တာဝတိံသာသို့ ချီပြန်လေသော် စကြာရတနာနှင့် ပရိသတ်တို့ မလိုက်နိုင်ကြဘဲ လမ်းခုလတ်မှ လူ့ပြည်သို့ ပြန်ကြရလေသည်။ → Khi ấy, dù đang hưởng thụ dục lạc ở đó, nhưng nghe nói cõi thiên Tāvatiṃsa (Tam Thập Tam Thiên) còn vĩ đại và thù thắng hơn cõi này gấp trăm lần, vua lại tiến về cõi Tāvatiṃsa; lúc này báu vật vòng xe và đoàn tùy tùng không thể đi theo nổi nên đã phải trở về nhân giới từ giữa đường. ထိုအခါ တစ်ကိုယ်တည်း ကြွလာသော မန္ဓာတ်မင်းအား သိကြားကိုယ်တိုင် နတ်ပြည်ကို တစ်ဝက်ခွဲ၍ လွှဲအပ် ခံစားစေလေသည်။ → Khi ấy, vua Mandhātā đến đó một mình đã được đích thân Thiên chủ Sakka chia cho một nửa cõi thiên để cai quản và hưởng thụ. ထိုအခါ လူတို့၏ အသက်တမ်းမှာလည်း အလွန်ရှည်ကြာသော အသင်္ချေတန်းအခါဖြစ်၍ ပကတိ သိကြားပေါင်း ၃၆-ယောက် ပြောင်းလဲသည့်တိုင်အောင် ထိုမန္ဓာတ်စကြာမင်းသည် စုတေတော်မမူသေးဘဲ ခံစားမြဲ ခံစားနေပါလျက် နတ်ပြည်တစ်ဝက်မျှ အုပ်စိုးရခြင်းဖြင့် တင်းတိမ်တော်မမူသောကြောင့် ရောက်ခါစ သိကြားသစ်ကို သတ်ဖြတ်လိုသော အကြံဆိုးပေါ်ပေါက်လာသဖြင့် ထိုနတ်ပြည်မှ ကွယ်ပျောက်ခဲ့၍ လူ့ပြည်သို့အရောက်တွင် စုတေပွဲဝင်ရလေသည်။ [အတတ္တဒုက္ခတာ-တိကနိပါတ်-သက်ပုဝါတ်၊ မန္ဓာတုဇာတ်]။ → Lúc bấy giờ tuổi thọ con người rất dài (thời kỳ Asankheyya - vô số tuổi), cho đến khi đã có 36 vị Thiên chủ Sakka thay đổi vị trí, mà vua Chuyển luân Mandhātā vẫn chưa chết, vẫn hưởng thụ như cũ; tuy nhiên vì không thỏa mãn với việc chỉ cai quản một nửa cõi thiên nên đã nảy sinh ý định xấu muốn giết vị Thiên chủ mới vừa lên ngôi, do đó vua đã biến mất khỏi cõi thiên ấy, và ngay khi vừa rơi xuống nhân giới thì liền qua đời. [Atattadukkhatā - Tika Nipāta - Thappuvāt, Mandhātu Jātaka]. TRANG 57 ဤဝတ္ထု၌ သိကြားပေါင်း ၃-ကျိပ် ၆-ယောက် ပြောင်းလဲအောင် နတ်စည်းစိမ်ကို စံရပါလျက် အားမရနိုင်သော လောဘ၏ကြီးကျယ်ပုံကို မှန်းဆသင့်တော့သည်။ → Qua câu chuyện này, cần phải suy xét về sự vĩ đại của tham ái (Lobha), thứ vốn không thể thỏa mãn dù đã hưởng thụ dục lạc thiên giới qua thời gian của 36 vị Thiên chủ Sakka. ထို့ကြောင့် တဏှာလောဘမည်သည် တရားဖြင့် မချုပ်တည်းနိုင်မျှ သူ့အလိုအလျောက် မည်သည့်အခါမှ နောက်ဆုတ်လိမ့်မည်မဟုတ်၊ တဏှာလောဘ နောက်မဆုတ်သမျှလည်း ပြခဲ့သော ဒုက္ခပေါင်းမှ လွတ်နိုင်ကြဦးမည်မဟုတ်၊ → Do đó, thứ gọi là tham ái lobha nếu không thể chế ngự bằng Pháp thì cứ theo bản năng của nó, sẽ chẳng bao giờ dừng lại; và chừng nào tham ái chưa dừng lại thì người ta vẫn chưa thể thoát khỏi những nỗi khổ đã nêu. ထို့ကြောင့် နှစ်သက်ခင်မင် လိုချင်တောင့်တမှုဟူသော တဏှာလောဘသည် အားလုံးသော ဒုက္ခပေါင်းတို့၏ အကြောင်းရင်းခံ စင်စစ်မှန်သော သမုဒယသစ္စာပေတည်း။ → Vì vậy, tham ái lobha - tức là sự yêu thích, trì mến và mong muốn khát khao - chính là Tập đế (Samudaya saccā), nguyên nhân gốc rễ thực sự của tất cả mọi nỗi khổ. (၃) နိရောဓသစ္စာ။ ။(နိရောဓ-ဒုက္ခ၏ချုပ်ဆုံးရာ+ သစ္စာ-အမှန်) ထိုဒုက္ခအားလုံး၏ ချုပ်ဆုံးရာအမှန်ကား နိဗ္ဗာန်တည်း။ → (3) Nirodha saccā: (Nirodha - nơi chấm dứt khổ đau + Saccā - sự thật). Sự thật về nơi chấm dứt hoàn toàn tất cả nỗi khổ đó chính là Niết-bàn. ထိုနိဗ္ဗာန်၏ ဒုက္ခမရှိပုံ၊ မည်ကဲ့သို့ ချမ်းသာပုံကိုမူ နိဗ္ဗာန်ကို မြင်နိုင်သော ဉာဏ်ရမှသာ ကျနစွာသိနိုင်ရာ၏။ → Về việc Niết-bàn không có khổ ra sao, hạnh phúc như thế nào, thì chỉ khi đạt được tuệ giác nhìn thấy Niết-bàn mới có thể biết một cách thấu đáo. သောတာပန်အဖြစ်သို့ ရောက်လျှင်ပင် နိဗ္ဗာန်၏အရသာကို သိမြင်နိုင်ပေပြီ။ → Ngay khi đạt đến quả vị Sota-panna (Thánh Dự Lưu), người ta đã có thể nếm trải và thấy được hương vị của Niết-bàn. သောတာပန်များသည် နိဗ္ဗာန်၏အရသာကို ကျနစွာ သိမြင်ပြီးဖြစ်၍ ရဟန္တာအဖြစ်သို့ ရောက်အောင်သာ တိုးတက် အားထုတ်ကြတော့သည်။ → Các vị Dự Lưu vì đã biết rõ hương vị của Niết-bàn nên chỉ còn nỗ lực tiến tới để đạt đến quả vị A-la-hán. ပုထုဇဉ်အဖြစ်သို့ ဆုတ်နစ်ခဲ့သူမရှိ၊ ရဟန္တာဖြစ်၍ ပရိနိဗ္ဗာန်ဝင်စံခါနီးမှာလည်း ဒုက္ခရုပ်နာမ်ကို စွန့်ရတော့မည်ဖြစ်၍ ကြည်လင် ရွှင်ပျတော်မူကြသည်။ → Không có ai quay trở lại làm kẻ phàm phu; khi đã trở thành bậc A-la-hán và sắp nhập Niết-bàn, vì biết rằng mình sắp từ bỏ được danh sắc khổ đau nên các Ngài luôn thanh thản và hỷ lạc. TRANG 58 နိဗ္ဗာန်သည် ယခုပုထုဇဉ်တို့ အတွေးမျိုးဖြင့်တွေးကာ ပျင်းစရာဖြစ်နေလျှင် နိဗ္ဗာန်ဝင်ခါနီး၌ မည်သူမျှ ရွှင်ပျနိုင်ကြမည် မဟုတ်ပါ။ → Nếu Niết-bàn là một nơi nhàm chán như những gì kẻ phàm phu hiện nay thường suy tưởng, thì chẳng có ai lại có thể hân hoan khi sắp nhập Niết-bàn cả. မိမိတို့သွားရမည့် နိဗ္ဗာန်၏ချမ်းသာပုံကို ထိုပုဂ္ဂိုလ်မြတ်တို့၏ အာရုံ၌ ရှင်းရှင်းလင်းလင်း သိပြီးဖြစ်၍သာ ရွှင်ပျတော်မူနိုင်ကြပေသည်။ → Chính vì những bậc cao thượng ấy đã thấu suốt một cách rõ ràng trong tâm về trạng thái hạnh phúc của Niết-bàn mà họ sắp đi đến, nên họ mới có thể hân hoan như vậy. မိထွေးတော်ဂေါတမီ ပရိနိဗ္ဗာန်စံခါနီး၌ နတ်ရောလူပါ လွမ်းဆွတ်တသ ငိုပွဲကြီးကျင်းပကြသော်လည်း မိထွေးတော်ကား အနည်းငယ်မျှ ဝမ်းနည်းခြင်းမရှိဘဲ “သားတော် သမီးတော်များ- ဤအခါမျိုးကား ငိုရမည့်အခါမဟုတ်၊ ဝမ်းမြောက်ရမည့်အခါ ဖြစ်သည်”ဟု တရားချလျက် တန်ခိုးပင် ပြခဲ့ပေးသေးသည်။ → Khi Di-mẫu Gotamī sắp nhập Niết-bàn, dù chư thiên và loài người đều thương tiếc khóc lóc thảm thiết, nhưng riêng Di-mẫu không hề có chút buồn bã mà còn thuyết pháp và thi triển thần thông rằng: "Các con trai, các con gái của ta - thời điểm này không phải là lúc để khóc, mà là lúc phải vui mừng". အမျိုးဇာတ် ဂုဏ်သိမ် စည်းစိမ်အားဖြင့် အထက်တန်းကျ၍ ပါရမီကြီးမားလှသော ရှင်တော်ဘုရားနှင့် သူတော်ကောင်းကြီးများ သွားရာလမ်းကောင်းကို ငါတို့တတွေ အဘယ်မှာ မလိုက်လိုဘဲ ရှိသင့်အံ့နည်း။ → Đối với con đường cao quý mà Đức Thế Tôn và các bậc thiện trí thức – những người có dòng dõi, đức hạnh và tài sản tối thượng cùng Ba-la-mật to lớn – đã đi qua, tại sao chúng ta lại không muốn đi theo cho được? တပျော်တပါး မနားမနေပါရမီတွေကို ဖြည့်ကာ ဖြည့်ကာ ကောင်းစွာစိုက်စိုက်လိုက်ကြဖို့ရာ ယခုနှယ်က ပြင်ဆင်ထားကြပါကုန်။ → Hãy chuẩn bị ngay từ bây giờ để nỗ lực vun bồi các Ba-la-mật một cách liên tục, không nghỉ ngơi và đầy hỷ lạc để tiến bước theo các Ngài. (၄) မဂ္ဂသစ္စာ။ ။(မဂ္ဂ-နိဗ္ဗာန်ရောက်ကြောင်း လမ်းကောင်း+ သစ္စာ-အမှန်) နိဗ္ဗာန်ရောက်ကြောင်း လမ်းကောင်းအမှန်ကား မဂ္ဂင်ရှစ်ပါးတည်း။ → (4) Magga saccā: (Magga - con đường tốt dẫn đến Niết-bàn + Saccā - sự thật). Sự thật về con đường chân chính dẫn đến Niết-bàn chính là Bát Chánh Đạo. မဂ္ဂင်ရှစ်ပါး → Bát Chánh Đạo: သမ္မာဒိဋ္ဌိ = ကောင်းသော အမြင်မှာ ဉာဏ်ပညာ။ → Sammā-diṭṭhi: Trí tuệ trong cái nhìn đúng đắn (Chánh kiến). သမ္မာသင်္ကပ္ပ = ကောင်းသော အကြံအစည်။ → Sammā-saṅkappa: Ý định đúng đắn (Chánh tư duy). TRANG 59 သမ္မာဝါစာ = ကောင်းသော စကားကို ဆိုခြင်း။ → Sammā-vācā: Nói những lời đúng đắn (Chánh ngữ). သမ္မာကမ္မန္တ = ကောင်းသော အမှု့ကို ပြုခြင်း။ → Sammā-kammanta: Làm những việc đúng đắn (Chánh nghiệp). သမ္မာအာဇီဝ = ကောင်းသော အသက်မွေးခြင်း။ → Sammā-ājīva: Nuôi mạng theo cách đúng đắn (Chánh mạng). သမ္မာဝါယာမ = ကောင်းသော အားထုတ်ခြင်း။ → Sammā-vāyāma: Nỗ lực theo cách đúng đắn (Chánh tinh tấn). သမ္မာသတိ = ကောင်းသော အမှတ်ရခြင်း။ → Sammā-sati: Sự ghi nhớ đúng đắn (Chánh niệm). သမ္မာသမာဓိ = ကောင်းသော တည်ကြည်ခြင်း။ → Sammā-samādhi: Sự định tâm đúng đắn (Chánh định). [အပြစ်ကင်း၍ ကုသိုလ်ကြိယာနှင့် ဆိုင်သမျှကိုသာ “အကောင်း”ဟု ဆိုလိုသည်။] → [Chỉ những hành động không có lỗi và thuộc về thiện nghiệp mới được gọi là "đúng đắn/tốt đẹp"]. [ဆောင်] အလီဗာဉာဏ်၊ ကောင်းအောင်ကြံ၍ အမှန်ပြောပြ၊ ပြုသမျှ ကောင်း၊ သက်မွေးကောင်းပင်၊ ကောင်းကောင်းအားစိုက်၊ စိတ်၌စွဲမှတ်၊ ကောင်းမြတ်တည်ကြည်၊ ကောင်းရှစ်လီသည်၊ ရွှေပြည်နိဗ္ဗာန် ရောက်ကြောင်းတည်း။ → [Kệ nhớ] Tuệ giác thấu suốt, tư duy tốt đẹp, nói lời chân thật, mọi việc làm đều lành, nuôi mạng chân chính, nỗ lực hết mình, ghi nhớ trong tâm, định tĩnh cao thượng; tám điều tốt đẹp này chính là con đường dẫn đến thành phố vàng Niết-bàn. ဘုရားရှင်၏ သန္တာန်တော်၌- “ပုဗ္ဗေ အနနုဿုတေသု ဓမ္မေသု စက္ခုဥဒပါဒီ၊ ဉာဏံဥဒပါဒီ၊ ပညာဥဒပါဒီ၊ ဝိဇ္ဇာဥဒပါဒီ၊ အာလောကော ဥဒပါဒီ”ဟူသော ဓမ္မစကြာနှင့်အညီ ဘုရားဖြစ်အံ့ရှေးအခါက ကြားမျှမကြားဖူးအပ်သော ဤသစ္စာလေးပါးတရားတို့၌ သိမြင်နိုင်သော ပညာ၊ ဝိဇ္ဇာအရောင်အလင်းဟူသော ဉာဏ်စက္ခုသည် ဘုရားဖြစ်တော်မူခါနီးဝယ် ထင်ရှားစွာပေါ်လာ၏။ → Trong tâm thức của Đức Thế Tôn: Theo kinh Chuyển Pháp Luân "Pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi", nhãn thức, tri kiến, trí tuệ, minh sát và ánh sáng về Bốn Sự Thật chưa từng được nghe trước đây đã hiện khởi rõ rệt khi Ngài sắp thành đạo. သစ္စာလေးပါးကို ကိုယ်တော်တိုင် သိမြင်တော်မူပြီးနောက် ဘုံသုံးပါး၌ရှိကြသော ဝေနေယျသတ္တဝါတို့ကိုလည်း ကိုယ်တော်ကဲ့သို့ သိကြဖို့ရာ ဟောပြတော်မူပေသည်။ → Sau khi tự mình thấu suốt Bốn Diệu Đế, Ngài đã thuyết giảng để các chúng sinh hữu duyên trong ba cõi cũng có thể hiểu biết như Ngài. TRANG 60 [ယခုကာလ ဉာဏ်ထက်မြက်သူတို့သည် ရှေးကမသိဖူးသောအရာကို စူးစူးစိုက်စိုက် ကြံသောအခါ ထိုအရာကို သိနိုင်သောဉာဏ်များ ထင်ရှားပေါ်လာတတ်ပုံကို သတိထား၍ ဘုရားရှင်၏သန္တာန်၌လည်း ရှေးကမရှိသော ဝိဇ္ဇာဉာဏ်ပေါ်လာပုံကို ယုံကြည်ပါကုန်။] → [Hãy chú ý rằng ngày nay những người có trí tuệ sắc bén khi tập trung suy xét những điều chưa từng biết thường đạt được những kiến thức mới hiện rõ; từ đó hãy tin tưởng vào việc Minh sát tuệ chưa từng có đã hiện khởi trong tâm thức Đức Thế Tôn]. တိုက်တွန်းချက်။ ။ဒုက္ခများစွာ သံသရာမှ လွတ်မြောက်၍ နိဗ္ဗာန်ရောက်ဖို့ရာ တဏှာလောဘကို တစ်စတစ်စ ပယ်ရှားလျက် မဂ္ဂင်ရှစ်ပါးတည်းဟူသော လမ်းကောင်းကြီးကိုသာ လိုက်သွားမိအောင် သတိတရားကောင်းစွာထား၍ ကြိုးစားသင့်ကြသည်။ → Lời khuyến khích: Để thoát khỏi luân hồi đầy khổ đau và đạt đến Niết-bàn, chúng ta nên nỗ lực giữ chánh niệm để từng bước từ bỏ tham ái và bước đi trên con đường lớn của Bát Chánh Đạo. ထိုသို့ ကြိုးစားရာ၌ တကယ်တမ်း တောထွက်၍ အားတိုက်သရော မလိုက်နိုင်သေးလျှင် အိမ်သုံးမဂ္ဂင်များကို ကြိုးစားပါ။ → Trong khi nỗ lực ấy, nếu chưa thể thực sự xuất gia rời bỏ thế gian để tu tập tinh tấn, thì hãy cố gắng thực hành các "Bát Chánh Đạo tại gia". အိမ်သုံးမဂ္ဂင် ရှစ်ပါး → Bát Chánh Đạo dùng tại gia: သမ္မာဒိဋ္ဌိ။ ။ဘယ်ကိစ္စ၌မဆို ပြုသမျှကောင်းမှု မကောင်းမှုကံတို့သည် ငါ၏သန္တာန်၌ အမှတ်တင်ရစ်သည်။ → Sammā-diṭṭhi: Dù là việc gì, các nghiệp thiện hay bất thiện đã làm đều được lưu dấu trong tâm thức của ta. နောင်အခါ အခွင့်သင့်သလို ကောင်းကျိုး မကောင်းကျိုးကို တွေ့ကြုံရမည်ဟု ကံနှင့်ကံ၏အကျိုးကို နားလည်သောဉာဏ်ဖြစ်ပါစေ။ → Hãy để trí tuệ hiểu rõ về Nghiệp và Quả của nghiệp rằng: trong tương lai, khi có cơ hội, ta sẽ gánh chịu quả lành hoặc quả dữ tương ứng. တစ်ခါတစ်ရံကား ရုပ်နာမ်နှစ်ရပ်ပေါင်းစပ်၍ လူဟုခေါ်ဆိုအပ်သော ခန္ဓာကိုယ်၏ ဒုက္ခများစွာနှင့် မကင်းပုံကို ဆင်ခြင်၍ ခန္ဓာကိုယ်၌ အပြစ်မြင်အောင် ဝိပဿနာဉာဏ်ဖြစ်ပါစေ။ → Đôi khi hãy quán xét thân thể này, vốn được gọi là "người" nhưng chỉ là sự kết hợp của danh và sắc, luôn không rời khỏi những nỗi khổ, để phát khởi Minh sát tuệ thấy rõ lỗi lầm của thân xác. သမ္မာသင်္ကပ္ပ။ ။မိမိအတွက်ဖြစ်စေ၊ သူများအတွက်ဖြစ်စေ စိတ်သဘောကြီးကြီးထားလျက် အပြစ်မရှိဘဲ အကျိုးများမည့် အကြံကိုသာ ကြံပါ။ သူတစ်ပါးတို့ ပျက်စီးသွားမည့်အကြံ၊ ဆင်းရဲသွားမည့် အကြံများကို မကြံမိပါစေနှင့်။ → Sammā-saṅkappa: Dù cho bản thân hay cho người khác, hãy giữ tâm rộng mở và chỉ khởi lên những ý định không có lỗi mà mang lại lợi ích. Đừng để khởi lên những ý định làm người khác bị hủy hoại hay đau khổ. TRANG 61 မေတ္တာကရုဏာထား၍ သနားပါ၊ စောင့်ရှောက်ပါ။ တစ်ခါတစ်ရံကား “လူ့လုပ်ငန်းကိစ္စစုကို ဖြတ်၍ သင့်တော်ရာအရပ် (ဥပုသ်ရက်ရှည် စောင့်ကာ) ဆိတ်ဆိတ်ငြိမ်ငြိမ် တရားကျင့်မည်”ဟု ကြံပါ။ → Hãy có lòng từ bi, biết thương xót và bảo vệ chúng sinh. Đôi khi hãy dự định rằng: "Ta sẽ tạm gác các công việc thế gian để đến một nơi thích hợp (như đi thọ bát quan trai giới dài ngày) và thực hành pháp trong sự tĩnh lặng". သမ္မာဝါစာ။ ။မိမိမှာဖြစ်စေ၊ သူ့မှာဖြစ်စေ အကျိုးများမည့် စကားကိုသာပြောပါ။ မုသားစကား၊ ကြမ်းတမ်းသောစကား၊ အပုပ်အစပ် အချောင်အလွင့်စကားနှင့် ရန်တိုက်စကားတို့ကို မပြောမိပါစေနှင့်။ → Sammā-vācā: Chỉ nên nói những lời mang lại lợi ích cho mình hoặc cho người khác. Đừng để nói ra lời dối trá, lời thô ác, lời phù phiếm vô ích và lời đâm thọc chia rẽ. အိပ်ရာဝင် အိပ်ရာထအခါတို့၌ မိမိကျက်မှတ်ထားသော ဘုရားနှုတ်ကပတ်တော် တရားစာများကို ရွတ်နိုင်လျှင် သာ၍ကောင်းပါသည်။ → Nếu có thể tụng đọc những lời dạy của Đức Phật mà mình đã thuộc lòng vào lúc trước khi ngủ và sau khi thức dậy thì lại càng tốt đẹp hơn. သမ္မာကမ္မန္တ။ ။မိမိမှာဖြစ်စေ, သူများမှာဖြစ်စေ အကျိုးရှိသော အလုပ်များကိုသာ ဤခန္ဓာကိုယ်ဖြင့် ပြုလုပ်မိပါစေ။ သတ်မှု, ခိုးမှုစသော ကိုယ်နှင့်စပ်ဆိုင်ရာ မကောင်းမှုများကို မပြုမိပါစေနှင့်။ → Sammā-kammanta: Hãy dùng thân thể này để chỉ làm những việc có ích cho mình hoặc cho người khác. Đừng để làm những việc ác liên quan đến thân như sát sinh, trộm cắp. အိပ်ရာဝင် အိပ်ရာထ၌ ဘုရားကိစ္စ (ရေလဲ၊ ပန်းကပ်) စသည်ကို နေ့စဉ်ပြုပါစေ။ → Hãy duy trì việc làm các công việc cúng dường Phật (như thay nước, dâng hoa) hàng ngày vào lúc thức dậy và trước khi đi ngủ. သမ္မာအာဇီဝ။ ။မိမိ၏ အသက်မွေးဝမ်းကျောင်းအတွက် ပစ္စည်းရှာဖွေရာ၌ အပြစ်ကင်းပါစေ၊ သူတစ်ပါး မျက်ရည်ကျမှ မိမိဝမ်းဝမည့်အလုပ်ကို တစ်သက်လုံး ရှောင်ကြဉ်ပါ။ စွမ်းနိုင်လျှင် ရောင်းရေးဝယ်ရေး၌ ဆင်းရဲသူများကို ညှာနိုင်သမျှ ညှာပါ။ → Sammā-ājīva: Hãy giữ cho việc tìm kiếm vật chất để nuôi mạng được trong sạch, không có lỗi. Cả đời hãy tránh những công việc mà mình chỉ no bụng khi người khác phải rơi lệ. Nếu có thể, trong việc buôn bán hãy biết cảm thông và giúp đỡ những người nghèo khó hết mức có thể. သမ္မာဝါယာမ။ ။စီးပွားရှာရာဖြစ်စေ၊ ကုသိုလ်ကိစ္စဖြစ်စေ၊ ဝီရိယအမြဲရှိပါစေ၊ လောကီစီးပွားရေးဖြစ်စေ၊ သံသရာကြီးပွားရေးဖြစ်စေ... → Sammā-vāyāma: Dù là trong việc tìm kiếm sinh kế hay trong các việc thiện sự, hãy luôn luôn có sự tinh tấn. Dù là sự thịnh vượng ở đời này hay sự thăng tiến trong vòng luân hồi.... TRANG 62 ဖြစ်စေ၊ မဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန်ရဖို့အရေးဖြစ်စေ “အေးအေးစက်စက်နှင့် ကံစီမံသလို ဖြစ်လိမ့်မည်”ဟု ကံတစ်ခုကိုအားကိုးလို့ ရနိုင်ရိုး မရှိပါ။ → Dù là việc làm ăn hay việc đạt được Đạo Quả Niết-bàn, không bao giờ có chuyện có thể đạt được chỉ bằng cách dựa dẫm vào cái gọi là "nghiệp định sẵn" hay thái độ hờ hững "tới đâu thì tới". ရေလာမြောင်းပေးဆိုသလို ဝီရိယဖြင့် ကူညီပေးမှ ရှေးကံတွေ အခွင့်သာ၍ သင့်ရာအကျိုးကို ပေးပါသည်။ → Giống như câu nói "nước chảy thì khơi mương", chỉ khi có sự nỗ lực tinh tấn hỗ trợ thì các nghiệp cũ mới có cơ hội trổ quả tương ứng một cách thuận lợi. သမ္မာသတိ။ ။နေ့စဉ် ပြုစုနေကျဖြစ်သော ကုသိုလ်ကိစ္စကို မမေ့ပါနှင့်၊ အမြဲ သတိရပါစေ။ သေခါနီးတိုင်အောင် ကုသိုလ်ကိစ္စ သတိရနေလျှင် ဂတိကောင်းကို မုချရပါတော့မည်။ → Sammā-sati: Đừng quên các việc thiện sự vẫn thường làm hàng ngày, hãy luôn ghi nhớ chúng. Nếu có thể ghi nhớ các việc thiện cho đến tận lúc lâm chung, chắc chắn sẽ đạt được cảnh giới tái sinh tốt đẹp. သမ္မာသမာဓိ။ ။စိတ်နေစိတ်ထား တည်ကြည်ပါစေ။ နှုတ်အပြောလည်း စဉ်းစဉ်းစားစား သတိထားလျက် တည်ကြည်စွာပြောပါ။ မျက်နှာအနေအထားနှင့် ကိုယ်အသွားအလာ အနေအထိုင် ငြိမ်သက်တည်ကြည်နေလျှင် မြင်သူလူအများက ခန့်ညားကြည်ညို လျက် မျက်နှာအနေ မတင်းသည့်အတွက်လည်း တစ်မျိုးကျက်သရေတိုးကာ ချစ်ခင်စရာ ဖြစ်လာပါလိမ့်မည်။ → Sammā-samādhi: Hãy giữ tâm ý định tĩnh. Khi nói năng cũng phải suy nghĩ cẩn trọng, giữ chánh niệm và nói lời điềm tĩnh. Nếu sắc mặt, dáng đi và cử chỉ luôn điềm tĩnh, an nhiên, người ngoài nhìn vào sẽ nảy sinh lòng kính trọng, và vì nét mặt không căng thẳng nên sẽ tăng thêm phần phước đức, khiến mọi người yêu mến. ဤသို့လျှင် အိမ်မှာပင် နေထိုင်ရင်းဖြစ်နိုင်သော မဟာကုသိုလ် အကြမ်းစား အိမ်သုံးမဂ္ဂင်ရှစ်ပါးမှ အဆင့်ဆင့်တက်၍ ဈာန်မဂ်ဖိုလ် မဂ္ဂင်များသို့ရောက်အောင် သမ္မာသတိကြီးစွာထားလျက် သမ္မာဝါယမဖြင့် ကြိုးကြိုးစားစား အားထုတ်နေကြသူတို့မှာ အိပ်ရာဝင် အိပ်ရာထဲ၌ ဘုရားအာရုံပြုရင်း၊ ဘုရားရှိခိုးရင်း၊ ရေတော်၊ ပန်းတော်၊ ဆီမီးတော်ကပ်ရင်း ဗုဒ္ဓါနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်းဖြစ်၍ ထိုကမ္မဋ္ဌာန်းတွင် မဂ္ဂင်ရှစ်ပါး ပါဝင်နေပုံကို ပြပါဦးမည်။ → Như vậy, từ những bước thực hành "Bát Chánh Đạo tại gia" – một dạng đại thiện nghiệp cơ bản có thể thực hiện ngay tại nhà – để tiến dần lên các tầng thiền định và Đạo Quả, những người nỗ lực tinh tấn với chánh niệm lớn lao khi đang ở trên giường mà vẫn hướng tâm về Phật, lễ bái Phật, dâng nước, dâng hoa, dâng đèn thì đó chính là thiền tùy niệm Phật (Buddhānussati). Tôi sẽ chỉ ra cách mà Bát Chánh Đạo bao hàm trong chính đề mục thiền tập đó. TRANG 63 ဗုဒ္ဓါနုဿတိ မဂ္ဂင်ရှစ်ပါး → Bát Chánh Đạo trong thiền tùy niệm Phật: “အမျိုးသား အမျိုးသမီး လူကြီးသူမတစ်ယောက်သည် ဘုရားကို ပန်း၊ ရေချမ်းတို့ဖြင့် ရွှင်လန်းကြည်ဖြူ ပူဇော်ကန်တော့နေသည်”ဟု ဆိုကြပါစို့။ ထိုအချိန်မှာ ထိုသူတော်ကောင်း၏စိတ်ဝယ် နိဗ္ဗာန်ရောက်ကြောင်းလမ်းကောင်း မဂ္ဂင်ရှစ်ပါးလုံး ပါဝင်နေပုံကား- → Giả sử có một người nam, người nữ hoặc một vị cao niên đang dâng hoa, nước sạch với lòng hoan hỷ để cúng dường lễ bái Phật. Vào lúc đó, trong tâm của bậc thiện tri thức ấy, cả tám chi phần của con đường dẫn đến Niết-bàn đều hiện diện như sau: သမ္မာဒိဋ္ဌိ။ ။“ဘုရားရှင်သည် ငါတို့လို သတ္တဝါတွေအပေါ်မှာ မေတ္တာကရုဏာကြီးမားတော်မူသောကြောင့် ၄၅-ဝါ ကာလကြာအောင် မနေမနား တရားတော်များကိုလည်း ဟောပြဆုံးမတော်မူခဲ့ပေ၏။ ငါသည် ထိုတရားတော်များကို တစ်ဆင့်ကြားနေရသဖြင့် မကောင်းမှုများကို ရှောင်ရှား၍ ကောင်းမှုကုသိုလ်များကို ပြုတတ်ပေးသည်။ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏ တရားတော်များကြောင့် ငါသည် အပါယ် ၄-ပါးမှလွတ်၍ ကောင်းရာဘဝနှင့် နိဗ္ဗာန်ကို အမှန်ရတော့မည်။ ဘုရားရှင်သည် ငါ၏ကျေးဇူးတော်ရှင် အစစ်ပေတည်း။ ငါ့ကျေးဇူးရှင်ကို ရည်မှန်း၍ ငါသည် ပန်း၊ ရေချမ်းတို့ကို လှူဒါန်း ပူဇော်နေပါတကား၊ ဤသို့ စိတ်ထဲ၌ အသိဉာဏ်ဖြစ်နေခြင်းသည် သမ္မာဒိဋ္ဌိမဂ္ဂင် ဖြစ်နေခြင်းပင်တည်း။ → Sammā-diṭṭhi: "Vì Đức Thế Tôn có lòng từ bi to lớn đối với những chúng sinh như chúng ta nên Ngài đã không nghỉ ngơi, thuyết giảng và giáo huấn các giáo pháp suốt 45 hạ. Nhờ được nghe những giáo pháp ấy mà tôi biết tránh xa điều ác, làm những việc thiện. Nhờ vào giáo pháp của Đức Thế Tôn mà tôi chắc chắn sẽ thoát khỏi bốn đường ác đạo, đạt được cảnh giới tốt đẹp và Niết-bàn. Đức Thế Tôn thực sự là đấng ân nhân của tôi. Hướng về bậc ân nhân, tôi đang dâng hoa và nước sạch để cúng dường." Việc có trí tuệ hiểu biết như vậy trong tâm chính là đang có Chánh kiến. သမ္မာသင်္ကပ္ပ တည်း။ ။ပြခဲ့သည့်အတိုင်းပင် ဘုရားရှင်၏ ကျေးဇူးတော်များကို စဉ်းစားကြံစည်နေခြင်းသည် မိမိ၏စိတ်၌ သမ္မာသင်္ကပ္ပမဂ္ဂင် ဖြစ်နေ၏။ ဘုရားဂုဏ်တော်များကို ရွတ်ဆိုရှိခိုး နေခြင်းသည် သမ္မာဝါစာမဂ္ဂင် ဖြစ်နေ၏။ ပန်း၊ ရေချမ်း၊ အမွှေးတိုင်၊ → Sammā-saṅkappa: Việc suy xét và tư duy về những ân đức của Đức Thế Tôn như đã nêu chính là Chánh tư duy hiện diện trong tâm. Việc đọc tụng và lễ bái các ân đức Phật chính là Chánh ngữ. Việc chuẩn bị hoa, nước sạch, nhang thơm... TRANG 64 ဆီမီးတို့ကို သန့်ရှင်းအောင် သားနားအောင် ပြုလုပ်နေခြင်းသည် သမ္မာကမ္မန္တမဂ္ဂင် ဖြစ်နေ၏။ ဘုရားကိစ္စကို ပြုလုပ်နေချိန်ဝယ် အသက်မွေးဝမ်းကျောင်းအတွက် မကောင်းသော စီးပွားရှာမှု မရှိသောကြောင့် သမ္မာအာဇီဝမဂ္ဂင်လည်း ဖြစ်နေသည်ဟု ဆိုသင့်ပေ၏။ ဘုရားကိစ္စကို ပြုလုပ်အားထုတ်နေခြင်းသည်ပင် သမ္မာဝါယာမမဂ္ဂင် ဖြစ်နေ၏။ ဘုရားရှင်၏ ဂုဏ်တော်ကျေးဇူးတော်များကို သတိရနေခြင်းသည် (ဗုဒ္ဓါနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်း ပွားများနေခြင်းသည်) သမ္မာသတိမဂ္ဂင် ဖြစ်နေ၏။ (တစ်ခြားကိစ္စကို အမှတ်မရတော့ဘဲ)ဘုရားကိစ္စတစ် ခု၌သာ စိတ်တည်နေခြင်းသည် သမ္မာသမာဓိမဂ္ဂင်ဖြစ်နေ၏။ → ...và sắp xếp chúng sao cho sạch sẽ, trang nghiêm chính là Chánh nghiệp. Trong lúc đang làm việc thờ phụng Phật, vì không có việc tìm kiếm sinh kế bất thiện nên có thể nói là Chánh mạng cũng đang hiện diện. Chính việc nỗ lực thực hiện các công việc thờ phụng Phật là Chánh tinh tấn. Việc ghi nhớ các ân đức và công hạnh của Đức Thế Tôn (tức là đang tu tập thiền tùy niệm Phật) chính là Chánh niệm. Việc tâm chỉ định tĩnh vào duy nhất một việc thờ phụng Phật (mà không nhớ đến chuyện khác) chính là Chánh định. ဤသို့လျှင် ဘုရားကို ရှိခိုးကန်တော့နေသောအခါ ပန်း၊ ဆီမီးစသည်ဖြင့် ပူဇော်နေသောအခါ ဘုရားကိုအာရုံပြု၍ ဗုဒ္ဓါနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်း စီးဖြန်းပွားများလျက် (ပုတီးစိပ်)နေသောအခါတို့၌ ထိုသူတော်ကောင်း၏ စိတ်တွင် မဂ္ဂင်ရှစ်ပါး ပါဝင်နေပါသည်။ ထိုမဂ္ဂင်ရှစ်ပါးကား နိဗ္ဗာန်ကို (မျက်စိဖြင့် မြင်ရသလို) မျက်မှောက်ပြုနိုင်ကြောင်း လမ်းကောင်းအမှန်ပင် ဖြစ်၏။ မှန်သောလမ်းကို မှန်မှန်သွားနေသူသည် ထိုလမ်းအဆုံးတွင် နိဗ္ဗာန်ကို မြင်ရတော့မည်သာ။ ဤနေရာဝယ် ဘုရားအာရုံပြုသော မဂ္ဂင်လမ်းဖြင့် နိဗ္ဗာန်မြင်သော “ဖုဿဒေဝ”ရဟန်းတော်၏ဝတ္ထုကို သတိပြုပါ။ → Như vậy, khi đang lễ bái cúng dường Phật, khi đang dâng hoa đèn, hay khi đang (vừa hành chuỗi) vừa tu tập thiền tùy niệm Phật hướng tâm về Ngài, thì trong tâm vị thiện hữu đó đã bao hàm đủ Bát Chánh Đạo. Tám chi phần này chính là con đường chân chính có thể giúp hành giả chứng đắc Niết-bàn (như thể nhìn thấy bằng mắt vậy). Người đi đúng trên con đường đúng đắn thì chắc chắn sẽ thấy được Niết-bàn ở cuối con đường đó. Tại đây, hãy lưu ý câu chuyện về vị tỳ-kheo "Phussadeva", người đã thấy được Niết-bàn thông qua con đường Bát Chánh Đạo lấy Phật làm đối tượng hướng tâm. TRANG 65 ဖုဿဒေဝ ဝတ္ထု → Chuyện Phussadeva: ရှေးတုန်းက ရဟန်းတော်တစ်ပါးသည် စေတီအပြင်ကို တံမြက်လှည်းပြီးလျှင် သန့်ရှင်းသော စေတီအပြင်ကိုကြည့်ကာ သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရားကို အာရုံပြုလျက် နှစ်သက်သော (ပီတိ)စိတ် ဖြစ်နေ၏။ ထိုအခါ မာရ်နတ်သည် နှောင့်ယှက်လိုသော သဘောဖြင့် ဗြိတ္တယ္ဗျားကြီး ဟန်ဆောင်၍ နွားချေးတွေကို စေတီရင်ပြင်တော်၌ ကြဲဖြန့်ပြေး၏။ ထိုနှောင့်ယှက်မှုကြောင့် ထိုနေ့၌ တရားထူးရအောင် အာရုံမပြုနိုင်တော့ချေ။ ဒုတိယနေ့၌လည်း နွားအိုယောင်ဆောင်၍ နှောင့်ယှက်ပြန်၏။ → Ngày xưa có một vị tỳ-kheo sau khi quét dọn sân bảo tháp xong, nhìn sân tháp sạch sẽ rồi hướng tâm về Đức Thế Tôn lúc còn tại thế mà phát sinh lòng hỷ lạc (pīti). Lúc bấy giờ, Ma vương vì muốn quấy rối nên đã biến hóa thành một con khỉ lớn, chạy đến vứt phân bò khắp sân tháp. Do sự quấy rối đó mà ngày hôm ấy vị tỳ-kheo không thể tập trung để đắc pháp. Sang ngày thứ hai, Ma vương lại giả làm một con bò già để quấy nhiễu tiếp. တတိယနေ့၌ကား အလွန်အရုပ်ဆိုးသော ယောင်္ကျားယောင်ဆောင်၍ နှောင့်ယှက်စဉ် “ဒီလိုလူမျိုး ဒီနယ်မှာ မမြင်ဖူးချေ၊ မာရ်နတ် ဖြစ်လေသလား”ဟု စဉ်းစား၍ မေးလေရာ “မာရ်နတ်ဟုတ်ကြောင်း” ဝန်ခံလေသည်။ “မာရ်နတ်ဖြစ်လျှင် ဘုရားရှင်၏ ပုံတော်ကို ဖန်ဆင်းပြစမ်းပါ”ဟု တောင်းပန်သောကြောင့် “တကယ်တူအောင်တော့ မဖန်ဆင်းနိုင်ပါ၊ အတုလောက်သာ ပြပါမည်”ဟုပြော၍ ဘုရားပုံတော်ကို ဖန်ဆင်းပြလေသည်။ → Đến ngày thứ ba, khi hắn giả làm một người đàn ông cực kỳ xấu xí để quấy rối, vị tỳ-kheo suy nghĩ: "Người như thế này chưa từng thấy ở vùng này, liệu có phải là Ma vương không?", rồi hỏi thì hắn thú nhận là Ma vương. Vị tỳ-kheo thỉnh cầu: "Nếu là Ma vương, hãy hóa hiện hình dáng của Đức Thế Tôn cho tôi xem." Hắn đáp: "Tôi không thể hóa hiện giống hệt được, chỉ có thể hiện hình tương tự thôi", rồi hắn hóa hiện ra hình bóng của Phật. ထိုအခါ “အတုဖြစ်သော ပုံတော်သည်ပင် ဤမျှလောက် သပ္ပာယ်တော်မူသေး၏။ အတွင်းစိတ်တော်၌ ရာဂ၊ ဒေါသ၊ မောဟ စသော အညစ်အကြေးကင်း၍ သန့်ရှင်းသော ဘုရားအစစ်မှာ ဘယ်လောက် သပ္ပာယ်တော်မူမည်နည်း”ဟု စိတ်ထဲ၌ တွေးတောကာ... → Khi ấy, vị tỳ-kheo nghĩ rằng: "Ngay cả hình bóng mô phỏng mà còn uy nghi dường này. Vậy thì Đức Phật thật sự – bậc có tâm thanh tịnh, sạch bóng các cấu uế tham, sân, si – sẽ còn uy nghi biết bao nhiêu nữa?" và trong tâm suy tưởng... TRANG 66 လွန်စွာ နှစ်သက်ကြည်ညိုသော (ပီတိ)စိတ်ဖြစ်လေရာ ထိုပီတိစိတ်ကိုပင် စိတ်တစ်ခုပြီးတစ်ခု ပြောင်းလဲ၍ဖြစ်သောကြောင့် မမြဲသော အနိစ္စတရား၊ စိတ်တစ်ခုခု ချုပ်ဆုံးခြင်းသည် (လူတစ်ယောက် သေဆုံးခြင်းကဲ့သို့) ဆင်းရဲသော ဒုက္ခတရား၊ တစ်ခုပြီးတစ်ခု ပျက်နေသည့်အတွက် ခိုင်မြဲရာ အနှစ်အသား(အသက်)မပါသော အနတ္တတရားဟု ဝိပဿနာကမ္မဋ္ဌာန်း ရှုလေသည်။ → Khi tâm hỷ lạc (pīti) cực kỳ sâu sắc phát sinh, vị ấy thực hành thiền quán (Vipassanā) rằng: chính tâm hỷ lạc này cũng thay đổi từ sát-na tâm này sang sát-na tâm khác nên là pháp Vô thường (Anicca); sự diệt đi của mỗi tâm (giống như cái chết của một con người) là pháp Khổ (Dukkha); và vì chúng cứ tan rã nối tiếp nhau nên không có cốt lõi bền vững (mạng sống) gọi là pháp Vô ngã (Anatta). ထိုအခါ ပီတိစိတ်ကို အနိစ္စ ဒုက္ခ အနတ္တဟု မြင်နေသကဲ့သို့လည်းကောင်း၊ တစ်ကိုယ်လုံးလည်း အနိစ္စ ဒုက္ခ အနတ္တဟု ထင်နေရကား ထိုအချိန်မှာ အလွန်နက်နဲသော အသိအမြင်မှန် (သမ္မာဒိဋ္ဌိမဂ္ဂင်) ဖြစ်နေသောကြောင့် ထိုပီတိစိတ်၏ အနိစ္စ ဒုက္ခ အနတ္တဖြစ်ပုံကို အထပ်ထပ် အမှတ်ရနေသော သမ္မာသတိမဂ္ဂင်နှင့် တည်ကြည်နေသော သမ္မာသမာဓိမဂ္ဂင်ကို လက်မလွှတ်ဘဲ သမ္မာဝါယာမမဂ္ဂင်ဖြင့် အစဉ်တစိုက် ကြိုးစားလေရာ တစ်ခဏချင်းပင် ရဟန္တာဖြစ်၍ နိဗ္ဗာန်ကိုလည်း မျက်မှောက်ပြုနိုင်လေတော့သည်။ → Khi ấy, giống như việc nhìn thấy tâm hỷ lạc là vô thường, khổ, vô ngã, vị ấy cũng thấy toàn bộ thân thể là vô thường, khổ, vô ngã; vào lúc đó, vì Chánh kiến (thấy biết đúng đắn sâu sắc) đang hiện diện, vị ấy không buông lơi Chánh niệm (ghi nhớ lặp đi lặp lại trạng thái vô thường, khổ, vô ngã của tâm hỷ lạc đó) và Chánh định (sự định tĩnh), mà liên tục nỗ lực với Chánh tinh tấn, nên chỉ trong chốc lát đã đắc quả A-la-hán và chứng ngộ Niết-bàn. ထို့ကြောင့် ယခုအခါ ဤရဟန်းတော်၏ထုံးကို နှလုံးသွင်းကာ ဗုဒ္ဓါနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်း မဂ္ဂင်လမ်းဖြင့် နိဗ္ဗာန်သို့ လှမ်းနိုင်အောင် ကြိုးပမ်းကြပါကုန်။ [ပရိဝါအဋ္ဌကထာ၊ ကေတ္တူရိကဏ္ဍယ၊ ပဗ္ဗတဝါရ။] → Do đó, bây giờ hãy ghi nhớ tấm gương của vị tỳ-kheo này, hãy nỗ lực để có thể bước tới Niết-bàn bằng con đường Bát Chánh Đạo thông qua thiền tùy niệm Phật. [Chú giải Parivāra, Kettūrikaṇḍaya, Pabbata-vāra]. တိုက်တွန်းချက်။ ။ဘုရားကိုအာရုံပြု၍ စီးဖြန်းရသော ဗုဒ္ဓါနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်းသည် တရားမပေါက်သေးသော်လည်း မိမိ၏စိတ်ကို အလွန်ထူးခြားသော ဘုရားအာရုံ၌ ချထားရသောကြောင့် အမြဲရွှင်လန်းသော ပီတိသောမနဿစိတ်၊ အမြဲကြည်လင်သော → Lời khuyến tấn: Thiền tùy niệm Phật bằng cách hướng tâm về Đức Phật, dù chưa chứng đắc pháp cao siêu, nhưng vì đặt tâm vào đối tượng Phật rất đặc biệt nên sẽ luôn có tâm hỷ lạc hoan hỷ, luôn có sự sáng suốt... TRANG 67 သဒ္ဓါစိတ်များ ဖြစ်ပေါ်နေရကား ထိုသူ၏မျက်နှာသည် အလွန်ကြည်လင်၏။ မျက်နှာကြည်လင်သကဲ့သို့ တစ်ကိုယ်လုံး ရုပ်လည်း ကြည်လင်၏။ ဤသို့လျှင် ဗုဒ္ဓါနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်းသည် ကိုယ်ရောစိတ်ပါ ချမ်းသာစေနိုင်၏။ ထိုသို့ ချမ်းသာလျှင် အလွန်ကောင်းသော ကျန်းမာရေးကိုလည်း ရနိုင်သောကြောင့် ဤစာအုပ်ကို ကြည့်၍ဖြစ်စေ၊ စာအုပ်ကို မကြည့်ဘဲဖြစ်စေ မကြာခဏ အားလပ်ချိန်ရသမျှ မိမိစိတ်ကို ဘုရားအာရုံ၌ ချထားကြပါလေ။ → ...và tâm đức tin phát sinh, nên gương mặt của người đó rất rạng rỡ. Giống như gương mặt rạng rỡ, sắc thân toàn bộ cơ thể cũng sáng suốt. Như vậy, thiền tùy niệm Phật có thể làm cho cả thân và tâm đều an lạc. Khi an lạc như thế, vì cũng có thể đạt được sức khỏe rất tốt, nên dù nhìn vào sách này hay không nhìn sách, bất cứ khi nào có thời gian rảnh, hãy thường xuyên đặt tâm mình vào đối tượng Phật. ဘဂဝါ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Bhagavā (Để học thuộc): (၉) သော ဘဂဝါ-ထို ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်၊ ဣသိပိ ဣမိနာစ ကာရဏေန-အကုမ္ပ္ဗုသဖွယ်၊ ပျောက်ကွယ်သိမ်မွေ့၊ မမြင်တွေ့အောင်၊ ရုပ်ဆောင်ဖန်ဆင်းနိုင်သော “အဏိမာ”ဘုန်းတော်၊ → (9) So Bhagavā - Đức Thế Tôn là bậc chủ tể của những vinh hiển vàng son (hồng danh cao thượng) ấy, Iti pi iminā ca kāraṇena - vì lý do này: Ngài có thần lực "Aṇimā" (Thân cực nhỏ), có thể biến hóa hình dáng nhỏ nhiệm như hạt bụi, biến mất tinh vi đến mức không thể nhìn thấy được. စိတ်၏အလား၊ ကောင်းကင်ဖျား၌၊ ပေါ့ပါးလျင်မြန်၊ ဈာန်ပျံကြွသွားနိုင်သော “လဃိမာ”ဘုန်းတော်၊ → Ngài có thần lực "Laghimā" (Thân cực nhẹ), có thể bay đi trên hư không nhanh chóng và nhẹ nhàng theo ý muốn của tâm. ကိုယ်တော်သဏ္ဌာန်၊ ပုံဟန်တိုင်းခြား၊ မနှိုင်းအားဖို့၊ ကြီးမားလေအောင်၊ ရုပ်ဆောင်ဖန်ဆင်းနိုင်သော “မဟိမာ”ဘုန်းတော်၊ → Ngài có thần lực "Mahimā" (Thân cực lớn), có thể biến hóa hình dáng to lớn vĩ đại đến mức không thể so sánh được. ဆီးတားကွယ်ကာ၊ မရှိပါဘဲ၊ လိုရာတိုင်းပေါက်၊ တစ်ခဏလောက်ဖြင့်၊ ကြွရောက်နိုင်သော “ပတ္တိ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có thần lực "Patti" (Thân đến mọi nơi), có thể đi đến bất cứ nơi nào mong muốn chỉ trong một khoảnh khắc mà không có gì ngăn cản được. အဆင်းအတန်တန်၊ ပုံသဏ္ဌာန်ကို၊ စိမံဖန်တီး၊ တစ်ခဏတည်းဖြင့် ပြီးစီးနိုင်သော “ပါကမ္မ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có thần lực "Pākamma" (Thành tựu như ý), có thể sắp đặt và tạo ra nhiều loại hình dáng khác nhau chỉ trong chốc lát là xong. TRANG 68 ကိုယ်တော်မြတ်၏၊ စိတ်ဓာတ်တော်မှ၊ စဉ်မကြွင်း၊ လူနတ်မင်းကို၊ ပိုင်နင်းအုပ်စိုး၊ လွှမ်းမိုးနိုင်သော “ဣသိတာ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có thần lực "Isitā" (Chủ tể), có thể từ tâm thức của mình cai trị, thống lĩnh và áp đảo tất cả loài người và thiên thần không sót một ai. သမာပတ်ဈာန်၊ အဘိညာဏ်ကို၊ ဝင်စံလိုက၊ တစ်ခဏချင်းပိုင်၊ ဝင်စားနိုင်သော “ဝသိတာ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có thần lực "Vasitā" (Tự tại), hễ muốn nhập vào các tầng Thiền Định hay Thần Thông thì có thể làm chủ và nhập vào ngay trong tức khắc. ကိစ္စတစ်ခု၊ ပြုစုတုန်းပင်၊ ပြီးဆုံးချင်သော်၊ ဆောလျင်မသွေ၊ ပြီးဆုံးစေနိုင်သော “ယတ္ထကာမာဝသာယိတာ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có thần lực "Yatthakāmāvasāyitā" (Ước nguyện thành tựu), khi đang làm một việc gì đó mà muốn hoàn thành thì có thể làm cho việc đó xong xuôi ngay lập tức không sai chạy. ရှစ်ဖော်အပြား၊ ဤသို့အားဖြင့်၊ ထင်ရှားလေဘိ၊ “ဣဿရိယ” ဘုန်းတော်၊ → Tám loại thần lực như trên chính là sự hiển lộ của vinh hiển "Issariya" (Chủ tể thần lực). ကိလေသာရန်၊ ပယ်ဖျက်လှန်ဖို့၊ နိဗ္ဗာန်ဖိုလ်မဂ်၊ ကိုးချက်အပြား၊ လောကုတ္တရာတရားဟူသော “ဓမ္မ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có vinh hiển "Dhamma" (Pháp), chính là chín loại pháp Siêu thế (bốn Đạo, bốn Quả, một Niết-bàn) để tiêu trừ và lật đổ quân thù phiền não. ဟုတ်တိုင်းမှန်စွာ၊ ဖြစ်ပေါ်လာ၍၊ ကမ္ဘာတိုက်ပေါင်း၊ သောင်းလောကဓာတ်၊ ပဲ့တင်ထပ်မျှ၊ နံ့စပ်သတင်း၊ ကျော်စောခြင်း ဟူသော “ယသ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có vinh hiển "Yasa" (Danh tiếng), là tiếng tăm vang lừng khắp mười ngàn thế giới vì những công đức đúng như thật đã sinh khởi. ရွှေမျက်နှာတော်၊ လက်ခြေတော်မှ၊ စဉ်မကြွင်း၊ ပင်လုံးဝင်းသည့်၊ ပန်းမင်းအနေ၊ ကျက်သရေမင်္ဂလာ၊ စုဝေးကာဖြင့်၊ လွန်စွာတင့်တယ်၊ သပ္ပာယ်တော်မူသော “သီရိ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có vinh hiển "Sīri" (Uy nghi), là sự hội tụ của các điềm lành phúc đức, khiến cho từ khuôn mặt vàng đến chân tay đều tỏa sáng rực rỡ như một đóa hoa vương, vô cùng xinh đẹp (đẹp đẽ) và uy nghi. အလိုတော်အတိုင်း၊ တောင့်တတိုင်းပင်၊ မဆိုင်းမတွ၊ ပြီးစီးရသည့် “ကာမ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có vinh hiển "Kāma" (Tự tại về ý muốn), là việc mọi ước muốn đều được thành tựu ngay lập tức theo đúng ý nguyện của Ngài. တစ်လောကလုံး၊ ညွတ်ရုံးကိုးစား၊ အားထားဖို့ရာ၊ လွန်စွာကြိုးကုတ်၊ အားထုတ်တော်မူသော “ပယတ္တ” ဘုန်းတော်၊ → Ngài có vinh hiển "Payatta" (Nỗ lực), là sự nỗ lực vô cùng kiên trì để trở thành nơi nương tựa và tin cậy cho toàn bộ thế gian. TRANG 69 ဤခြောက်ဖော်ဂုဏ်၊ ဘုန်းတော်ဟုန်နှင့်၊ ပြည့်စုံတော်မူသော ဤအကြောင်းကြောင့်လည်း၊ ဘဂဝါ-ဘဂဝါဟုဆိုသော ဂုဏ်တော်ကြီးဖြင့်၊ အံ့ချီးမကုန်၊ ဗြဟ္မာ့ဘုံတိုင်အောင်၊ ပျံ့လှိုင်ကျော်ကြား၊ ထင်ရှားတော်မူပေသည်တကား။ → Và vì đầy đủ sáu loại vinh hiển (Bhaga) to lớn này, nên với danh hiệu vĩ đại Bhagavā (Đức Thế Tôn), Ngài hiển lộ danh tiếng vang lừng không ngớt lời ngợi ca cho đến tận cõi Phạm thiên vậy. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để xem xét: ဘဂဝါဂုဏ်တော်သည် “ဘုန်းကံကြီးတော်မူ၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ [ဘဂ+ဝါ။ ဘဂ=ဘုန်းကံ+ဝါ=ရှိသည်။ ကြီးသည်။] → Ân đức Bhagavā chỉ ý nghĩa rằng "Ngài có phúc đức to lớn". [Bhaga + Vā. Bhaga = phúc đức + Vā = có, lớn.] အဏိမာဘုန်းတော်။ ။ဘုရားရှင်သည် ဖန်ဆင်းတော်မူလိုလျှင် ကိုယ်တော်ကို အဏုမြူမုန့်မျှ အလွန်ငယ်အောင် ဖန်ဆင်းတော်မူပြီးလျှင် ပရိက္ခရာရှစ်ပါးကို လွယ်တော်မူ၍ မှန်ညွှန်းစေ့အတွင်း စင်္ကြံကြွတော်မူ၏။ ထိုအခါဝယ် သေးငယ်သော မှန်အတွင်း၌ တိုက်ရိပ် အိမ်ရိပ် ထင်နေသလို ဘုရားရှင်ကို ဖူးမြင်ကြရ၏။ အနီးအပါး၌ရှိနေသူတို့ မမြင်ရအောင်လည်း ကိုယ်တော်ကို ကွယ်ပျောက်တော်မူနိုင်၏။ → Thần lực Aṇimā: Nếu Đức Thế Tôn muốn biến hóa, Ngài có thể hóa thân nhỏ như hạt bụi cực vi (nhỏ), rồi mang theo tám món vật dụng (bát quái) (Parikkhāra) mà đi kinh hành bên trong một ống kim khâu. Khi đó, người ta có thể chiêm bái Đức Thế Tôn giống như nhìn thấy bóng của tòa nhà hay ngôi nhà hiện trong một tấm gương nhỏ. Ngài cũng có thể làm cho thân mình biến mất để những người ở gần đó không thể nhìn thấy. ကွယ်ပျောက်တော်မူသော ဝတ္ထု။ ။ဘုရားရှင် လက်ထက်တော်က “ဗက”မည်သော ဗြဟ္မာမင်းကြီးသည် သူကိုယ်သူ “အမြဲတည်၍ တန်ခိုးအကြီးဆုံး”ဟု အထင်ကြီးရုံမက “ဤလောကကြီးနှင့်တကွ သတ္တဝါအပေါင်းကိုပင် သူဖန်ဆင်းထားသည်”ဟု အယူရှိနေ၏။ လက်အောက်ဗြဟ္မာငယ်များကလည်း ဤအတိုင်းပင် သူ့အပေါ်မှာ ထင်နေကြသည်။ ထိုအကြောင်းကို ရှင်တော်မြတ်ဘုရား သိတော်မူ၍... → Chuyện về sự biến mất: Vào thời Đức Thế Tôn, có một vị Đại Phạm thiên tên là Baka, không những tự cao rằng mình là "bậc thường hằng và có thần lực lớn nhất", mà còn tà kiến rằng "chính mình đã tạo ra thế gian này cùng toàn bộ chúng sinh". Các vị Phạm thiên dưới quyền cũng có ý nghĩ như vậy về ông ta. Đức Thế Tôn biết được chuyện đó nên... TRANG 70 ဗြဟ္မာ့ပြည်သို့ ကြွတော်မူပြီးလျှင် ဗြဟ္မာ့ပရိသတ်အလယ်တွင် ပကတိဗြဟ္မာကြီးအား “အသင်သည် ရှေ့နောက်အလုံးစုံကို အကုန်မသိနိုင်” စောသော ခပ်နှိပ်နှိပ်စကားကို မိန့်တော်မူသောအခါ။ → Sau khi đi đến cõi Phạm thiên, ở giữa hội chúng Phạm thiên, khi Ngài phán lời khiển trách áp chế đối với vị Đại Phạm thiên rằng: "Ngươi không thể biết hết được toàn bộ trước sau". ဗြဟ္မာကြီး ရှက်သဖြင့် ကြံမိကြံရာ ကြံပြီးလျှင် “အသင်ရဟန်းကြီးအား အကျွန်ုပ် တန်ခိုးသိရအောင် ကိုယ်ဖျောက်ပြမည်” ဟု ပြောဆို၍ ကိုယ်ကိုဖျောက်စမ်းသော်လည်း။ → Vì xấu hổ, vị Phạm thiên sau khi suy tính quẩn quanh đã nói rằng: "Tôi sẽ biến thân cho vị đại Sa-môn thấy thần thông của tôi", rồi thử biến thân nhưng. မပျောက်နိုင်ရကား ဗိမာန်အတွင်း ဝင်လိုဝင်၊ ပဒေသပင်အောက် ပုန်းလိုပုန်း၊ တစ်ကိုယ်လုံးပုပြီးလျှင် ငုတ်စုတ် ဆောင့်ကြောင့်ထိုင်သော်လည်း။ → Vì không thể biến mất được, dù muốn vào trong cung điện thì vào, muốn ẩn dưới cây Padesa thì ẩn, hoặc thu nhỏ toàn thân lại rồi ngồi xổm xuống nhưng. ဘယ်နည်းနှင့်မျှ ပျောက်ကွယ်သွားသဖြင့် အရှက်ကွဲရလေသည်။ → Vì không thể biến mất bằng bất cứ cách nào nên đã phải chịu sự hổ thẹn. ထို့နောက် ဘုရားရှင်က တစ်ဖန် “ကိုယ်တော်ကို ဖျောက်ပြမည်” ဟု မိန့်တော်မူပြီးလျှင် ထိုနေရာတွင်ပင် ဖျောက်လိုက်ရာ တစ်ခါတည်း ပျောက်သွားလေသည်။ → Sau đó, Đức Thế Tôn phán một lần nữa rằng: "Ta sẽ biến thân cho xem", rồi Ngài biến thân ngay tại chỗ đó và biến mất ngay lập tức. “တခြားများ ကြွသွားရော့သလား” ဟု ထင်မှတ်မည့်စိုးသောကြောင့် - → Vì e rằng (vị Phạm thiên) sẽ nghĩ là: "Ngài đã đi nơi khác rồi chăng?" - “ဘဝေ ဝါဟံ ဘယံ ဒိသွာ၊ ဘဝဉ္စ ဝိဘဝေသိနံ၊ တံ ဝါ နာဘိဝဒိံ ကိဉ္စိ၊ နန္ဒိံ စ န ဥပါဒိယိံ” → Bhave vāhaṃ bhayaṃ disvā, bhavañca vibhavesinaṃ, taṃ vā nābhivadiṃ kiñci, nandiṃ ca na upādiyiṃ. ဟု ဂါထာကိုပင် ရွတ်ပြတော်မူ၍ တရားတော်၏အဆုံး၌ ဗြဟ္မာတစ်သောင်းမျှ မဂ်ဖိုလ်ရကြလေ၏။ → Ngài đã đọc bài kệ này, và khi kết thúc bài pháp, khoảng mười ngàn Phạm thiên đã chứng đắc Đạo Quả. ဤသို့ အနည်းငယ်မျှသော်လည်းကောင်း၊ လုံးလုံးပျောက်ကွယ်သွားအောင်လည်းကောင်း၊ ဖန်ဆင်းနိုင်သော ဘုန်းတော်ကို “အဏိမာ” ဘုန်းတော်ဟု ခေါ်သည်။ → Thần lực có thể biến hóa cho dù là một ít, hoặc là biến mất hoàn toàn như thế này, được gọi là thần lực "Anima" (Thần lực nhỏ bé). TRANG 71 ဂါထာအနက်။ ။ အဟံ-သင်လိုထပ်တူ၊ နတ်လူဗြဟ္မာ၊ သတ္တဝါတို့၏ ဆရာစင်စစ်၊ ဖြစ်တော်မူသော ငါဘုရားသည်။ → Nghĩa bài kệ: Aham - Ta, vị Phật thực sự là thầy của các chúng sinh hữu tình, Phạm thiên, thiên nhân và loài người giống như ngươi. ဘဝေ-ဖြစ်လျှင်ပျက်မြဲ၊ မလွဲတံထွာ၊ သံသရာနှောင်တွင်း၊ ထောင်အကျဉ်း၌။ → Bhave - Trong ngục tù luân hồi, nơi mà hễ có sinh là ắt có diệt không sai chạy. ဘယံ-အိုနာသေရေး၊ ဒုက္ခဘေးမှ၊ စ၍ ရန်စွယ်၊ အန္တရာယ်ဟု၊ ဘေးအစုကို။ → Bhayaṃ - Tập hợp các nỗi sợ hãi như già, bệnh, chết, bắt đầu từ khổ đau và các mối nguy hiểm. ဒိသွာစ-ကောင်းစွာပိုင်နင်း၊ သိမြင်တော်မူခြင်းကြောင့်သာလျှင်။ → Disvā ca - Chỉ vì đã thấu suốt và thấy rõ một cách tường tận. ဘဝဉ္စ-ကာမရူပ၊ အရူပဟု၊ လောကသုံးဘုံ၊ အလုံးစုံကိုလည်းကောင်း။ → Bhavañca - Cùng với tất cả ba cõi thế gian là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. ဝိဘဝေသိနံ-ဘဝကင်းရာ၊ ရှာကြံပါလည်း၊ သုံးဖြာဘဝ၊ ကျင်လည်ရသည့်၊ များလှသောင်းသောင်း၊ သတ္တဝါအပေါင်းတို့ကိုလည်းကောင်း။ → Vibhavesinaṃ - Cùng với vô số chúng sinh đang luân hồi trong ba cõi, dù đang tìm kiếm nơi thoát khỏi hữu (sự hiện hữu). ဒိသွာ-ဆုံးစကန်စင်၊ သိမြင်တော်မူသည်ဖြစ်၍။ → Disvā - Vì đã thấy rõ và thấu suốt đến tận cùng. ကိဉ္စိဘဝံ-လူ့ဘုံ နတ်ဘုံ၊ ဗြဟ္မာဘုံဟု၊ သုံးဘုံဌာန၊ တစ်စုံတစ်ခုသော ဘဝကို။ → Kiñci bhavaṃ - Bất cứ cảnh giới nào trong ba cõi là cõi người, cõi trời và cõi Phạm thiên. နာဘိဝဒိံ-စွဲစုံမက်မက်၊ နှစ်သက်ခင်မင်၊ လိုချင်တောင့်တတော်မမူ။ → Nābhivadiṃ - (Ta) không hề bám chấp, ưa thích, mến mộ hay mong muốn khát khao. နန္ဒိဉ္စ-လူ့ဘုံ နတ်ဘုံ၊ ဗြဟ္မာဘုံဝယ်၊ စွဲစုံမက်မက် နှစ်သက်တွယ်တာ၊ ဘဝတဏှာကိုလည်း။ → Nandiñca - Cùng với hữu ái, sự bám chấp và ưa thích trong cõi người, cõi trời và cõi Phạm thiên. န ဥပါဒိယိံ-စွဲလမ်းလွတ်ကင်း၊ အမြစ်ရင်းက၊ အလျှင်းပြတ်စေ၊ ဖြတ်တောက်တော်မူခဲ့ပေးသတည်း။ → Na upādiyiṃ - Đã cắt đứt hoàn toàn từ gốc rễ, giải thoát khỏi sự chấp thủ. [မူလပဏ္ဏာသ၊ စူဠယမကဝဂ်၊ ဗြဟ္မနိမန္တနသုတ်] → [Mūlapaṇṇāsa, Cūḷayamakavagga, Brahmanimantana Sutta]. လဃိမာဘုန်းတော်။ ။ စိတ်၏လျင်မြန်ခြင်းကဲ့သို့ ခန္ဓာကိုယ်ကို ပေါ့ပါးလျင်မြန်အောင် ဖန်ဆင်းနိုင်သော ဘုန်းတော်ဖြစ်သည်။ → Thần lực Laghimā: Là thần lực có thể biến hóa khiến thân thể trở nên nhẹ nhàng và nhanh chóng như sự mau lẹ của tâm ý. [ဈာန်ပျံ၍ ကြွတော်မူခြင်းမျိုးတည်း။] → [Chính là khả năng bay bằng thiền định.] မဟိမာဘုန်းတော်။ ။ ကိုယ်တော်ကို ပကတိအနေထက် ကြီးမားအောင် ဖန်ဆင်းနိုင်သော ဘုန်းတော်ဖြစ်သည်။ → Thần lực Mahimā: Là thần lực có thể biến hóa khiến thân thể trở nên to lớn hơn trạng thái bình thường. TRANG 72 ကြီးမားအောင် ဖန်ဆင်းတော်မူပုံ။ ။ “ရာဟု” ခေါ်သော အသုရိန်နတ်ကြီးသည် အလွန်ကြီးမား၏။ → Cách Ngài biến hóa cho to lớn: Vị thiên vương Asura tên là "Rāhu" vô cùng to lớn. အမြင့်အားဖြင့် ယူဇနာလေးသောင်းရှစ်ထောင်ရှိသတဲ့။ → Nghe nói chiều cao đạt đến bốn mươi tám ngàn Do-tuần (Yojana). ထိုမျှကြီးမားသော အသုရိန်ကြီးသည် ဘုရားရှင်၏ ဂုဏ်သတင်းတော်ကို ကြားရသဖြင့် သွား၍ဖူးမြော်လိုသော်လည်း။ → Vị Asura to lớn dường ấy khi nghe danh tiếng của Đức Thế Tôn, dù muốn đi đến đảnh lễ nhưng. “လူသားဖြစ်သောဘုရားကို ငါသွား၍ ဖူးမြော်ရလျှင် ငုံ့၍ပင် ကြည့်ရှုရလိမ့်မည်” ဟု အထင်ရ၍ မဖူးမြင်ဘဲနေခဲ့ရာ။ → Vì cho rằng: "Nếu ta đi đảnh lễ vị Phật là loài người, ta sẽ phải cúi xuống mà nhìn", nên đã không đi. ဂုဏ်တော်ကြီးမားလှသဖြင့် သင့်သလိုပင် ဖူးမြော်အံ့ဟု ကြံပြီးလျှင် ဘုရားရှင်၏အထံတော်သို့ ရောက်လာလေသည်။ → Sau khi suy tính rằng vì đức hạnh (của Phật) quá to lớn nên sẽ đi đảnh lễ theo cách phù hợp, vị ấy đã đến nơi Đức Thế Tôn. မြတ်စွာဘုရားက “မဟိမာ” ဘုန်းတော်ဖြင့် သူထက်ကြီးမားအောင် ဖန်ဆင်းတော်မူလျက် လျောင်း၍ အဖူးမြော်ခံတော်မူလေလျှင်။ → Khi Đức Thế Tôn dùng thần lực "Mahimā" biến hóa cho to lớn hơn cả vị ấy và nằm xuống để tiếp nhận sự đảnh lễ. လွန်စွာမြင့်သော အသုရိန်ကြီးသည် တအားကုန်မော့၍ ဖူးမြော်သော်လည်း ဘုရားရှင်၏ အထက်ပိုင်းအဆုံးကို မမြင်နိုင်ရှာချေ။ → Vị Asura vốn rất cao lớn kia dù đã ngửa mặt lên hết sức để đảnh lễ nhưng cũng không thể nhìn thấy được phần đỉnh cao nhất của Đức Thế Tôn. ဤသို့ ပကတိကိုယ်အနေထက် ကြီးမားအောင် ဖန်ဆင်းနိုင်သော ဘုန်းတော်ကို “မဟိမာ” ဘုန်းတော်ဟု ခေါ်၏။ → Thần lực có thể biến hóa cho to lớn hơn thân thể bình thường như thế này được gọi là thần lực "Mahimā". [ဤရာဟုအသုရိန်ကို ပြရာ၌ “မဟိမာ” ဘုန်းတော် မဟုတ်၊ ပါရမီတော်အစွမ်းသာဟု ဋီကာမှာပင် အဆိုရှိ၏။] → [Trong việc hiển thị trước Rāhu Asura này, trong sớ giải có nói rằng đó không phải thần lực "Mahimā", mà chỉ là năng lực của các độ hạnh (Pāramī).] ကိဉ္စန္တော သဿပ ဂမ္ဗေ၊ စင်္ကမံ ကတောဝိတော၊ ကိဉ္စန္တော လောကဓာတုမှိ၊ အတ္တဘာဝေန ဆာဒယေ။ → Kiñcanto sassapa gambhe, caṅkamaṃ katovito, kiñcanto lokadhātumbi, attabhāvena chādaye. ဘဂဝါ-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်။ ကိဉ္စန္တော-သေးငယ်လေဟန်၊ ပုံသဏ္ဌာန်သွင်း၊ ဖန်ဆင်းတော်မူလိုသည်။ → Bhagavā - Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của kim thân thần lực. Kiñcanto - Muốn biến hóa, tạo ra hình dáng trông nhỏ bé đi. TRANG 73 သည်ရှိသော်၊ သဿပ ဂမ္ဗေ-သေးငယ်သိမ်မွေ့၊ မုန်ညင်းစေ့အတွင်း၌၊ ကူတော စိတော-တုန့်ပြန်ထိုင်၍၊ လှည့်လည်တော်မူလျက်လည်း။ → Khi đó, Sassapa gambhe - Ở bên trong một hạt cải nhỏ bé tinh vi, Katovito - Ngài vẫn có thể ngồi ngược xuôi và đi lại quanh quẩn. စင်္ကမံ-ပရိက္ကရာရှစ်တန်၊ ကိုယ်လုံးရံ၍၊ စင်္ကြံတွားတွား၊ ကြွသွားတော်မူနိုင်၏။ → Caṅkamaṃ - Với tám món vật dụng bao quanh thân, Ngài có thể bước đi kinh hành một cách oai vệ. ကိဉ္စန္တော-ကြီးမားလေဟန်၊ ပုံသဏ္ဌာန်သွင်း၊ ဖန်ဆင်းတော်မူလိုသည်ရှိသော်။ → Kiñcanto - Khi Ngài muốn biến hóa, tạo ra hình dáng trông to lớn lên. လောကဓာတုမှိ-စကြာဝဠာ၊ ကမ္ဘာစလုံး၊ တစ်ခုလုံး၌၊ အတ္တဘာဝေန-ကြီးမားမြင့်မော၊ ရွှေကိုယ်တော်ဖြင့်။ → Lokadhātumbi - Trong toàn bộ vũ trụ, toàn bộ thế gian, Attabhāvena - Với kim thân to lớn và cao ngất. ဆာဒယေ-အကုန်သိမ်းကျုံး၊ လွှမ်းမိုးတော်မူနိုင်သတည်း။ → Chādaye - Ngài có thể bao trùm và che phủ tất cả. ပကတိကိုယ်တော်မှာ အဌာဒသဟတ္ထပ္ပမာ-တစ်ဆယ့်ရှစ်တောင် အမြင့်တော်ရှိ၍ အတောင်အားဖြင့် ခြောက်တောင်ခန့်ရှိ၏။ → Thân thể bình thường (của Phật) có chiều cao là Aṭṭhādasa hatthappamā - mười tám hắc tay (hattha), tương đương khoảng sáu tạng (taung). “တစ်ဆယ့်ရှစ်တောင် မြင့်တော်မူသည်” ဟု ဆိုသောစကားကို လူသားပကတိဖြစ်၍ အခြားလူများထက် ကြောက်မက်ဖွယ်ကောင်းလောက်အောင် မကွာခြားသင့်သောကြောင့် စဉ်းစားရာ၏ဟု ပထမရိုက်နှိပ်အပ်သောစာအုပ်၌ ကျမ်းဂန်ကို ဖော်ထုတ်၍ အကျယ်မရေးသားလိုသောကြောင့် အထက်ပါအတိုင်း အကျဉ်းမျှသာ ရေးသားလိုက်သည့်အတွက်။ → Vì lẽ không nên khác biệt đến mức đáng sợ so với những người khác dù là loài người bình thường đối với lời nói rằng "Ngài cao mười tám hắc tay", nên trong cuốn sách xuất bản lần đầu, vì không muốn trích dẫn kinh điển để viết chi tiết, tôi chỉ viết ngắn gọn như trên. “အချို့မြို့ရွာတို့၌ ၁၈-တောင် ယူသူတို့ကတစ်ဖက်၊ ၁၈-မိုက်ယူသူတို့ကတစ်ဖက် ငြင်းခုံ ရန်ပွား၍ စကားများကြသည်” ဟု ကြားရသောကြောင့်။ → Vì nghe nói rằng: "Ở một số thành phố và làng mạc, những người lấy số đo 18 hắc tay một bên, những người lấy số đo 18 gang tay một bên đã tranh cãi, gây xích mích và nói qua nói lại". “အကျိုးလိုလို့ ညောင်ရေလောင်း၊ ပတ်ထမ်းစတေ” ဆိုသော စကားကဲ့သို့ “အများအကျိုးရှိအောင် ရေးသားရာတွင် ထိုသူများအတွက် အကျိုးမဲ့ဖြစ်ရလေခြင်း” ဟု သံဝေဂဖြစ်မိပါသည်။ → Giống như câu nói "Muốn có phước nên tưới nước cây đa, nhưng lại phải gánh thêm cái rắc rối", tôi cảm thấy hối tiếc rằng "Trong khi viết để mang lại lợi ích cho đại chúng, thì lại trở thành điều không lợi ích cho những người đó". ယခုအခါ မိမိအယူကို အကျယ်ရေးမှပင် သင့်မည်ထင်သောကြောင့် ပါဠိအဌကထာဆိုစဉ်နှင့်တကွ ဉာဏ်မြင်သမျှ ထုတ်ဖော်ရေးပြပါအံ့။ → Hiện nay, vì nghĩ rằng cần phải viết chi tiết quan điểm của mình, tôi xin đưa ra và viết theo những gì trí tuệ thấy được cùng với trình tự của Pali và Chú giải. TRANG 74 အရပ်တော်အဆုံးအဖြတ် → Quyết định về chiều cao thân thể (của Đức Phật). ဘုရားရှင်၏အရပ်တော်ကို ဗုဒ္ဓဝင်ပါဠိတော်ကြီး၌ “သောဠသ ဟတ္ထုဗ္ဗေဓ-၁၆ တောင်” ဟု ဆို၏။ → Trong kinh văn Pāḷi Buddhavamsa, chiều cao thân thể của Đức Thế Tôn được nói là "Soḷasa hatthubbedha - 16 hắc tay". များစွာသော အဋ္ဌကထာတို့၌ “အဋ္ဌာဒသဟတ္ထုဗ္ဗေဓ-၁၈ တောင်” ဟု ဆို၏။ → Trong nhiều bản Chú giải (Aṭṭhakathā), chiều cao được nói là "Aṭṭhādasa hatthubbedha - 18 hắc tay". သုတ်မဟာဝါဋီကာ၌ “ဒွါဒသဟတ္ထော-၁၂ တောင် မြင့်၏” ဟု အပရေဝါဒရှိ၏။ → Trong bản Sớ giải (Ṭīkā) của kinh Mahāvagga, có quan điểm khác (Aparevāda) nói rằng: "Dvādasa hattho - cao 12 hắc tay". ၁၈-တောင် ယူသူတို့က ဘယ်ဝါကို အတည်ပြုကြမည်နည်း။ → Những người lấy con số 18 hắc tay sẽ xác nhận dựa trên cơ sở nào? ၁၈-တောင်ဟူသည် တော်တော်မြင့်သော အိမ်၏ခေါင်မိုးလောက် ရှိ၏။ → 18 hắc tay là tương đương với chiều cao mái của một ngôi nhà khá cao. ထိုအတိုင်းမှန်လျှင် ဘုရားရှင်ကို ဆွမ်းလောင်းလိုသောအခါ လှေကား ထောင်လျက် အတော်မြင့်အောင်တက်၍ လောင်းကြရပေလိမ့်မည်။ → Nếu đúng như vậy, khi muốn dâng súng (cúng dường thực phẩm) lên Đức Thế Tôn, người ta sẽ phải bắc thang leo lên khá cao mới dâng được. ဘုရားအရပ်တော်ကို စဉ်းစားကြပါလေ။ → Hãy suy xét về chiều cao thân thể của Đức Phật. သီဟိုဠ်ကျွန်းရှိ အချို့မထေရ်တို့သည် “ဟတ္ထသဒ္ဒါ” အတွက် “မိုက်” ဟူသော အနက်ကိုယူ၍ “၁၈-မိုက်(ခြောက်တောင်)ရှိ၏” ဟု ယူကြ၏။ → Một số vị Trưởng lão ở đảo Sri Lanka đã lấy nghĩa của từ "Hattha" là "gang tay" (mိုက်) và cho rằng "có chiều cao 18 gang tay (tương đương 6 hắc tay)". [ပထမရိုက်စာအုပ်၌ ထိုသီဟိုဠ်ဝါဒအတိုင်း ရေးခြင်းဖြစ်၏။ ဤကျမ်းက ဟတ္ထသဒ္ဒါအတွက် “မိုက်” ဟူသော အနက်ကို ဝန်မခံ] → [Trong lần in cuốn sách đầu tiên, tôi đã viết theo quan điểm của Sri Lanka đó. Tuy nhiên, tác phẩm này không thừa nhận nghĩa "gang tay" cho từ Hattha.] “အော်လတ်ကောက်” အမည်ရှိသော အမေရိကန်သား ဗုဒ္ဓဘာသာဝင် တစ်ယောက်ရေးသားသော စာအုပ်၌ကား “ဂေါတမမြတ်စွာဘုရားသည် ပကတိလူများထက် ထူးခြားစွာမမြင့်” ဟု ယူဆပြုလျက် ရေးသားလေသည်။ → Trong một cuốn sách được viết bởi một Phật tử người Mỹ tên là "Olcott", ông ấy cho rằng và viết rằng: "Đức Phật Gotama không cao hơn người bình thường một cách đặc biệt". ယိုးဒယားပြည် သာသနာပိုင်ဆရာတော်လည်း “မြတ်စွာဘုရား အရပ်တော်သည် ပကတိလူများထက် ထူးခြားစွာမမြင့်” ဟု အဆုံးအဖြတ်ထား၏။ → Vị Vua Sãi (Sangharaja) của Thái Lan cũng đưa ra quyết định rằng: "Chiều cao thân thể của Đức Thế Tôn không cao hơn người bình thường một cách đặc biệt". TRANG 75 ဤ “ရတနာ့ဂုဏ်ရည်” ကျမ်းကလည်း သူများယောင်လို့ ယောင်သည် မဟုတ်။ → Tác phẩm "Ratanā Guṇaraññī" này cũng không phải vì thấy người khác nói mà nói theo. ညွှန်ပြအပ်လတ္တံ့သော ကျမ်းဂန်ယုတ္တိများအရ “မြတ်စွာဘုရား အရပ်တော်သည် ပကတိလူများထက် ထူးခြားစွာ မြင့်တော်မမူ” ဟုပင် ယူလိုပါသည်။ → Dựa trên những lý luận kinh điển sẽ được chỉ ra sau đây, tôi muốn khẳng định rằng: "Thân thể Đức Thế Tôn không cao hơn người bình thường một cách đặc biệt". [ကျေးဇူးရှင် ဆရာတော်များလည်း ဤအတိုင်း ယူကြပါသည်။] → [Các vị Thiền sư ân sư cũng giữ quan điểm theo cách này.] ထောက်ထားချက်များ → Các điểm bằng chứng (cơ sở lập luận): (၁) ဘုရားပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူသည်မှာ နှစ်ပေါင်း ၂၅၆၇-နှစ် ကျော်ခဲ့ပြီးဖြစ်၍ ထိုခေတ်က လူများသည် ယခုခေတ် လူများထက် အနည်းငယ်ကြီးမားချင် ကြီးမားပေလိမ့်မည်။ → (1) Kể từ khi Đức Phật nhập Niết-bàn đã hơn 2567 năm, nên con người thời đó có lẽ to lớn hơn con người thời nay một chút. သို့သော် ယခုကာလ ထောင်ထောင်မောင်းမောင်း လူများထက် နှစ်တောင်၊ သုံးတောင် ပိုလွန်အောင်ကား မကွာခြားနိုင်ပါ။ → Tuy nhiên, không thể nào khác biệt đến mức cao hơn những người cao lớn thời nay tận hai hay ba hắc tay được. ကျောက်စာဘက်ဌာနနှင့်စပ်၍ ရှေးဟောင်း အသုံးအဆောင် အရိုးများကို တွေ့ရသူတို့ကား ဘုရားရှင် သီတင်းသုံးတော်မူဖူးသော ကျောင်းတော် တံခါးပေါက်များ၏ ယခု သံတံခါးပေါက်များထက် ပို၍ မကျယ်ဝန်းခြင်း။ → Những người tìm thấy các di vật và xương cổ thuộc về khảo cổ học thấy rằng các khung cửa của ngôi chùa nơi Đức Phật từng trú ngụ không rộng hơn các khung cửa sắt thời nay. ဘုရားလက်ထက်တော်က သပိတ်များကိုလည်း ငယ်ငယ်ပင်တွေ့ရခြင်း၊ ထိုရှေးက လူရိုးများသည် ယခုလူရိုးများထက် မကြီးမားခြင်း။ → Các bình bát từ thời Đức Phật cũng được tìm thấy với kích thước nhỏ, và xương của người thời xưa đó không to lớn hơn xương của người thời nay. ပဌမသံဂါယနာတင်ရာ စုရည်းပင် လိုဏ်ဂူအပေါက်၏ (အထက် အောက်အားလုံး) ၆-ပေ လောက်သာရှိခြင်းတို့ကို ထောက်၍ “ဘုရားလက်ထက်က လူများသည် ယခုလူတို့ထက် မမြင့်” ဟု အယူရှိကြသည်။ → Dựa trên việc hang động Saptapanni (nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất) có cửa hang (tính cả trên dưới) chỉ cao khoảng 6 feet, nên có quan điểm cho rằng: "Người thời Phật không cao hơn người thời nay". TRANG 76 ဘုရားရှင်လည်း ထိုခေတ်က လူအများတွင် ဗားဗားမတ်မတ် ပုဂ္ဂိုလ်တစ်ပါးပင်တည်း။ → Đức Thế Tôn cũng là một bậc uy nghi, đĩnh đạc trong số đông người thời bấy giờ. အကယ်၍ မြတ်စွာဘုရားသည် ထိုခေတ်က လူများထက် ထူးခြားစွာ မြင့်တော်မူအံ့။ → Nếu Đức Thế Tôn cao lớn một cách đặc biệt hơn những người thời đó. “မည်းဖြူဆူကြုံ၊ နိမ့်မြင့်တုံ၊ မှတ်ကုန် ဖြစ် ၆-ပါး” ဟူသော အပြစ်တို့တွင် မြင့်လွန်းသော အပြစ်ရှိရာ၏။ → Trong sáu đặc điểm bị coi là khiếm khuyết: "đen, trắng, mập, ốm, thấp, cao", thì Ngài sẽ mắc phải khiếm khuyết là quá cao. စင်စစ်စကား ဘုရားရှင်၏ အရပ်တော်သည် မနိမ့်မမြင့် အဆင်သင့်ရုံသာ။ → Thực tế mà nói, chiều cao của Đức Thế Tôn không thấp cũng không cao, chỉ vừa vặn cân đối. (၂) ဘုရားရှင်သည် နတ်အဖြစ် ဗြဟ္မာအဖြစ်ဖြင့် တန်ခိုးပြ၍ တရားဟောမည်ဆိုလျှင် ဖြစ်နိုင်ဖွယ်ရှိပါသည်။ → (2) Nếu Đức Thế Tôn hiển thị thần thông dưới hình dáng Thiên nhân hay Phạm thiên để thuyết pháp thì điều đó là khả thi. သို့သော် အများက တအံ့တဩ လိုက်နာကြမည် မဟုတ်ပါ။ → Tuy nhiên, đại đa số sẽ không vì kinh ngạc mà tuân theo. “နတ်ဘဲ ဟောနိုင်မှာပေါ့၊ ဗြဟ္မာဘဲ တန်ခိုးကြီးမှာပေါ့” ဟု ဆိုကြပေလိမ့်မည်။ → Người ta sẽ nói rằng: "Vì là Thiên nhân nên mới thuyết được chứ, vì là Phạm thiên nên mới có đại thần thông chứ". လူစင်စစ်မှန်း သိဖို့ရာ မယ်တော် ခမည်းတော် ဆွေတော် မျိုးတော်များနှင့်တကွ သားတော်တစ်ပါး ရသည့်တိုင်အောင် ထီးနန်းစံပြီးမှ ဘုရားဖြစ်ဖို့ရာ တောထွက်တော်မူပါသည်။ → Để mọi người biết Ngài là một con người thực sự, Ngài đã có đầy đủ mẹ, cha, họ hàng quyến thuộc, thậm chí có cả một người con trai, và sau khi trị vì ngai vàng mới xuất gia để thành Phật. အကယ်၍ ၁၈-တောင်မျှ အရပ်တော် မြင့်နေလျှင် “တန်ခိုးကြီးမှာပေါ့ကွာ၊ အရပ်တော်ကြီးကိုက နည်းတာမှ မဟုတ်ဘဲ၊ လူသားစင်စစ် ဟုတ်ချင်မှလည်း ဟုတ်မှာ” ဟု ပြောစရာ ဖြစ်ပေလိမ့်မည်။ [မဟာပဒါနသုတ်ဋီကာ] → Nếu chiều cao thân thể đạt đến 18 hắc tay, sẽ có cớ để người ta nói rằng: "Thì Ngài có đại thần thông mà, chiều cao đó đâu có tầm thường, chưa chắc đã là một con người thực sự đâu". [Mahāpadāna Sutta Ṭīkā] (၃) ဘုရားရှင်သည် မင်းသားဖြစ်စဉ်က ကြင်ယာတော် မိဖုရားလောင်း ရွေးချယ်ဖို့ရာ အခွင့်ကြုံလာ၏။ → (3) Khi Đức Thế Tôn còn là thái tử, cơ hội đã đến để lựa chọn phi tần, người sẽ là vị phối ngẫu. ထိုအခါ ခမ်းနားကြီးကျယ်သော မဏ္ဍပ်ကို ဆောက်လုပ်စေပြီးလျှင် သာကီဝင် မင်းသမီးများအား မင်းသားကိုယ်တိုင် ဆုလာဘ်ပေးဖို့ရန် ခမည်းတော် သုဒ္ဓေါဒနမင်းကြီးက စီမံလေသည်။ → Khi đó, vua cha Suddhodana đã cho xây dựng một đại sảnh nguy nga và sắp xếp để chính thái tử trao quà tặng cho các công chúa dòng Sakya. ထိုမဏ္ဍပ်အတွင်း၌ မင်းသားမှတစ်ပါး... → Bên trong đại sảnh đó, ngoại trừ thái tử ra... TRANG 77 အခြားယောက်ျား တစ်ယောက်မျှ မရှိစေရ၊ သို့သော် မင်းချင်းယောက်ျားတို့အား ပြောသမျှစကားတို့ကို ချောင်း၍ နားထောင်ကြရ စေခိုင်းထားလေသည်။ → Không được phép có bất kỳ người đàn ông nào khác, tuy nhiên các thị vệ được lệnh phải lén lắng nghe tất cả những gì được nói ra. ထိုအခါ သာကီဝင်မင်းသမီးအများပင် တစ်ချိန်တည်း ဆုလာဘ်တော်များကို လာယူကြသော်လည်း။ → Khi đó, dù có rất nhiều công chúa dòng Sakya cùng lúc đến nhận phần thưởng nhưng. “ယသောဓရာ” မင်းသမီးကား သူများနှင့် အတူမလာဘဲ တစ်ယောက်တည်း နောက်ချန်၍ အများပြန်မှ မိမိအခြွေအရံနှင့် ရောက်လာရာ ဆုလာဘ်တွေ ကုန်သွားပြီဖြစ်သောကြောင့်။ → Công chúa "Yasodharā" không đến cùng với những người khác mà lùi lại một mình, sau khi mọi người đã về hết mới cùng đoàn tùy tùng đi đến, lúc đó thì các phần thưởng đã hết sạch. မင်းသမီးက ပြုံးရွှင်သော မျက်နှာထားဖြင့် “ဘယ်နှယ့်လဲ၊ မောင်တော်က နှမတော်ကို မုန်းလို့ ဆုလာဘ်သနားဖို့ စာရင်းထဲ မသွင်းဘဲထားတော်မူပါသလား”။ → Công chúa với nét mặt mỉm cười nói rằng: "Sao vậy, có phải huynh trưởng vì ghét muội nên đã không ghi tên muội vào danh sách ban thưởng không?". အလောင်းဘုရား။ ။ “မုန်းလို့ မဟုတ်ပါ။ နောက်ကျနေသောကြောင့် မရခြင်းဖြစ်ပါတယ်” ဟု ပြောပြီးလျှင် သိန်းပေါင်းများစွာ ထိုက်တန်သော လက်စွပ်ကို ချွတ်၍ သနားတော်မူသည်။ → Bồ-tát (Thái tử): "Không phải vì ghét đâu. Vì muội đến muộn nên mới không còn" - nói xong, Ngài tháo chiếc nhẫn trị giá hàng trăm ngàn (vàng) ra và ban tặng cho nàng. ယသောဓရာ။ ။ “ဒီလက်စွပ်ကို တကယ်ပဲ ယူသွားရမှာပါလား”။ → Yasodharā: "Muội thực sự phải nhận lấy chiếc nhẫn này sao?". အလောင်းဘုရား။ ။ “မောင်တော် တစ်ကိုယ်လုံးမှာ ဝတ်ဆင်ထားတဲ့ တန်ဆာအားလုံးကိုပင် ယူနိုင်ပါတယ်”။ → Bồ-tát: "Muội có thể lấy tất cả trang sức mà huynh đang mặc trên toàn thân này cũng được". ယသောဓရာ။ ။ “နှမတော်က မောင်တော်ကို တန်ဆာမဲ့ဖြစ်အောင် မလုပ်ရက်ပါ။ တကယ်ဆိုလျှင် နှမတော်က တိုး၍ ဆင်ပေးဖို့ တာဝန်ရှိပါတယ်” ဟု ပြောကာ ပြုံးရွှင်သော မျက်နှာ၊ ကျေနပ်သော လက္ခဏာဖြင့် ပြန်သွားလေ၏။ → Yasodharā: "Muội không đành lòng để huynh trưởng trở nên không có trang sức. Thực sự thì muội còn có bổn phận phải trang điểm thêm cho huynh nữa" - nói xong, nàng ra về với khuôn mặt tươi cười và vẻ hài lòng. [“လလိတဝိတ္ထာရ” ခေါ် မြောက်ပိုင်းဗုဒ္ဓဘာသာသုတ္တန်] → [Kinh điển Phật giáo Bắc truyền gọi là "Lalitavistara"]. TRANG 78 အကယ်၍ အလောင်းတော်မင်းသားသည် သူများထက် ထူးခြား၍ ၁၈-တောင်တိုင်အောင် မြင့်ငြားအံ့။ → Nếu như Thái tử Bồ-tát cao lớn một cách đặc biệt hơn những người khác, đạt đến mức 18 hắc tay. ယသောဓရာ မင်းသမီးသည် ထိုကဲ့သို့သော စကားမျိုးကို မပြောဝံ့တန်ရာ။ → Công chúa Yasodharā chắc chắn sẽ không dám nói những lời (thân mật) như thế. သူလိုကိုယ်လို သက်တူရွယ်မျှဖြစ်သောကြောင့်သာ ပြောဆိုဝံ့ခြင်း ဖြစ်ရာ၏။ → Có lẽ vì Ngài cũng giống như bao người khác và cùng trang lứa nên nàng mới dám nói năng như vậy. ထို့ပြင် အရပ်တော် ၁၈-တောင် ရှိနေလျှင် ကိုယ်လုံးတော် ပမာဏ၏ ရှေ့ပိုင်းထက်ဝက်မှာပင် ၄-တောင်ခန့်ရှိရာ၏။ → Ngoài ra, nếu chiều cao thân thể là 18 hắc tay, thì riêng bề dày phần trước của thân hình cũng phải khoảng 4 hắc tay. ထိုမျှ ကြီးကျယ်သော် ယခုကာလ မိန်းမများထက် အလွန်မကြီးမားသော မိဖုရားများနှင့်အတူ ထီးနန်းစံတော်မူဖို့ရာ သင့်လျော်ပါမည်လော။ (ဤနေရာ၌ တန်ခိုးတော်ဟု ဆိုကြဦးမည်လား။) → Với sự to lớn như vậy, liệu có phù hợp để Ngài trị vì ngai vàng cùng với các vị phi tần vốn không lớn hơn phụ nữ thời nay là bao không? (Ở điểm này, liệu người ta có lại viện dẫn đến thần thông nữa không?). (၄) “ဘုရားဖြစ်မှ အရပ်တော် မြင့်သွားသည်၊ လူတုန်းကတော့ သူလို ကိုယ်လိုပါပဲ” ဟု ဆိုပြန်အံ့။ → (4) Nếu lại nói rằng: "Sau khi thành Phật thì chiều cao mới tăng lên, còn lúc là người thì cũng giống như bao người khác thôi". ဘုရားဖြစ်မှလည်း ထူးခြား၍ မမြင်ပါ။ → Ngay cả sau khi thành Phật, Ngài cũng không được thấy là cao lớn khác thường. ဘုရားဖြစ်ပြီး၍ မကြာမီပင် ဥပကတက္ကုဒ္ဓုန်းကြီးနှင့် လမ်းခရီးမှာ တွေ့ဖူး၏။ → Ngay sau khi thành Phật không lâu, Ngài đã gặp đạo sĩ Upaka trên đường đi. ဥပက-က သပ္ပါယ်သော ရဟန်းတစ်ပါးဟုသာ မှတ်ထင်လေသည်။ [မဇ္ဈိမပဏ္ဏာသပါဠိတော်၊ ရာဇဝဂ်၊ ဗောဓိရာဇကုမာရသုတ်] → Upaka chỉ ghi nhận rằng Ngài là một vị Sa-môn có diện mạo trang nghiêm. [Majjhima Paṇṇāsa Pāḷi, Rājavagga, Bodhirājakumāra Sutta]. (၅) ပုဏ္ဏားတစ်ယောက်သည် ယဇ်ပူဇော်ပြီးနောက် ပုဏ္ဏားတို့အား ကြွင်းကျန်သော ယဇ်စာကို ကျွေးဖို့ရန် လိုက်အရှာတွင် ခေါင်းမြီးခြုံ၍ သစ်ပင်အောက်မှာနေသော ဘုရားရှင်ကို ပုဏ္ဏားထင်၍ အနားသို့ ချဉ်းကပ်လေရာ ခေါင်းမြီးခြုံကို ဖွင့်လိုက်မှ ရဟန်းမှန်းသိသဖြင့် ပြန်သွားမည်ပြုလေ၏။ → (5) Một vị Bà-la-môn sau khi cúng tế, trong lúc đi tìm các Bà-la-môn khác để dâng thức ăn thừa, đã thấy Đức Thế Tôn đang trùm đầu ngồi dưới gốc cây; vì ngỡ là một Bà-la-môn nên ông tiến lại gần, nhưng khi Ngài mở khăn trùm đầu ra, biết là một vị Sa-môn nên ông định quay đi. အကယ်၍ ၁၈-တောင်... → Nếu như (Ngài cao) 18 hắc tay... TRANG 79 မြင့်အံ့၊ ထိုင်တော်မူနေသော ဘုရားရှင်သည် မန္တလေးမြို့၊ မဟာမြတ်မုနိ ရုပ်ပွားတော်လောက် မြင့်ဖွယ်ရှိသောကြောင့် “ပုဏ္ဏားလေးလား” ဟု အထင်မမှားထိုက်ပါ။ [သံယုတ်ပါဠိတော်] → (Nếu Ngài cao 18 hắc tay) thì khi ngồi, Đức Thế Tôn sẽ cao bằng tượng Phật Mahāmuni ở Mandalay, do đó vị Bà-la-môn không thể lầm tưởng Ngài là "một vị Bà-la-môn nhỏ bé" được. [Samyutta Pāḷi]. (၆) ဘုရားရှင်သည် ကောသမ္ဗီပြည်မှ “ပါလိလေယျက” တောသို့အကြွတွင် တောကျောင်း၌ သီတင်းသုံးနေကြသော အရှင်နန္ဒိယ၊ အရှင်ကိမိလ၊ အရှင်အနုရုဒ္ဓါ မထေရ်သုံးပါးတို့အထံ ဝင်တော်မူရာ တောစောင့်ယောက်ျားက “ရဟန်းကြီး မဝင်ပါနှင့်၊ အမျိုးကောင်းသားတွေ တရားအားထုတ်နေပါသည်” ဟု တားမြစ်လေသည်။ → (6) Khi Đức Thế Tôn từ thành Kosambi đi đến rừng "Pālileyyaka", Ngài ghé vào nơi ba vị Trưởng lão Nandiya, Kimila và Anuruddhā đang trú ngụ để hành thiền; lúc đó người canh rừng đã ngăn cản rằng: "Này vị Sa-môn lớn tuổi, xin đừng vào, các bậc thiện nam tử đang hành pháp tại đây". အကယ်၍ ၁၈-တောင် မြင့်ငြားအံ့၊ ထိုတောစောင့်ယောက်ျားသည် ဘုရားရှင်ကို မတားဝံ့ရာ။ [ဥပရိပဏ္ဏာသ၊ ဥပက္ကိလေသသုတ်ပါဠိတော်] → Nếu Ngài cao 18 hắc tay, người canh rừng đó chắc chắn sẽ không dám ngăn cản Đức Thế Tôn. [Upari Paṇṇāsa, Upakkilesa Sutta Pāḷi]. (၇) ပက္ကုသာတိမည်သော ဘုရင်သည် ဘုရားရှင်ကို မမြင်ဖူးဘဲ သတင်းကြားဖြင့် ကြည်ညို၍ ရဟန်းပြုပြီးလျှင် ဘုရားရှင်အထံ လာခဲ့လေရာ ညဉ့်အခါ အိုးထိန်းသည်ဇရပ်မှာ ဘုရားနှင့် တွေ့သော်လည်း ဘုရားမှန်း မသိသေး၊ ရဟန်းတစ်ပါးဟူသော အထင်ရှိနေသေး၏။ → (7) Vua Pukkusāti dù chưa từng gặp Đức Thế Tôn nhưng vì nghe danh mà khởi tâm tịnh tín rồi xuất gia, sau đó đi tìm Ngài; vào ban đêm, khi gặp Ngài tại xưởng của người thợ gốm, vị ấy vẫn không biết đó là Phật mà chỉ nghĩ là một vị Sa-môn khác. ထို့နောက် တရားဟောမှ သဘောကျ၍ ဘုရားမှန်း သိလေသည်။ [ဥပရိပဏ္ဏာသ၊ ဓာတုဝိဘင်္ဂသုတ်ပါဠိတော်] → Sau đó, nhờ nghe pháp mà tâm đắc nên mới nhận ra đó là Phật. [Upari Paṇṇāsa, Dhātuvibhaṅga Sutta Pāḷi]. (၈) မာဂဏ္ဍီမည်သော ပုဏ္ဏားသည် သမီးချောအတွက် သမက် လိုက်ရှာလေရာ ဘုရားရှင်ကိုတွေ့လေသည်။ → (8) Một vị Bà-la-môn tên Māgaṇḍiya trong lúc đi tìm rể cho cô con gái xinh đẹp của mình đã gặp được Đức Thế Tôn. အကယ်၍ သမီးနှင့် အရွယ် အရပ်ချင်း အလွန်အမင်း ကွာခြား၍နေလျှင် သမက်ဖမ်းဖို့ မမှန်းတန်ရာ။ [ဓမ္မပဒအဋ္ဌကထာ၊ သာမာဝတီဝတ္ထု] → Nếu chiều cao và vóc dáng quá chênh lệch so với con gái mình, ông ta chắc chắn sẽ không nhắm tới Ngài để bắt làm con rể. [Dhammapada Aṭṭhakathā, Sāmāvatī Vatthu]. TRANG 80 (၉) ဘုရားရှင်သည် အရှင်မဟာကဿပနှင့် သင်္ကန်းချင်းလဲ၍ ဝတ်တော်မူဖူးပါသည်။ → (9) Đức Thế Tôn đã từng đổi y với Ngài Đại Ca-diếp (Mahā Kassapa) để mặc. အကယ်၍ ဘုရားရှင်သည် တစ်ဆယ့်ရှစ်တောင် မြင့်တော်မူငြားအံ့၊ အရှင်မဟာကဿပသည် ဘုရားရှင်၏ သင်္ကန်းတော်ကို ဝတ်ရုံ၍မဖြစ်ရာ၊ ဘုရားရှင်လည်း အရှင်မဟာကဿပ၏ သင်္ကန်းကို မဝတ်ရုံလောက်ရာ။ [နိဒါနဝဂ္ဂ၊ ကဿပသံယုတ်၊ စီဝရသုတ်ပါဠိတော်] → Nếu Đức Thế Tôn cao 18 hắc tay, Ngài Đại Ca-diếp sẽ không thể mặc vừa y của Phật, và Đức Thế Tôn cũng không thể khoác vừa y của Ngài Đại Ca-diếp. [Nidānavagga, Kassapa Samyutta, Cīvara Sutta Pāḷi]. (၁၀) ပုဏ္ဏားတစ်ယောက်သည် မိမိဝတ်နေကျဖြစ်သော အထည်ကို ဘုရားရှင်အား လှူ၏။ ဘုရားဝတ်ရုံလောက်သည်သာ။ [သုတ်မဟာဝဂ္ဂ၊ မဟာပရိနိဗ္ဗာနသုတ် ပါဠိတော်] → (10) Một vị Bà-la-môn đã dâng tặng xấp vải mà ông thường mặc lên Đức Thế Tôn. Nó vừa vặn để Đức Phật khoác lên người. [Sutta Mahāvagga, Mahāparinibbāna Sutta Pāḷi]. (၁၁) ဘုရားရှင်၏ ညီတော်အရင်းဖြစ်သော အရှင်နန္ဒ (နန္ဒမင်းသား)သည် အခါတစ်ပါး၌ ဘုရားရှင် သင်္ကန်းတော်နှင့် ညီမျှသော သင်္ကန်းကို ဝတ်ရုံလာ၏။ → (11) Ngài Nanda (Thái tử Nanda), em trai ruột của Đức Thế Tôn, có lần đã mặc một chiếc y có kích thước bằng với y của Đức Thế Tôn đi đến. ထိုအခါ ရဟန်းတို့က အဝေးမှ လာသည်ကို မြင်ရလျှင် ဘုရားဟု ထင်မှတ်၍ နေရာမှ ထကြ၏။ → Lúc đó, các vị tỳ-kheo khi thấy Ngài từ xa đi tới đã ngỡ là Phật nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi. အနားကျမှ အရှင်နန္ဒ ဖြစ်ကြောင်းကို သိကြလေ၏။ → Chỉ đến khi lại gần, họ mới biết đó là Ngài Nanda. ဤစကားကို ထောက်လျှင် မြတ်စွာဘုရားသည် အရှင်နန္ဒထက် များစွာမမြင့်ဟု သိသာပြီ။ → Dựa vào lời này, rõ ràng thấy rằng Đức Thế Tôn không cao hơn Ngài Nanda là bao. ထို့ကြောင့် ပါဠိတော်၌ “စတုတင်္ဂုလောကော-ရှင်နန္ဒက ဘုရားအောက် လက် ၄-သစ်သာ ငယ်သည်” ဟု မိန့်တော်မူသည်။ [ဝိနည်း၊ ပါစိတ်ပါဠိတော်၊ ရတနဝဂ်] → Vì vậy, trong kinh văn Pāḷi có dạy: "Catu-aṅguloko - Ngài Nanda chỉ thấp hơn Đức Phật 4 lóng tay". [Vinaya, Pācittiya Pāḷi, Ratanavagga]. (၁၂) လူ့ပြည်လောက၌ရှိကြသော ခြေရာတို့တွင် ဆင်သတ္တဝါ၏ ခြေရာကို အကြီးဆုံးဟု ဘုရားရှင် ဟောတော်မူ၏။ → (12) Trong các loại dấu chân ở cõi người, Đức Thế Tôn dạy rằng dấu chân voi là lớn nhất. အကယ်၍... → Nếu như... TRANG 81 ၁၈-တောင်မြင့်အံ့၊ ဘုရားရှင်၏ ခြေရာတော်သည် ၂-တောင်ကျော်ကျော် ရှိမည်ဖြစ်၍ ဆင်၏ ခြေရာထက် ကြီးရာသောကြောင့် “ငါ့ဘုရား၏ ခြေရာသည်သာ အကြီးဆုံး” ဟု ဟောတော်မူသင့်၏။ [မူလပဏ္ဏာသ၊ မဟာဟတ္ထိပဒေါပမသုတ် ပါဠိတော်] → (Nếu Ngài) cao 18 hắc tay, dấu chân của Đức Thế Tôn sẽ dài hơn 2 hắc tay; vì nó sẽ lớn hơn cả dấu chân voi nên Ngài lẽ ra phải dạy rằng: "Chỉ dấu chân của Ta mới là lớn nhất". [Mūlapannāsa, Mahāhatthipadopama Sutta Pāḷi]. (၁၃) ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူခါနီး၌ ကုသိနာရုံပြည်သို့ ကြွ၍ အင်ကြင်းဥယျာဉ်အတွင်းဝယ် မလ္လာမင်းတို့၏ အသုံးပြုနေကျ ညောင်စောင်း (ခုတင်ငယ်)ပေါ်မှာပင် လျောင်းတော်မူလေသည်။ → (13) Lúc sắp nhập Niết-bàn, Ngài đi đến thành Kusināra và nằm nghỉ trên một chiếc giường thấp (chõng nhỏ) mà các vị vua Malla vẫn thường sử dụng trong rừng Ingyin (rừng Sala). အကယ်၍ ၁၈-တောင် မြင့်အံ့၊ ရိုးရိုးလူတို့ အသုံးပြုအပ်သော နေရာမှာ မနေလောက်ရာ၊ တန်ခိုးတော်အရာလည်း မဟုတ်။ [ပရိနိဗ္ဗာန်သုတ်ပါဠိတော်] → Nếu Ngài cao 18 hắc tay, Ngài sẽ không thể nằm vừa trên chỗ dành cho người bình thường sử dụng, và đây cũng không phải là trường hợp dùng thần thông. [Parinibbāna Sutta Pāḷi]. (၁၄) ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူခါနီး၌ နတ်ဗြဟ္မာအများတို့ အဖူးမြော် လာကြရာ ရှင်ဥပဝါဏမထေရ်က ရှေ့တည့်တည့်မှ ကွယ်နေသောကြောင့် ဘုရားမျက်နှာတော်ကို မဖူးကြရသဖြင့် နတ်များက မထေရ်ကို ကဲ့ရဲ့ကြ၏။ ၁၈-တောင် မြင့်တော်မူလျှင် ထိုမထေရ်က မျက်နှာတော်ကို မကွယ်နိုင်ရာ။ [ပရိနိဗ္ဗာန်သုတ်ပါဠိတော်] → (14) Khi sắp nhập Niết-bàn, rất nhiều chư Thiên và Phạm thiên đến đỉnh lễ; vì Trưởng lão Upavāṇa đứng chắn ngay phía trước nên chư Thiên không nhìn thấy được mặt Phật và đã phàn nàn về vị Trưởng lão. Nếu Ngài cao 18 hắc tay, vị Trưởng lão đó không thể nào che khuất được khuôn mặt của Ngài. [Parinibbāna Sutta Pāḷi]. (၁၅) ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူပြီးနောက် ဗန္ဓုလစစ်သူကြီးကတော် မလ္လိကာသည် သူဆင်မြန်းနေကျဖြစ်သော “မဟာလတာ” တန်ဆာဖြင့် အလောင်းတော်ကို ပူဇော်လေရာ ဦးခေါင်းတော်မှ ခြေဖျားတိုင်အောင် ဖုံးလွှမ်းနိုင်သည်ဟု မဟာပရိနိဗ္ဗာန်သုတ်အဋ္ဌကထာ ဆိုသည်။ ၁၈-တောင် မြင့်ရိုးမှန်လျှင် ထိုတန်ဆာသည် အလောင်းတော်၏ တစ်ကိုယ်လုံးကို မဖုံးလွှမ်းနိုင်ရာ။ → (15) Sau khi Ngài nhập Niết-bàn, phu nhân Mallikā (vợ tướng Bandhula) đã dùng bộ trang sức "Mahālatā" mà bà vẫn thường mặc để cúng dường lên kim thân; Chú giải kinh Đại Bát Niết Bàn nói rằng bộ trang sức ấy có thể che phủ từ đầu đến tận bàn chân. Nếu Ngài thực sự cao 18 hắc tay, bộ trang sức đó không thể nào che phủ được toàn bộ kim thân của Ngài. TRANG 82 [a] ဤသို့ စသည်ဖြင့် ပိဋကတ်တော်မှ ကောက်နုတ်ဖွယ်ရာ များစွာ ရှိသေးသည်။ → Vẫn còn nhiều điểm đáng để trích dẫn từ Tạng Kinh theo cách như vậy. ကျယ်ဝန်းမည်စိုး၍ လျစ်လျူရှုရပေတော့သည်။ → Vì e ngại sẽ quá dài dòng nên tôi đành phải bỏ qua. ဤကောက်နုတ်ချက်များအရ “ဘုရားရှင်သည် ထိုခေတ် လူများထက် တအံ့တဩ ထူးခြားစွာ မြင့်တော်မူ”ဟု အတိအလင်း ယူလိုပါသည်။ → Dựa trên những trích dẫn này, tôi muốn khẳng định rõ ràng rằng: "Đức Thế Tôn cao lớn một cách phi thường và khác biệt so với người thời đó". ထိုခေတ်က လူအများမှာလည်း ယခုခေတ် ထောင်ထောင်မောင်းမောင်း ရှိသူများထက် များစွာမကွာခြားသင့်သောကြောင့် “ဘုရားရှင်၏ အရပ်တော်သည် ၁၈-တောင် မြင့်၏”စသော အယူဝါဒ၌ ယုတ္တိယုတ္တာကို ရှာကြပါလေ။ → Vì người thời đó không nên khác biệt quá nhiều so với những người có vóc dáng cao ráo thời nay, hãy tìm kiếm sự hợp lý trong quan điểm cho rằng "Thân chiều cao của Đức Phật là 18 hắc tay (ratana)". ဘုရားရှင်သည် ဝါဝင်းသော အဆင်းတော်ရှိ၏။ → Đức Thế Tôn có nước da màu vàng sáng ngời. ကိုယ်တော်မြတ်၏ ဝါဝင်းသော အရောင်တော်သည် ပတ်ဝန်းကျင်နှင့်တကွ အထက်သို့တက်နေရာ မှောင်သောအရပ်၌ ၁၈-တောင်၊ ၂၆-တောင်ခန့် ရှိသည်ဟု ထင်ရပေမည်။ → Hào quang màu vàng rực rỡ của Ngài tỏa ra xung quanh và hướng lên trên, trong nơi tối tăm có thể thấy rõ khoảng 18 đến 26 hắc tay. ထို့ကြောင့် ပါဠိတော်နှင့် အဋ္ဌကထာတို့၌ အထက်သို့ အမြဲတက်နေသော ကိုယ်အရောင်တော်နှင့်တကွ မှန်းဆရေတွက်၍ ၁၈-တောင်၊ ၂၆-တောင် မြင့်ကြောင်းကို မိန့်ဆိုကြဟန်တူသည်ဟု မိမိသဘောမှာ ထင်မိပါသည်။ → Do đó, theo ý kiến cá nhân, tôi nghĩ rằng trong Kinh văn và Chú giải nói Ngài cao 18 hay 26 hắc tay là do tính toán bao gồm cả hào quang luôn tỏa chiếu lên trên. အရပ်တော် အဆုံးအဖြတ် ပြီး၏။ → Phần quyết định về chiều cao thân thế đến đây là hết. ပတ္တိဘုန်းတော်။ → Papi-bhun-daw (Phước đức về thần lực biến hóa / Ý lực thành tựu). ဤဘုန်းတော်မူရာအရပ်သို့ ဆီးတားကာကွယ်ခြင်း မရှိ၊ တစ်ခဏချင်း ကြွရောက်နိုင်သော ဘုန်းတော် ဖြစ်သည်။ → Đây là thần lực có thể đi đến bất cứ nơi nào trong nháy mắt mà không có sự ngăn cản hay che chắn nào. ဘုရားရှင်သည် ချော့ချွတ်ထိုက်သော သတ္တဝါကို မြင်တော်မူလျှင် နတ်ပြည် ဗြဟ္မာပြည်ပင် ဖြစ်စေကာမူ ထိုသူ၏အထံသို့ တစ်ခဏချင်း အရောက်ကြွတော်မူနိုင်သည်။ → Nếu Đức Thế Tôn thấy một chúng sinh xứng đáng được tế độ, dù là ở cõi Trời hay cõi Phạm thiên, Ngài có thể ngự đến bên cạnh người đó chỉ trong một khoảnh khắc. TRANG 83 ပါကမ္မဘုန်းတော်။ → Pākamma-bhun-daw (Phước đức về khả năng tạo tác hóa thân). အဆင်းအမျိုးမျိုး ပုံသဏ္ဌာန်အမျိုးမျိုးကို ဖန်ဆင်းတော်မူလိုပါလျှင် တစ်ခဏတည်းဖြင့် ပြီးစေနိုင်သော ဘုန်းတော်ဖြစ်သည်။ → Đây là thần lực có thể tạo ra các loại hình dáng và diện mạo khác nhau chỉ trong một khoảnh khắc nếu Ngài muốn. ဘုရားရှင်သည် တစ်ခါတစ်ရံ မြောက်ကျွန်းသို့ ကြွတော်မူပြီးလျှင် ထိုကျွန်းသားတို့၏ ဘုရင်သဏ္ဌာန် ဖန်ဆင်းလျက် တရားဟောတော်မူဖူးသည်။ → Đức Thế Tôn đã từng có lần ngự đến Bắc Câu Lưu Đơn (Uttarakuru), hóa thân thành hình dáng của vị vua xứ đó để thuyết Pháp. ဤသိတာဘုန်းတော်။ → Issitā-bhun-daw (Phước đức về quyền năng thống trị). မိမိ၏ စိတ်တော်ကိုလည်းကောင်း၊ များစွာသော သတ္တဝါတို့ကိုလည်းကောင်း အုပ်စိုးနိုင်သော ဘုန်းတော်ပေတည်း။ → Đây chính là thần lực có khả năng chế ngự tâm của chính mình cũng như nhiếp phục được vô số chúng sinh. ဤဘုန်းတော်ကြောင့်ပင် ဘုရားရှင်ကို များစွာသော သတ္တဝါတို့က ရိုသေခန့်ညားကြရပေသည်။ → Chính nhờ thần lực này mà đông đảo chúng sinh luôn tôn kính và khiêm nhường trước Đức Thế Tôn. ဝသိတာဘုန်းတော်။ → Vasitā-bhun-daw (Phước đức về sự thuần thục/thành tựu định tâm). ဈာန်သမာပတ် အဘိညာဉ်ကို ဝင်စားတော်မူလိုလျှင် အဆိုင်းအငံ့မရှိဘဲ တစ်ခဏချင်းပင် ဝင်စားနိုင်သော ဘုန်းတော်ပေတည်း။ → Đây là thần lực có thể nhập vào Thiền định (Jhāna), Định (Samāpatti) và Thắng trí (Abhiññā) ngay lập tức mà không có bất kỳ sự trì hoãn nào. ယတ္ထကာမာဝသာယိတာဘုန်းတော်။ → Yatthakāmāvasāyitā-bhun-daw (Phước đức về việc hoàn tất mọi sự như ý muốn). ဈာန်ဝင်စားခြင်း၊ ကောင်းကင်ပျံကြွခြင်းစသော ကိစ္စတစ်စုံတစ်ခုကို ပြုတော်မူစဉ် ပြီးဆုံးစေလိုသောအခါ ဆိုင်းငံ့တော်မမူရဘဲ ပြီးဆုံးစေလိုသည်နှင့် တစ်ပြိုင်နက် ထိုကိစ္စကို ပြီးဆုံးစေနိုင်သော ဘုန်းတော်ပေတည်း။ → Đây là thần lực giúp khi đang thực hiện một việc như nhập thiền hay bay trên không, nếu muốn kết thúc thì việc đó sẽ hoàn tất ngay lập tức mà không cần chờ đợi. [ယတ္ထကာမ-အလိုရှိရာခဏ၌+အဝသာယိတာ-ပြီးစေနိုင်ခြင်း။] → [Yatthakāma: tại thời điểm mong muốn + Avasāyitā: có khả năng hoàn tất.] (၁) ဣဿရိယဘုန်းတော်။ → (1) Issariya-bhun-daw (Phước đức về quyền năng tối thượng). ဤပြခဲ့သော ဘုန်းတော်ရှစ်ပါးသည် အများပြောဆိုအပ်သော ဘုန်းတော်ခြောက်ပါးတွင် “ဣဿရိယ”ဘုန်းတော်ချည်းသာတည်း။ → Tám loại thần lực vừa nêu trên đều nằm trọn trong "Issariya-bhun-daw" (Quyền năng tối thượng) thuộc về sáu loại phước đức (Bhaga) thường được nhắc đến. TRANG 84 (၂) ဓမ္မဘုန်းတော်။ → (2) Dhamma-bhun-daw (Phước đức về Pháp bảo). တစ်ထောင်ငါးရာကိလေသာ ရန်သူရန်မြေတို့ကို ပယ်ရှားသုတ်သင်နိုင်သော မဂ် ၄-ပါး၊ ဖိုလ် ၄-ပါး၊ နိဗ္ဗာန်အားဖြင့် ၉-ပါးသော လောကုတ္တရာတရားတို့ကို “ဓမ္မ”ဘုန်းတော်ဟု ခေါ်သည်။ → Chín pháp Siêu thế gồm 4 Đạo, 4 Quả và Niết-bàn, những pháp có khả năng tiêu trừ và quét sạch kẻ thù cùng mầm mống của 1500 phiền não, được gọi là "Dhamma-bhun-daw". (၃) ယသဘုန်းတော်။ → (3) Yasa-bhun-daw (Phước đức về danh tiếng/uy tín). ပျံ့နှံ့ကျော်စောသော ဂုဏ်သတင်းတော်ကို “ယသ”ဘုန်းတော်ဟု ခေါ်သည်။ → Tiếng thơm vang xa về ân đức của Ngài được gọi là "Yasa-bhun-daw". ဘုရားရှင်၏ ဂုဏ်သတင်းတော်သည် သူတကာတို့ကဲ့သို့ အသိုင်းအဝိုင်းတို့ဖြင့် မဟုတ်မမှန် လုပ်ကြံ၍ ဖြစ်ရခြင်းမျိုး မဟုတ်။ → Danh tiếng của Đức Thế Tôn không phải do phe cánh thêu dệt sai sự thật như những người khác. ဟုန်မှန်သော ဂုဏ်တော်ကြောင့် အလိုလိုထင်ပေါ်လျက် လူ့ပြည်လောကထက် နတ်ပြည်လောက၌ သာ၍ ပျံ့နှံ့ကျော်စောပေသည်။ → Do các ân đức chân thật, danh tiếng ấy tự nhiên hiển lộ và lan tỏa ở cõi Trời còn rộng khắp hơn cả ở thế gian loài người. အခြားစကြဝဠာက နတ်ဗြဟ္မာများလည်း ဤစကြဝဠာသို့ လာနိုင်သဖြင့် နတ်ဗြဟ္မာအချင်းချင်း ဂုဏ်သတင်းပြန့်သောကြောင့် “စကြဝဠာတစ်သောင်းတိုင်းအောင် ပျံ့နှံ့၏၊ လူ့လောက၌ကား ထိုမျှလောက် ဂုဏ်သတင်းမပျံ့နှံ့”ဟု ဆိုလာပါသည်။ → Vì chư Thiên và Phạm thiên từ các luân hồi vũ trụ khác cũng có thể đến vũ trụ này và truyền tụng ân đức cho nhau, nên người ta nói rằng: "Danh tiếng lan khắp mười ngàn thế giới, còn ở cõi người thì danh tiếng không lan rộng đến mức đó". (၄) သိရီဘုန်းတော်။ → (4) Sirī-bhun-daw (Phước đức về vẻ đẹp/thân tướng trang nghiêm). ကျမ်းစာ၌ ပြခဲ့သည့်အတိုင်း အလွန်ကြီးမားသော ပါရမီရှင်ဖြစ်စေကာမူ ဖူးမြော်၍မဝနိုင်အောင် လွန်စွာသပ္ပာယ်သော ကျက်သရေကို “သိရီ”ဘုန်းတော်ဟု ခေါ်သည်။ → Vẻ đẹp trang nghiêm cực kỳ thăng hoa khiến ngay cả những bậc hữu công đức lớn lao khi chiêm bái cũng không thấy chán, được gọi là "Sirī-bhun-daw". ဗုဒ္ဓနုဿတိကမ္မဋ္ဌာန်း စီးဖြန်းသောအခါ ဤ“သိရီ” ဘုန်းတော်ဖြစ်သော ရုပ်ပုံတော်ကိုလည်း အာရုံပြုနိုင်ပါသည်။ → Khi thực hành pháp môn Niệm Phật (Buddhānussati), người ta có thể lấy sắc thân trang nghiêm vốn là "Sirī-bhun-daw" này làm đối tượng định tâm. ရှင်တော်ဘုရား၏ မျက်နှာဝယ် ညိုမှောင်သော မျက်ခုံးတော်နှစ်သွယ်၏အကြား၌ “ဥဏ္ဏလုံ”ဟု ခေါ်အပ်သော ဆွတ်ဆွတ်ဖြူသော အမွေးတော်သည်။ → Trên khuôn mặt của Đức Thế Tôn, tại giữa hai hàng lông mày đen nhánh, có một sợi lông màu trắng tinh khiết gọi là "Uṇṇaloma". TRANG 85 ဆန့်ထားလျှင် လက်မောင်းတစ်ဝက်ခန့် ရှည်၍ ပင်ကိုယ်အတိုင်းထားလျှင် ငွေနန်းမျှင်ကို ခွေထားသကဲ့သို့ လက်ယာရစ်ခွေလျက် ကျက်သရေ အလွန်ရှိပေ၏။ → Nếu duỗi thẳng ra thì dài khoảng nửa cánh tay, còn nếu để tự nhiên thì nó cuộn lại về phía bên phải như một sợi chỉ bạc cuộn tròn, trông rất trang nghiêm. ဝါဝင်းသော အရေပေါ်ဝယ် မျက်ခုံးအမွေးတော်နှစ်ဖက်၏ မည်းနက်သော အရောင်တော်ကြောင့် ဆွတ်ဆွတ်ဖြူသော ဤဥဏ္ဏလုံမွေးရှင်တော်သည် အလွန်ထင်ပေါ်၍နေပေတော့၏။ → Trên làn da vàng sáng, nhờ sắc đen của hai hàng lông mày mà sợi lông Uṇṇaloma trắng tinh này càng trở nên nổi bật rạng rỡ. ဥဏ္ဏလုံမွေးရှင်တော်၏ အောက်နားဝယ် ဝဲယာနှစ်ဖက်က မျက်တောင်တော်များသည်လည်း အထက်သို့ အဖျားကော့ကာ မွေးရှင်တော်ကို မော်၍ဖူးမြော်သလို ထင်ရပေသည်။ → Ở phía dưới sợi lông Uṇṇaloma, hàng lông mi hai bên trái phải cong vút lên trên, trông như thể chúng đang ngước nhìn chiêm bái sợi lông quý ấy. ပတ္တမြားလုံးတပ်ထားသကဲ့သို့ ခပ်မို့မို့ထင်လင်းသည့် မျက်လုံးတော်အတွင်းဝယ် နှစ်သွယ်သော မျက်ဖြူတော်၏ အလယ်ချက်က မျက်နက်ဝန်းတော်မှာ ကုမုဒြာ ကြာဖြူပန်းအတွင်းမှ ပိတုန်းကလေးများ ထွက်ပြုနေသလို တင့်တယ်ပါပေသည်။ → Bên trong đôi mắt sáng ngời hơi nhô lên như khảm ngọc quý, tròng đen nằm giữa hai phần lòng trắng trông thật duyên dáng như những chú ong rừng đang hiện ra từ trong đóa hoa sen trắng Kumudrā. မျက်လုံးတော်နှစ်သွယ်၏ အလယ်မှအောက်သို့သက်သော နှာတံတော်သည်ကား မပိန်မပြား ထင်ရှားပေါ်လွင်၍ မျက်နှာတော်ကို တန်ဆာဆင်သလို ရှိပါပေသည်။ → Sống mũi chạy từ giữa hai mắt xuống dưới thì không xẹp không gãy, hiển lộ rõ ràng như đang trang điểm thêm cho khuôn mặt Ngài. နှုတ်ခမ်းတော်အစုံမှာ ဟင်္သပဒါးရည် ပက်ဖျန်းသကဲ့သို့ နီမြန်းတော်မူပြီးလျှင် စီနီအစဉ် စီထားသလို ထင်ရသော သွားတော်အစဉ်၏ ဆွတ်ဆွတ်ဖြူပုံကိုပင် ပြုံးတော်မူသောအခါ ကျက်သရေချင်း ပြိုင်ယှဉ်မည်ကဲ့သို့ ထင်ရပေသည်။ → Đôi môi đỏ tươi như được vẩy nước phẩm đỏ, và khi Ngài mỉm cười, hàm răng trắng tinh đều đặn như được sắp đặt tỉ mỉ tạo nên một vẻ đẹp như đang đua sắc cùng nhau. ဤသို့ အမြတ်မျှုြဗအပ်သော မျက်နှာတော်နှင့် ကိုယ်တော်၏ ကျက်သရေတော်သည် နတ်လူဗြဟ္မာတို့၏ မျက်လုံးကို ဆွဲငင်ထားသကဲ့သို့ ဖူးမြော်၍ မဝနိုင်အောင် ရှိပါပေသတည်း။ → Khuôn mặt và thân thể đầy vẻ trang nghiêm cao quý như vậy luôn thu hút ánh nhìn của chư Thiên, loài người và Phạm thiên, khiến họ chiêm bái mãi mà không biết chán. [ဤအကြိမ်ရိုက်စာအုပ်၌ ဘုရားရှင်၏...] → [Trong lần in cuốn sách này, về Đức Thế Tôn...] TRANG 86 ကျက်သရေတော်ကို ထင်ပေါ်အောင် ရှေးဆရာတို့ဖွဲ့ဆိုအပ်သော လက္ခဏာတော်ကြီးဘုရားရှိခိုးထည့်ထားပါသည်။ → Tôi đã đưa vào bài lễ bái chư Phật qua các đại tướng tốt do các bậc thầy xưa biên soạn để làm hiển lộ vẻ trang nghiêm của Ngài. ဆက်ဦးအံ့- “ကျက်သရေ” ဆိုသည်မှာ အလှကို ဆိုလိုသည်မဟုတ်။ → Xin được tiếp tục: "Trang nghiêm" (Kyet-tha-yay) ở đây không đơn thuần chỉ là vẻ đẹp bên ngoài. မလှသော်လည်း တစ်ချို့မှာ ရုပ်အနေအထား အချိုးကျ၍ဖြစ်စေ၊ အနေအထိုင် အပြောအဆို အချိုးကျ၍ဖြစ်စေ “ကျက်သရေ ရှိပါပေသည်” ဟု ချီးမွမ်းခံကြရပေသည်။ → Dù không đẹp, nhưng một số người vẫn được khen ngợi là "có vẻ trang nghiêm" nhờ vào vóc dáng cân đối, hoặc do cách đi đứng và lời ăn tiếng nói chuẩn mực. ဘုရားရှင်ကား ပင်ကိုယ်အဆင်းလည်း တင့်တယ်၏။ လှမ်းကြွတော်မူပုံ၊ နေထိုင်တော်မူပုံ၊ ဟောပြောတော်မူပုံ စသည်တို့မှာလည်း ရှု၍မငြီး၊ နာ၍မငြီးအောင် ကျက်သရေကို ဆောင်တော်မူ၏။ → Riêng Đức Thế Tôn, vẻ ngoài vốn đã thanh tú, mà ngay cả cách Ngài bước đi, cử chỉ sinh hoạt hay cách thuyết giảng đều mang vẻ trang nghiêm khiến người nhìn không chán mắt, người nghe không chán tai. ထို့ကြောင့် လူမင်း၊ နတ်မင်း၊ ဗြဟ္မာမင်းတို့၏ ပရိသတ်အလယ်၌ ထိုင်တော်မူကာ တရားဓမ္မဟောပြောတော်မူသော ဘုရားရှင်သည် ဝင်းစက်ညက်ညောသော အသားအရည်ပေါ်တွင် ကြည်လင်ပြတ်သားသော အသံတော်ကို တန်ဆာဆင်သလိုဖြစ်ရကား များစွာသော မင်းပရိသတ်ထက် ကျက်သရေ သာလွန်၍ ထူးချွန်တင့်တယ်တော်မူပေသည်။ → Do đó, khi ngồi giữa hội chúng loài người, chư Thiên hay Phạm thiên để thuyết Pháp, Đức Thế Tôn với giọng nói trong trẻo vang vọng trên làn da vàng rực rỡ mịn màng, Ngài trở nên nổi bật và trang nghiêm vượt trội hơn hẳn so với mọi hội chúng vương giả. သေလသုတ်မှ ကောက်နုတ်ချက်။ → Trích dẫn từ kinh Sela Sutta (Kinh Sela). လုလင်ငယ် သုံးရာလောက်ကို စာပြနေသော ဗြာဟ္မဏတတ်ရှိသူ “သေလ”မည်သော ကျောင်းအုပ်ဆရာကြီးတစ်ယောက်သည် အခါတစ်ပါးဝယ် ဘုရားရှင်အကြောင်းကို ကြားရ၍ တပည့်သုံးရာနှင့်အတူ ဘုရားရှင်ထံသို့ ရောက်လာလေရာ ရှင်တော်ဘုရား၏ ကျက်သရေရှိလှသော ရုပ်အဆင်းတော်ကို မြင်ရုံမျှဖြင့် “ဤမျှလောက် ကျက်သရေရှိသော အရှင်မှာ ရဟန်းပြုနေလို့ ဘာအကျိုးရှိမှာလဲ၊ လေးကျွန်းလုံးကို → Có vị đạo sư Bà-la-môn tên là Sela, người đang dạy học cho khoảng ba trăm môn sinh, một lần nọ nghe danh đức của Phật nên đã cùng các đệ tử đến gặp Ngài; chỉ vừa nhìn thấy sắc thân đầy vẻ trang nghiêm của Đức Thế Tôn, ông đã nghĩ: "Một bậc trang nghiêm thế này mà đi tu thì có ích gì, phải cai trị cả bốn châu** TRANG 87 လွှမ်းမိုး၍ အုပ်စိုးနိုင်သော စကြာမင်းဖြစ်ဖို့ရာ ရုပ်လက္ခဏာတွေ ပြည့်စုံနေပါတယ်။ → mới đúng vì Ngài hội tụ đầy đủ các tướng trạng để trở thành một vị Chuyển Luân Thánh Vương trị vì thiên hạ." ထို့ကြောင့် ရဟန်းအဖြစ်၌မနေဘဲ လူ့ဘောင်မှာနေ၍ မင်းတကာတို့ ရှိခိုးဦးခိုက် ပူဇော်ထိုက်သော စကြာမင်း လုပ်တော်မူပါ” ဟု လျှောက်ထားလေသည်။ [သုတ္တနိပါတ်၊ မဟာဝဂ်၊ သေလသုတ်ပါဠိတော်။] → Do đó, xin Ngài đừng ở trong đời sống sa-môn nữa mà hãy trở lại thế tục làm vị Chuyển Luân Vương để muôn vàn quốc vương khác phải đảnh lễ cúng bàng." [Trích Kinh Sela, Đại Phẩm, Tập Sutta Nipāta]. ဤမျက်စိဖြင့် အလှအပတွေကို ကြည့်ရာ၌ မကောင်းစိတ်တွေ တိုးပွား၍ အကျိုးများသော်လည်း ဘုရားရှင်၏ သပ္ပာယ်သော အဆင်းကို ကြည့်ရှုဖူးမြော်ရာ၌ကား အကောင်းစိတ်တွေ တိုးပွားသဖြင့် အကျိုးများလှပေသည်။ → Dù việc dùng mắt nhìn ngắm những vẻ đẹp thế gian thường làm tăng trưởng tâm bất thiện, nhưng việc chiêm bái sắc thân thanh tịnh của Đức Thế Tôn lại làm tăng trưởng tâm thiện lành và mang lại lợi ích to lớn. ဤမျှလောက် ကြီးကျယ်သော ကျက်သရေတော်ရှင်ကို ငါတို့ မဖူးမြင်လိုက်ရသည်မှာ များစွာဝမ်းနည်းဖွယ်ကောင်းလှပေသည်တကား။ → Thật là một điều đáng tiếc thay khi chúng ta không có cơ hội được tận mắt chiêm bái bậc có vẻ trang nghiêm vĩ đại đến dường này. (၅) ကာမဘုန်းတော်။ → (5) Kāma-bhun-daw (Phước đức về sự như ý nguyện). “ရှင်တော်မြတ်၏ အလိုတော်ရှိလေသမျှ လုံးစုံတို့ကို အကုန်ပြီးစီးနိုင်ခြင်းကို “ကာမ”ဘုန်းတော်ဟု ခေါ်သည်။ → Việc có thể hoàn thành trọn vẹn tất cả mọi điều theo như ý muốn của Đức Thế Tôn được gọi là "Kāma-bhun-daw". ဘုရားရှင်သည် ဘုရားဖြစ်၍ သတ္တဝါတို့ကို ချော့ချွတ်နိုင်ဖို့ရန် တောင့်တတော်မူခဲ့ရာ ထိုတောင့်တတော်မူသည့်အတိုင်း ပြည့်စုံပေသည်။ → Đức Thế Tôn đã từng phát nguyện trở thành Phật để tế độ chúng sinh, và mọi tâm nguyện đó đều đã được thành tựu viên mãn. (၆) ပယတ္တဘုန်းတော်။ → (6) Payatta-bhun-daw (Phước đức về sự tinh tấn không ngừng). ကြီးမားလှစွာသော လုံ့လ ဝီရိယတော်ကို “ပယတ္တ”ဘုန်းတော်ဟု ခေါ်သည်။ → Sự nỗ lực và tinh tấn vĩ đại của Ngài được gọi là "Payatta-bhun-daw". ဤကျမ်းအစ “စရံ ဝါ ယဒိဝါ တိဋ္ဌံ”ဂါထာ၌ ပြခဲ့သည့်အတိုင်း နေ့ရော ညပါ အားလပ်ခွင့်ရတော်မမူဘဲ ဝေနေယျတို့၏အကျိုးငှာ လွန်စွာ အားထုတ်တော်မူပေသည်။ → Như đã dẫn trong bài kệ "Caraṃ vā yadivā tiṭṭhaṃ" ở đầu sách này, Ngài đã nỗ lực hết mình vì lợi ích của chúng sinh hữu duyên, không quản ngày đêm, chẳng hề ngơi nghỉ. TRANG 88 ဘုရားရှိခိုး ဂါထာဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích bài kệ lễ bái Phật (Để ghi nhớ). ဝံ နဝံ ဂုဏေဟိ၊ လောကမှိ ကိတ္တိဗျာပိတံ။ → Vaṃ navaṃ guṇehi, lokamhi kittibyāpitaṃ. အတုလံ ဓမ္မရာဇာနံ၊ ဝန္ဒာမိ တိဟိ သာဒရံ။ → Atulaṃ dhammarājānaṃ, vandāmi tihi sādaraṃ. ဝံ နဝံ ဂုဏေဟိ-ဤအဟတာ၊ အစလာတည်းဟူသော ကိုးဖြာသော ဂုဏ်တော်တို့ဖြင့်။ → Vaṃ navaṃ guṇehi: Với chín loại ân đức gọi là Ahatā (không bị tổn hại) và Acalā (không lay chuyển). လောကမှိ-ဘဝဂ်ဆုံးအောင်၊ ဘုံသုံးဆောင်၌။ → Lokamhi: Trong khắp ba cõi, cho đến tận cùng của các cõi hữu (Bhavagga). ကိတ္တိဗျာပိတံ-သိမ့်သိမ့်တုန်နံ့၊ ပဲ့တင်ထပ်မျှ၊ နှံ့စပ်ကျော်စောတော်မူထသော။ → Kittibyāpitaṃ: Là bậc có danh tiếng vang dội và lan tỏa khắp nơi như tiếng vang rền. အတုလံ-သီလခေါင်ထိ၊ သမာဓိနှင့်၊ ကြီးဘိပညာ၊ လွန်ကဲသာ၍၊ ပြိုင်လာနိုင်သူ၊ အတူလည်းရှိတော်မမူထသော။ → Atulaṃ: Là bậc vô song, không có ai sánh bằng nhờ vào giới hạnh cao tột, định lực và trí tuệ vĩ đại vượt trội. ဓမ္မရာဇာနံ-သုံးဘုံကိုစိုး၊ သုံးထိုက်သရဖူ၊ သုံးလူသင်းကျပ်၊ ဓမ္မရာဇ်ထွတ်ထား၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားကို။ → Dhammarājānaṃ: Đến Đức Pháp Vương, bậc tối thượng cai trị ba cõi, bậc đáng được tôn thờ bởi cả ba hạng chúng sinh. တိဟိ-လက်အုပ်အဉ္ဇလီ၊ နှုတ်သံချီ၍၊ ရွှင်ကြည်မနော၊ သုံးပါးသော ဒွါရတို့ဖြင့်။ → Tihi: Bằng ba cửa (thân, khẩu, ý) với đôi tay chắp lại, lời nói tán dương và tâm ý hân hoan. သာဒရံ-လေးမြတ်ကြည်ညို၊ ရိုသေခြင်းရှိသည်ဖြစ်၍။ → Sādaraṃ: Với lòng cung kính, ngưỡng mộ và tôn trọng sâu sắc. ဝန္ဒာမိ-ဂုဏ်တော်ထုံမွှမ်း၊ ပုံတော်မှန်းလျက်၊ ချီးမွမ်းထောမနာ၊ ပဏာညွတ်ကျိုး၊ လက်စုံမိုး၍၊ ရှိခိုးကန်တော့ပါ၏ဘုရား။ → Vandāmi: Con xin đảnh lễ bái tạ, miệng tán dương đức hạnh, tâm tưởng niệm tướng hảo, hai tay chắp cao cúi đầu lễ bái Đức Thế Tôn. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. ၁- အရဟံဂုဏ်တော်ကိုပင် သဒ္ဒါနည်းအရ “အဟတာ”ဟုဆိုသည်။ → 1- Theo quy tắc ngữ pháp, ân đức "Arahaṃ" cũng được gọi là "Ahatā". ၂- “ထောမနာ”ကား ချီးမွမ်းခြင်းကိုဟောသော ပါဠိစကား။ → 2- "Thomanā" là từ Pali có nghĩa là sự tán dương, ca ngợi. ၃- ကိုးညွတ်ခြင်း=ရှိခိုးခြင်းကိုဟောသော “ပဏာမ”ပါဠိကိုပင် “ပဏာ”ဟု ဆိုထားသည်။ → 3- Từ "Paṇā" chính là cách gọi rút gọn của từ Pali "Paṇāma", có nghĩa là sự cúi mình hay lễ bái. TRANG 89 ဘဝဂ်ဆုံးအောင်၊ ဘုံသုံးဆောင်၌။ → Cho đến tận cùng của các cõi hữu, trong khắp ba cõi. ဘုံဘဝတို့၏ အထက်ဆုံးဖြစ်သော “နေဝသညာနာသညာယတန”ဘုံကို “ဘဝဂ်”ဟု ခေါ်သည်။ → Cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Nevasaññānāsaññāyatana), cõi cao nhất của các cảnh giới tái sinh, được gọi là "Bhavagga" (Hữu đỉnh). ကာမ၊ ရူပ၊ အရူပ၊ ဘုံသုံးဆောင်၏ အဆုံးဘဝဂ်တိုင်အောင် ဘုရားရှင်၏ သီလဂုဏ်၊ သမာဓိဂုဏ်၊ ပညာဂုဏ်များသည် သူတစ်ပါးထက် ထိပ်ခေါင်ထိမျှ လွန်ကဲတော်မူပေသည်။ → Cho đến tận cùng của ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc, các ân đức Giới, Định, Tuệ của Đức Thế Tôn luôn vượt trội và đứng hàng tối thượng so với tất cả chúng sinh khác. ထို့ကြောင့် တိတ္ထိအများပင် ဘုရားရှင်ကို ပြိုင်လာ နှိုင်းလာကြပါသော်လည်း သီလ၊ သမာဓိ၊ ပညာဂုဏ်အားဖြင့် တစ်စုံတစ်ယောက်မျှ တူတန်သူ မရှိခဲ့ကြပေ။ → Do đó, dù có nhiều vị ngoại đạo muốn đến so tài hay sánh ngang với Đức Thế Tôn, nhưng xét về các ân đức Giới, Định, Tuệ thì không một ai có thể tương xứng với Ngài. သုံးဘုံမကိုဋ်။ → Mân-koik (Vương miện/Bậc tối thượng) của ba cõi. မင်း မိဖုရားတို့၏ ဦးခေါင်း၌ ဆောင်းအပ်သော အရာကို “မကိုဋ်-သရဖူ”ဟု ခေါ်၏။ → Vật đội trên đầu của vua và hoàng hậu được gọi là "Mân-koik" (Vương miện) hay "Tha-ya-phu" (Mão). နဖူး၌ ရစ်ပတ်အပ်သော ရွှေပြားကို “သင်းကျပ်”ဟုခေါ်၏။ → Tấm vàng quấn quanh trán được gọi là "Thinn-kyap" (Băng đeo trán vương giả). ဘုရားရှင်သည် ဦးထိပ်တင်ကာ ရှိသေရာဖြစ်၍ သုံးဘုံသားတို့၏ မကိုဋ်သရဖူ သင်းကျပ်နှင့်တူစွာ တရားမင်းကြီး ဖြစ်ပါပေသည်။ → Đức Thế Tôn là bậc đáng được tôn kính đặt lên đầu, Ngài chính là vị Pháp Vương, ví như vương miện và mão báo của chúng sinh trong khắp ba cõi. လက်အုပ်အဉ္ဇလီ။ → Lak-ote-añjalī (Chắp tay lễ bái). လက်အုပ်ကို ပါဠိလို “အဉ္ဇလီ”ဟု ခေါ်၏။ → Việc chắp tay (vái chào) trong tiếng Pali gọi là "Añjalī". ကိုယ်ဖြင့် ရှိခိုးကြောင်းဖြစ်သော ကာယဝိညတ်ကို “ကာယဒွါရ”ဟု ခေါ်၏။ → Sự biểu hiện của thân thể để bày tỏ lòng lễ bái được gọi là "Kāya-dvāra" (Thân môn). နှုတ်ဖြင့်ရွတ်ဆို၍ ရှိခိုးကြောင်း ဝစီဝိညတ်ကို “ဝစီဒွါရ”ဟုခေါ်၏။ → Việc dùng lời nói tụng đọc để lễ bái được gọi là "Vacī-dvāra" (Khẩu môn). ကိုယ်နှုတ်မပါဘဲ ဘာဝနာပွားသကဲ့သို့ ဘုရားဂုဏ်တော်ကို အာရုံပြုနေသော ကုသိုလ်ဇောစိတ်ကို “မနောဒွါရ”ဟု ခေါ်၏။ → Tâm thiện (Kusala javana) đang hướng về các ân đức Phật, giống như lúc hành thiền mà không dùng thân hay lời, được gọi là "Manode-dvāra" (Ý môn). ဂုဏ်တော်အပေါင်းဖြင့် ထုံမွှမ်းအပ်သော သက်တော်ထင်ရှား မြတ်စွာဘုရား၏ ရုပ်ပုံတော်ကို စိတ်ဖြင့်မှန်း၍ နှုတ်ဖြင့် ချီးမွမ်းပြီးလျှင် ကိုယ်ဖြင့် ကိုင်းညွတ်ကာ ထိုသုံးဖြာသော ဒွါရတို့ဖြင့် ရှိခိုးပါ၏ဟူလို။ → Nghĩa là: Con xin dùng cả ba cửa (thân, khẩu, ý) này để đảnh lễ bằng cách dùng tâm tưởng niệm sắc thân của Đức Phật đang còn tại thế vốn tràn đầy các ân đức, dùng lời ca ngợi Ngài và dùng thân mình cúi đầu kính lễ. TRANG 90 ဂုဏ်တော် ၉-ပါးကို ဆက်သွယ်၍ အကျဉ်းချုပ် အာရုံပြုနည်း- → Cách tóm tắt để hướng tâm liên kết chín ân đức Phật: ဘုရားရှင်၏ ဂုဏ်တော်များကို အာရုံပြုလျက် ဗုဒ္ဓါနုဿတိ ကမ္မဋ္ဌာန်းကို စီးဖြန်းပွားများရာ၌ ရှေးဦးပထမ သမာဓိမရသေးခင် ဂုဏ်တော်တစ်ပါးတည်းကိုသာစွဲ၍ အထပ်ထပ် အာရုံပြုနေလျှင် ပျော်မွေ့ဖွယ်ကောင်းသော်လည်း ကျဉ်းမြောင်းသော ဥယျာဉ်တွင် ကြာရှည်စွာ မကြည့်ချင်သကဲ့သို့ ထိုဂုဏ်တော်တစ်ပါးတည်း၌ စိတ်အစဉ်မပျော်မမွေ့ဘဲ ပျံ့လွင့်နေတတ်ပါသည်။ → Khi thực hành thiền Niệm Phật bằng cách hướng tâm vào các ân đức của Ngài, nếu trước khi đạt được định mà chỉ bám vào một ân đức duy nhất và quán chiếu lặp đi lặp lại, dù ban đầu có vẻ hân hoan, nhưng tâm có thể không thấy hân hoan mãi mà dễ bị phóng dật, giống như việc không muốn nhìn mãi một khu vườn nhỏ hẹp vậy. ဂုဏ်တော် ၉- ပါးကို တစ်ပါးနှင့်တစ်ပါး ဆက်သွယ်လျက် လှည့်ကာပတ်ကာ အာရုံပြုနေသောအခါ သာယာကျယ်ဝန်း၍ ပန်းမျိုးစုံသော ဥယျာဉ်ကြီးတွင် ပျော်ပြီးရင်းပျော်ရင်းဖြစ်လာသကဲ့သို့ ဘုရားဂုဏ်တော်ကို အာရုံပြုသူတို့၏ စိတ်ဓာတ်လည်း မပြတ်ကြည်ညွှန်း ရွှင်မြူးချမ်းမြေ့ရုံသာမက အတော်ကြာလျှင် ဂုဏ်တော်တစ်ပါးစီ၌ သမာဓိစူးစိုက်လာပါလိမ့်မည်။ → Khi hướng tâm xoay vòng và liên kết chín ân đức với nhau, người hành thiền sẽ cảm thấy tâm hồn luôn thanh tịnh, hân hoan và an lạc giống như đang dạo chơi mãi không chán trong một khu vườn rộng lớn đầy hoa thơm cỏ lạ. ထို့ပြင် အတော်ကြာလျှင် ဂုဏ်တော်တစ်ပါးစီ၌ သမာဓိစူးစိုက်လာပါလိမ့်မည်။ → Sau một thời gian, định lực sẽ bắt đầu tập trung sâu sắc vào từng ân đức một. ထို့ကြောင့် ဤနည်းအတိုင်းပင် ဘုရားရှင်၏ ဂုဏ်တော်များကို ဆက်သွယ်၍ အာရုံပြုလိုကြသော အမျိုးသား အမျိုးသမီးတို့သည် ရှေးဦးစွာ မိမိ၏ သီလကို ၅-ပါးဖြစ်စေ၊ ၈-ပါးဖြစ်စေ၊ ၁၀-ပါးဖြစ်စေ၊ အထူးလုံခြုံစွာရှိစေရမည်။ → Do đó, những thiện nam tín nữ muốn hướng tâm liên kết các ân đức Phật theo cách này, trước tiên phải giữ gìn giới luật của mình (5 giới, 8 giới hoặc 10 giới) một cách thật trong sạch. ထို့နောက် ဆိတ်ငြိမ်သော အရပ်ကို ရစေရမည်။ မိမိအိမ်မှာဖြစ်လျှင်လည်း အားလုံးတိတ်ဆိတ်သော အခါ ဖြစ်စေရမည်။ ရုပ်ပွားတော် စေတီတော် အနီးအပါး ဖြစ်လျှင်လည်း ပွဲလမ်းအခါမဟုတ်ဘဲ ဆိတ်ငြိမ်သောအခါ ဖြစ်စေရမည်။ → Sau đó, cần tìm một nơi yên tĩnh; nếu ở tại nhà thì phải chọn lúc mọi người đều im lặng, còn nếu ở gần tượng Phật hay bảo tháp thì phải chọn lúc không có lễ hội và thật sự tĩnh lặng. TRANG 91 သို့သော် အမျိုးသမီးဖြစ်လျှင် မည်သည့်နည်းနှင့်မျှ ယုံကြည်စိတ်ချလောက်သော အဖော်မပါဘဲ စေတီရုပ်ပွားအနီး၊ သို့မဟုတ် တောတောင်ပိတ်ပေါင်း၊ ကမ္မဋ္ဌာန်းကျောင်းတို့၌ နေထိုင်၍ အာရုံမပြုသင့်ပါ။ → Tuy nhiên, nếu là phụ nữ thì tuyệt đối không nên ở lại hành thiền một mình tại các nơi như gần bảo tháp, rừng núi hay thiền viện mà không có người đồng hành đáng tin cậy. အရပ်ရပ်အပြစ်ကင်းသော နေရာကောင်းကို ရွေးချယ်ပြီးနောက် တကယ်ယောဂီစိတ်ကို ရောက်စေလျက် မိမိရှေ့မှောက်၌ ဘုရားရှင် ရောက်တော်မူနေသကဲ့သို့ ထင်မြင်စေကာ အောက်ပါအတိုင်း အာရုံပြုပါ။ → Sau khi chọn được nơi chốn tốt lành không có chướng ngại, hãy khởi tâm như một hành giả thực thụ, hình dung như Đức Thế Tôn đang hiện diện ngay trước mặt mình và hướng tâm như sau: ၁။ ဗုဒ္ဓဂုဏ်တော်။ ။ဘုရားရှင်သည် အလောင်းတော် သုမေဓာဘဝက ဒီပင်္ကရာဘုရားရှင်ကို ဖူးတွေ့ခါစ၌ သတ္တဝါတို့ကို ကယ်တင်လိုသော ဆန္ဒတော်ပြင်းပြလှသဖြင့် “ဗုဒ္ဓေါ-ကိုယ်တိုင်သိရသော အခါဝယ်၊ ဗောဓေယျံ-သတ္တဝါတို့ကိုလည်း သိစေတော်မူမည်”ဟု အဓိဋ္ဌာန်တော်မူခဲ့ပါသည်။ → 1. Buddho-guṇdaw: Khi còn là đạo sĩ Sumedha và lần đầu đảnh lễ Đức Phật Dīpaṅkara, do lòng ước nguyện cứu độ chúng sinh quá mãnh liệt, Đức Thế Tôn đã phát nguyện: "Buddho - Khi ta tự mình giác ngộ, Bodheyyaṃ - ta sẽ giúp các chúng sinh khác cùng giác ngộ". ၂။ သုဂတဂုဏ်တော်။ ။ထိုသို့ အဓိဋ္ဌာန်တော်မူခဲ့သည့်အားလျော်စွာ အသက်ပေါင်းများစွာနှင့် စည်းစိမ်ပေါင်းများစွာတို့ကို စွန့်တော်မူလျက် သတိတရား ကြီးစွာထားပြီးလျှင် အမှားမရှိအောင် ဉာဏ်ဖြင့်ရှောင်၍ ပါရမီတော်များကို ဖြည့်ကာဖြည့်ကာ ကောင်းစွာကြွတော်မူခဲ့ပါသည်။ → 2. Sugato-guṇdaw: Để thực hiện lời nguyện đó, Ngài đã từ bỏ vô số sinh mạng và tài sản, luôn giữ chánh niệm vững vàng, dùng trí tuệ tránh mọi sai lầm, và không ngừng vun bồi các pháp ba-la-mật để tiến bước một cách tốt đẹp. ၃။ ဝိဇ္ဇာစရဏသမန္နဂုဏ်တော်။ ။ထိုကဲ့သို့ ပါရမီဖြည့်၍ ဘုရားဖြစ်တော်မူမည့်ဘဝ၌ သီလစောင့်ခြင်း၊ ဣန္ဒြေစောင့်စည်းခြင်းစသော ကိုယ်ကျင့်တရား စရဏ ၁၅-ပါးနှင့် ပြည့်စုံတော်မူရကား ဘုရားမဖြစ်မီ ကဆုန်လပြည့် ညဦးယံဝယ် ရှေးဖြစ်ဟောင်းကို → 3. Vijjācaraṇasampanno-guṇdaw: Nhờ vun bồi ba-la-mật và đầy đủ 15 hạnh kiểm (Caraṇa) như giữ giới, thúc liễm lục căn trong kiếp cuối cùng, nên vào đêm rằm tháng Vesak trước khi thành đạo, Ngài đã đạt được Túc mạng trí (Pubbenivāsānussatiñāṇa) vào canh đầu, TRANG 92 အောက်မေ့နိုင်သော ပုဗ္ဗေနိဝါသနုဿတိဉာဏ်တော်၊ သန်းခေါင်ယံဝယ် နတ်ဗြဟ္မာလောကရှိ သတ္တဝါများနှင့် ငရဲ ပြိတ္တာ သတ္တဝါဟူသမျှကို မြင်နိုင်သော ဒိဗ္ဗစက္ခုဉာဏ်တော်၊ မိုးသောက်ယံဝယ် ကိုယ်တော်၏သန္တာန်၌ ကိလေသာဓာတ်ခိုး ဓာတ်ငွေ့များ လုံးဝခြောက်ခန်းစေနိုင်သော “အာသဝက္ခယ”ခေါ် အရဟတ္တမဂ်ဉာဏ်တော်ဟူသော ဉာဏ်တော်ကြီးများ အဆင့်ဆင့် ပေါ်ပေါက်လာပါသည်။ → có khả năng nhớ lại các tiền kiếp; đạt Thiên nhãn trí (Dibba-cakkhuñāṇa) vào canh giữa để nhìn thấy chúng sinh khắp các cõi Trời, Phạm thiên cũng như địa ngục, ngạ quỷ; và vào lúc bình minh, Ngài đạt được Lậu tận trí (Āsavakkhayañāṇa) tức trí tuệ của A-la-hán đạo giúp tận diệt hoàn toàn mọi hơi hám phiền não. ၄။ အရဟံဂုဏ်တော်။ ။ထိုဉာဏ်တော်များကြောင့် ဘုရားရှင်၏ စိတ်တော်အစဉ်သည် ကိလေသာအနောက်အကျုမှ ကင်းစင်သဖြင့် အမြဲကြည်လင်တော်မူပါသည်။ → 4. Arahaṃ-guṇdaw: Nhờ những trí tuệ ấy, dòng tâm thức của Đức Thế Tôn luôn thanh tịnh và trong sáng vì đã gột rửa sạch mọi cặn bã của phiền não. ၅။ သမ္မာသမ္ဗုဒ္ဓဂုဏ်တော်။ ။ထိုကဲ့သို့ ကြည်လင်သော စိတ်တော်အစဉ်ဝယ် တွဲယှဉ်၍ မကြာမကြာ ဖြစ်ပေါ်လာသော ဉာဏ်တော်ကား သိဖွယ်ဟူသမျှကို တစ်စွန်းတစ်စမျှ မကျန်အောင် လုံးဝကုန်စင် သိမြင်တော်မူနိုင်ပါသည်။ → 5. Sammāsambuddho-guṇdaw: Với dòng tâm thanh tịnh ấy, trí tuệ thường xuyên hiện khởi của Ngài có thể thấu thị hoàn toàn mọi điều cần biết mà không sót lại dù chỉ một mảy may. ၆။ လောကဝိဒူဂုဏ်တော်။ ။ထိုကဲ့သို့ ကြီးကျယ်သော ဉာဏ်တော်ကြီးက စိတ်တော်အစဉ်ဝယ် တွဲယှဉ်၍ မကြာမကြာ ပါဝင်သောကြောင့် ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည် ကမ္ဘာလောကဓာတ် အရပ်ရပ်ကိုလည်းကောင်း၊ သတ္တဝါအနန္တကိုလည်းကောင်း၊ ရုပ်နာမ်ဓမ္မသင်္ခါရလောကကိုလည်းကောင်း သိမြင်တော်မူပါသည်။ → 6. Lokavidū-guṇdaw: Vì có đại trí tuệ ấy luôn hiện hữu trong tâm, nên Đức Thế Tôn thấu hiểu rõ ràng về thế giới luân hồi, vô lượng chúng sinh cũng như thế giới của các hành danh sắc. TRANG 93 ၇။ အနုတ္တရောပုရိသဒမ္မသာရထိဂုဏ်တော်။ ။သတ္တလောက (သတ္တဝါဟူသမျှ၏) လိုအင်ဆန္ဒနှင့် သတ္တိ ပညာ စသော ဣန္ဒြေတို့၏ အနုအဆင့်ကို နှိုင်းချင့်ခွဲခြမ်း သိစွမ်းတော်မူရကား ထိုသတ္တဝါအများ၏ အလိုကျအောင် သင့်လျော်သော တရားတော်ကို ဟောပြောပြသ ဆုံးမတော်မူနိုင်ပါသည်။ → 7. Anuttaro purisadammasārathī-guṇdaw: Vì thấu hiểu và phân tích được trình độ căn cơ (Indriya) như ước muốn, năng lực và trí tuệ của chúng sinh, nên Ngài có thể thuyết giảng và giáo hóa những bài Pháp phù hợp để đáp ứng nguyện vọng của đông đảo chúng sinh ấy. ၈။ သတ္ထာဒေဝမနုဿာနံဂုဏ်တော်။ ။ထိုကဲ့သို့ မိမိတို့ အလိုလိုက်၍ အကြိုက်ကျအောင် ဟောပြောဆုံးမတော်မူသော ဘုရားရှင်ကို ဆရာမတင်လျှင် ဘယ်လိုပုဂ္ဂိုလ်မျိုးကို ဆရာတင်တော့မည်နည်း၊ ဘုရားရှင်သည်သာ မိမိတို့၏ ဆရာစင်စစ် ဖြစ်တော်မူပေသည်။ → 8. Satthā devamanussānaṃ-guṇdaw: Nếu không tôn kính Đức Thế Tôn - bậc giáo hóa đúng theo nguyện vọng và lợi ích của mình - làm thầy, thì còn ai xứng đáng hơn nữa? Chỉ có Đức Thế Tôn mới chính là bậc Thầy thực thụ của chúng ta. ၉။ ဘဂဝါဂုဏ်တော်။ ။ထိုကဲ့သို့ လူရော နတ်ပါဗြဟ္မာပါ အရပ်ရပ်ဆုံးမ၍ ယဉ်ကျေးကြသော သတ္တဝါတို့၏ တစ်ပါးတည်းသောဖြစ်သော ဆရာသခင် ဘုရားရှင်၏ ဘုန်းတော်၊ ဉာဏ်တော်၊ ကျက်သရေတော်၊ တန်ခိုးကြီးမားပုံကို အာရုံပြု၍ ကုန်နိုင်ဖွယ် မရှိတော့ပြီတကား။ → 9. Bhagavā-guṇdaw: Thật không thể nào kể xiết khi hướng tâm vào phước đức, trí tuệ, vẻ trang nghiêm và thần lực vĩ đại của Đức Thế Tôn - vị Thầy duy nhất của chúng sinh khắp các cõi người, Trời và Phạm thiên đã được Ngài giáo hóa thành bậc hiền thiện. အားတက်ဖွယ်။ ။ထိုမျှလောက် ထူးခြားသော ဘုရားရှင်ကို ကိုးကွယ်ဆည်းကပ်မိကြသည်မှာ မိမိတို့ ရှေးကံကောင်းလှပေပြီ။ → Điều đáng khích lệ: Việc chúng ta được quy y và nương tựa vào một bậc Thế Tôn phi thường như vậy chính là nhờ phước báu tốt đẹp từ tiền kiếp của chính mình. ထိုဘုရားရှင်၏ ဂုဏ်တော်များကို အာရုံပြုနေရ၊ အောက်မေ့နေရသည်မှာ စိတ်ဓာတ် ချမ်းသာလှပေ၏။ → Việc luôn hướng tâm và hằng niệm tưởng về các ân đức của Đức Thế Tôn ấy mang lại sự an lạc to lớn cho tâm hồn. ဘုရားရှင်ကို ရည်မှန်းလျက် လှူဒါန်းပူဇော်နေရသည်မှာ အကျိုးကြီးမားလှပေ၏။ → Việc hướng về Đức Thế Tôn để bố thí và cúng bàng mang lại quả báu vô cùng vĩ đại. TRANG 94 ဂုဏ်တော်များကို အာရုံပြုလိုက်ရလျှင် မိမိသန္တာန်မှာ ကိလေသာ အနှောင့်အယှက်ကို ကင်းဝေးစေလျက် ကုသိုလ်စိတ်တွေ များလှသောကြောင့် အထပ်ထပ် အာရုံပြုနေပါမူ ကိလေသာတွေ နည်းပါးသည်ထက် နည်းပါးပေလိမ့်မည်။ → Khi hướng tâm vào các ân đức Phật, tâm ta sẽ tránh xa được sự quấy nhiễu của phiền não và phát khởi nhiều tâm thiện; nếu hằng niệm tưởng như vậy, phiền não sẽ ngày càng giảm bớt. လုံးဝလွတ်လပ်ခွင့် မရသေးသော အိမ်ရှင်တို့ကား အလုပ်ကိစ္စ အားလပ်တိုင်းမှာပင် သန့်ရှင်းသော အဝတ်ကို ဝတ်ဆင်ပြီးလျှင် ဘုရားရှေ့တော်မှာဖြစ်စေ၊ သို့မဟုတ် ဆိတ်ငြိမ်သော အိမ်ခန်းမှာဖြစ်စေ ငြိမ်သက်စွာနေလျက် ဘုရားဂုဏ်တော်များကို အထပ်ထပ် အာရုံပြုကြပါလေ။ → Những người tại gia chưa hoàn toàn tự do (về thời gian), mỗi khi rảnh việc hãy mặc y phục sạch sẽ, ngồi yên tĩnh trước bàn thờ Phật hoặc trong phòng riêng để hằng niệm tưởng về các ân đức Phật. အာရုံမပြုတတ်သေးပါလျှင် အားလပ်ခွင့်ရချိန်မှာ ဤဂုဏ်တော် ၉-ပါးလုံး ဆက်သွယ်၍ အာရုံပြုနည်းကို ကြည့်ရှုရွတ်ဖတ်နေကြပါကုန်။ → Nếu chưa biết cách hướng tâm, vào lúc rảnh rỗi hãy xem và tụng đọc cách thức liên kết chín ân đức Phật này. လူမှုရေးကိစ္စ များပြားလှ၍ အချိန်မရလျှင်လည်း ဂုဏ်တော် တစ်ပါးပါးကို စိတ်ထဲမှာစွဲ၍ အလုပ်လုပ်ရင်း အာရုံပြုနေပါလျှင် လောကသံသရာ နှစ်ဖြာသော အကျိုးများကို ရနိုင်ပါသည်။ → Dù bận rộn việc đời mà không có thời gian, nếu vừa làm việc vừa giữ một ân đức nào đó trong tâm để quán tưởng, ta vẫn có thể đạt được lợi ích ở cả đời này và trong vòng luân hồi. ဂုဏ်တော်ကို အာရုံပြု၍ အကျိုးရသော မိဖုရား စောလုံ ဝတ္ထု။ → Câu chuyện về hoàng hậu Saw Lon, người đạt được lợi ích nhờ hướng tâm vào ân đức Phật. ပုဂံပြည် “နရသီဟပတေ့”မင်း၏ “စောလုံ”မည်သော မိဖုရားသည် အပြစ်ကင်း၍ ကောင်းခြင်းအင်္ဂါလက္ခဏာ အသွင်အပြင်နှင့် ပြည့်စုံသောကြောင့် မိဖုရားအများတွင် ဘုရင်အမြတ်နိုးဆုံး မိဖုရားတစ်ဦးပေတည်း။ → Hoàng hậu tên Saw Lon của vua Narathihapate xứ Bagan là người không lỗi lầm, có dung mạo và tướng cát tường hoàn hảo, nên là vị hoàng hậu được đức vua sủng ái nhất. ထိုမင်းသည် နွေလအခါဝယ် ဧရာဝတီမြစ်ကမ်းတွင် စံနန်းတော်တည်၍ မောင်းမမိဿံ အခြွေအရံများနှင့် အတူ ရေကစားတော်မူမြဲ ဖြစ်၏။ → Vào mùa hè, đức vua thường dựng cung điện tạm bên bờ sông Ayeyarwady để cùng các cung phi và thị tùng vui chơi dưới nước. TRANG 95 အခါတစ်ပါးဝယ် မိဖုရားစောလုံကို ကျီစယ်လိုသဖြင့် မျက်နှာဆံပင်မကျန် တစ်ကိုယ်လုံး ရွဲရွဲစိုအောင် ရေဖြင့်ပက်စေတော်မူသည်။ → Có một lần, vì muốn trêu chọc hoàng hậu Saw Lon, đức vua đã ra lệnh tạt nước khiến bà ướt sũng từ đầu đến chân, không còn sợi tóc nào khô. စောလုံမိဖုရားလည်း ကျီစယ်သည်ကို အပြစ်ဟု ထင်မှား၍ ရန်ငြိုးထားပြီးလျှင် “မိန်းမတို့ဓမ္မတာ သာမန်အပြစ်မျိုးဖြင့် အပြိုးကြီးတက်သည်” အားလျော်စွာ အနာကြီး နာသောကြောင့် စားတော်ပွဲတွင် အဆိပ်ခတ်၍ ဆက်သစေလေသည်။ → Hoàng hậu Saw Lon vì hiểu lầm sự trêu chọc đó là một xúc phạm và khởi tâm oán hận, đúng như câu "tâm tính nữ nhi thường chấp nhặt chuyện nhỏ", bà đã sinh lòng thù ghét sâu đậm và cho bỏ thuốc độc vào mâm cơm dâng vua. ဘုရင်မင်းလည်း ပွဲတော်မတည်သေးဘဲ ခွေးကို ကျွေးစေရာတွင် တစ်ခဏချင်း ခွေးသေသည်ကိုမြင်၍ ပွဲတော်ဆက်သူကို စစ်ဆေးသောအခါ မိဖုရားစောလုံ အပေါ်ကျရောက်၏။ → Đức vua chưa dùng bữa mà đem cho chó ăn thử, thấy con chó chết ngay lập tức nên khi thẩm vấn người dâng cơm, sự việc đã lộ ra là do hoàng hậu Saw Lon. မိဖုရားကို စစ်ဆေးပြန်ရာ “မိမိကို တစ်ကိုယ်လုံးစိုအောင် ရေပက်စေလျက် အရှက်ခွဲသောကြောင့် မကျေနပ်သည့်အတွက် အသက်ကို လုပ်ကြံကြောင်း”ဟု ပြတ်တောင်းတောင်း ခပ်မာမာနှင့် သံတော်ဦးတင်သဖြင့် မင်းတို့ မျက်စောင်း အကြောင်းမရွေးတတ်သည့်အတိုင်း ဆိုင်းငံ့စဉ်းစားခြင်း မရှိ၊ → Khi thẩm vấn hoàng hậu, bà đã thâu trình một cách cứng cỏi và nhát gừng rằng: "Vì vua cho tạt nước ướt cả người làm nhục thần thiếp nên thiếp không phục mà mưu hại mạng vua"; do uy quyền của bậc quân vương vốn không nể tình, vua đã chẳng hề đắn đo suy xét, အမြတ်နိုးဆုံး မိဖုရားကိုပင် ထောက်ထားတော်မမူဘဲ ပန်းပဲသမားကိုခေါ်၍ သံကျပ်စင် (ကျပ်ခိုးစင်)ကို လုပ်စေပြီးလျှင် “မီးရဲရဲတောက်သော ကျပ်စင်ပေါ်တင်၍ သတ်စေ”ဟု အမိန့်ချမှတ်သတည်း။ → dù là vị hoàng hậu sủng ái nhất vua cũng không nương tay, bèn gọi thợ rèn làm một cái giàn sắt và ra lệnh: "Hãy đặt lên giàn hỏa đang cháy đỏ rực mà thiêu chết". မိဖုရားလည်း ပန်းပဲသမားကို ရွှေငွေများစွာပေး၍ ခုနစ်ရက်ကြာအောင် ကျပ်စင်ကို ပြုလုပ်စေပြီးလျှင် တရားနာ၍ နေ့ရော ညဉ့်ပါ သီလကိုဆောက်တည်လျက် ၇-ရက်ပတ်လုံး ဘုရားဂုဏ်တော်၊ တရားဂုဏ်တော်၊ သံဃာဂုဏ်တော်များကို ရွတ်ဖတ် အာရုံပြုနေလေသည်။ → Hoàng hậu đã đưa nhiều vàng bạc cho thợ rèn để kéo dài việc làm giàn sắt trong bảy ngày; trong thời gian đó, bà nghe pháp, giữ giới cả ngày lẫn đêm và suốt 7 ngày luôn tụng niệm, hướng tâm vào các ân đức Phật, Pháp, Tăng. TRANG 96 ၇-ရက်စေ့သောအခါ ရဲရဲညီးသော သံကျပ်စင်ထက်သို့ မကြောက်မရွံ့တက်လေရာ အလွန်အေးမြ မွှေးကြိုင်လှသော ဂေါသီတစန္ဒနနံ့သာကို ထည့်ခတ်လိုက်သလို တစ်ခါတည်း မီးငြိမ်း၍ သွားလေသည်။ → Khi đủ 7 ngày, bà bước lên giàn sắt đang cháy đỏ rực một cách không sợ hãi, thì bỗng nhiên lửa tắt lịm ngay lập tức như thể vừa được rắc vào loại hương trầm Gośīta-candana cực kỳ mát mẻ và thơm ngát. ဤနည်းအတိုင်း ရတနာသုံးပါး၏ ဂုဏ်တော်များကို အာရုံပြုနေမှုကြောင့် သုံးကြိမ်တိုင်အောင် ထပ်ကာထပ်ကာ မီးငြိမ်းပြီးနောက် “ချမ်းသာခွင့် ရမည်မဟုတ်လျှင် တစ်ခဏချင်း လောင်ကျွမ်းစေတော့”ဟု စိတ်ကိုလျှော့ချ ဓိဋ္ဌာန်သည့်အခါကျမှ တစ်ခဏချင်း ကွယ်ပျောက်ရရှာလေသည်။ → Theo cách này, nhờ hướng tâm vào các ân đức của Tam Bảo mà lửa đã tắt đi lặp lại đến ba lần; chỉ đến khi bà buông xuôi và phát nguyện rằng "Nếu không được tha mạng thì hãy để thiêu cháy ngay lập tức", thì bà mới ra đi trong khoảnh khắc. မိဖုရားမရှိသည့်နောက် ဘုရင်လည်း စက်တော်ခေါ်ရာ၌ ကယောင်ကတမ်း ဖြစ်ပြီးလျှင် မိဖုရားကို တမ်းတ၍ နေရရှာလေသတည်း။ [ဤဝတ္ထု၌ ရာဇဝင်ဆရာတို့ ယူပုံနှင့် အနည်းငယ်ကွဲလွဲ၏။ တွေ့ဖူးသော စာအတိုင်း ရေးသားလိုက်သည်။] → Sau khi hoàng hậu mất, đức vua khi ngủ thường hay nói sảng và luôn sống trong cảnh thương nhớ bà. [Trong câu chuyện này, cách hiểu có hơi khác với các sử gia; tôi viết theo đúng tài liệu đã từng thấy]. အထူးသတိပေးချက်။ ။ဤပြဆိုခဲ့ပြီးသော စကားအစဉ်ဖြင့် ဘုရားရှင်နှင့်စပ်၍ တစ်သိန်းနားလည်ထိုက်သော အချက်များကို အထိုက်အလျောက် နားလည်လောက်ပေပြီ။ → Lưu ý đặc biệt: Qua những lời dẫn giải trên, quý vị đã có thể hiểu được phần nào những điểm cần thiết liên quan đến Đức Thế Tôn. ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့သည် သက်တော်ထင်ရှား ဘုရားရှင်ကို ရည်မှန်းလျက် ဆွမ်း၊ ရေချမ်း၊ ပန်း၊ ဆီမီး၊ နံ့သာတိုင် စသည်တို့ကို ပူဇော်လေ့ရှိကြ၏။ → Các tín đồ Phật giáo thường có thói quen dâng cúng vật thực (hương, hoa, đăng, trà, quả) để tưởng nhớ đến Đức Thế Tôn khi Ngài còn tại thế. ထိုသို့ ပူဇော်ရာ၌ ဝတ်ကျေတန်းကျေ အိမ်နီးချင်း ရှိသေရုံသဘောထားဘဲ ရုပ်ပုံတော်၊ စေတီတော်ကို ပူဇော်သောအခါ ဘုရားကျောင်းတော်ကိုသွား၍ သက်တော်ထင်ရှား ရှင်တော်ဘုရားအား လှူဒါန်းပူဇော်ရသကဲ့သို့ စိတ်ထဲ၌ ထင်ယောင်မြင်ယောင် ဖြစ်လာအောင် ပူဇော်ရာ၏။ → Khi cúng bàng như vậy, đừng làm theo kiểu chiếu lệ hay cho xong chuyện, mà khi lễ bái tượng Phật hay bảo tháp, hãy dâng cúng với tâm niệm như thể đang đi đến tinh xá để dâng cúng tận tay Đức Thế Tôn khi Ngài còn tại thế. TRANG 97 ထိုသို့ ပူဇော်ရာဝယ် ဆွမ်းကို နေ့လွဲသောအခါ ပူဇော်လျှင် အပြစ်တင်လေ့ရှိသကဲ့သို့ ထို့အတူ မှောင်သောအခါ မှောင်သောနေရာမဟုတ်ဘဲ “နေ့လယ်ကြောင်တောင်အခါ ဆီမီးပူဇော်မှုကို ပြုသင့်သည်”ဟု မထင်ပေ။ → Trong việc dâng cúng đó, cũng giống như việc dâng cơm vào sau giờ ngọ thường bị chê trách, người ta cũng không nghĩ rằng "nên dâng cúng đèn vào lúc giữa trưa" trừ khi đó là nơi tối tăm. ထို့ပြင် ရုပ်ပွားတော်တည်ရာ ဂူလိုဏ်၊ အာရုံခံတန်ဆောင်း၊ စေတီရင်ပြင်တော် စသည်၌ ဖယောင်းစက်တွေ ဗလပွေကျအောင် ပူဇော်မှု၊ ပန်းတွေကို ဖရိုဖရဲ ပစ်ထားခဲ့မှု၊ ရေတွေ ပုပ်နှံအောင် ရက်ရှည်လများထားမှုကို ယခုအခါ တန်ခိုးကြီးသော ဘုရားတိုင်းမှာလိုပင် တွေ့မြင်ရ၏။ → Ngoài ra, tại các hang động đặt tượng Phật, các sảnh đường hay sân bảo tháp, hiện nay tại hầu hết các ngôi chùa lớn đều thấy cảnh dâng cúng làm nến chảy đầy rẫy, hoa vứt bừa bãi, hay nước cúng để lâu ngày đến mức hôi thối. ထိုအမှုများကို မိမိတို့ အိမ်မှာပြုလျှင် ကျေနပ်နိုင်ကြမည် မဟုတ်ပါဘဲလျက် ဘယ်အတွက် ဘုရားနှင့်စပ်သော အဆောက်အဦမှာ ပြုရဲကြ၊ ပြုရက်ကြပါလိမ့်မည်နည်း။ → Những việc như vậy nếu làm tại nhà mình thì chắc chắn quý vị không thể hài lòng, vậy tại sao lại dám làm, lại nỡ làm ở những nơi công trình liên quan đến Đức Phật? ထို့ကြောင့် ပန်း၊ ဆီမီး စသည်ကို ပူဇော်ရာ၌ မိမိတို့၏ ပစ္စည်းဝတ္ထုအတွက် ဘုရားနှင့်စပ်သော အဆောက်အဦ၌ မညစ်မပေစေဘဲ ဖူးမြင်သူ လူအများတို့ သဒ္ဓါတိုးပွားအောင် သားနား သပ်ရပ်စွာ ပူဇော်ကြမှသာ နောင်သံသရာ၌ အကျိုးပေး စင်ကြယ်နိုင်ပါသည်။ → Vì vậy, khi dâng hoa, đăng, v.v., quý vị phải dâng cúng một cách gọn gàng, sạch sẽ để vật phẩm của mình không làm bẩn các công trình của chùa, giúp cho những người đến chiêm bái tăng trưởng thêm đức tin; có như vậy thì quả báu ở đời sau mới được thanh tịnh. ထို့ပြင် ဘုရားနှင့်စပ်သော အဆောက်အဦများ၌လည်း ခမ်းနားသပ်ရပ်သော ဝတ္ထုတစ်ပါးပါး တိုးလီမိုးလော မလှပသော ပစ္စည်းဝတ္ထု မရှိမှသာ ပို၍ ကျက်သရေရှိရာသောကြောင့် တစ်ယောက်တည်း မတတ်နိုင်လျှင် လူအများစုပေါင်း၍ ကြီးကျယ်ခမ်းနားသော ဘုရား၊ → Hơn nữa, tại các nơi liên quan đến Đức Phật, nếu chỉ có những vật dụng trang nghiêm và không có những thứ bừa bãi, không đẹp mắt thì sẽ càng thêm phần uy nghi; do đó nếu một người không làm nổi thì nhiều người nên cùng nhau đóng góp để có những vật phẩm dâng cúng vĩ đại và trang nghiêm. TRANG 98 ကျောင်း၊ စေတီတော် စသည်များကိုသာ တည်ထားကိုးကွယ်ခြင်း၊ → Chỉ xây dựng và thờ phụng các công trình như chùa chiền, bảo tháp; ကြည်ညိုဖွယ်မဖြစ်လောက်အောင် ပျက်စီးယိုယွင်းနေသော ဘုရား၊ ကျောင်း စသည်များကို စုပေါင်းပြုပြင်ခြင်း၊ → Cùng nhau tu sửa những ngôi chùa, tượng Phật đã hư hỏng đến mức không còn vẻ trang nghiêm; ရှိပြီးနေရာများ၌ နောက်ထပ် တည်ထားမည့်အစား မရှိသေးသော နေရာဝယ် တည်ထားကိုးကွယ်ခြင်း စသည်တို့ဖြင့် အရှည်ကို မြင်မြော်၍ ပူဇော်ကိုးကွယ်သင့်ကြသည်။ → Thay vì xây thêm ở những nơi đã có sẵn, nên xây dựng ở những nơi chưa có để thờ phụng; cần phải có tầm nhìn xa khi thực hiện việc cúng dường và quy y như vậy. အမှာ။ ။ယခုအခါ တစ်ချို့ ကိုးကွယ်ပုံမှာ မိမိအတွက် ကုသိုလ်ရမှု တစ်ခုကိုသာ ရည်ရွယ်ဟန်တူ၏။ → Lời nhắn nhủ: Hiện nay, cách quy y của một số người dường như chỉ nhằm mục đích đạt được công đức cho riêng mình. ဘာသာ၊ သာသနာ အသရေရှိမှုကို ရည်ရွယ်ဟန်မတူ။ → Có vẻ như họ không hướng đến việc làm rạng danh cho đạo giáo và giáo pháp. ထို့ကြောင့် ထိုသူ၏ အလှူဝတ္ထု ပူဇော်ကိုးကွယ်မှုအတွက် အမျိုး၊ ဘာသာ၊ သာသနာမှာ ဂုဏ်မတက်ဘဲ ဂုဏ်ပျက်ရလေသည်။ → Chính vì vậy, việc cúng dường và quy y của những người đó không những không làm tăng thêm uy tín mà còn làm tổn hại đến danh tiếng của dân tộc, đạo giáo và giáo pháp. ယခုခေတ်သည် သူတစ်ပါးအလုပ်ကို ဝေဖန်ကြသော ခေတ်ဖြစ်၏။ → Thời đại ngày nay là thời đại mà người ta hay phê bình công việc của người khác. ထို့ကြောင့် ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့သည် မိမိတို့၏ ရှင်ပြု၊ ရဟန်းခံ၊ ဘုန်းကြီးပျံ စသော အလုပ်တို့၌ သူတစ်ပါး၏ ဝေဖန်ခံနိုင်အောင် ပြုပြင်ကြဖို့ရန် တိုက်တွန်းပါသည်။ → Do đó, tôi khuyến khích các tín đồ Phật giáo nên sửa đổi và thực hiện các nghi lễ như lễ xuất gia (Shinpyu), lễ thụ giới tỳ-kheo, hay lễ tang của các vị sư sao cho có thể chịu được sự phê bình (xứng đáng với sự tôn trọng) của người khác. TRANG 99 တရားဂုဏ်တော်ဖွင့် → Giải thích các Ân đức Pháp (ကျက်မှတ်ရန် ပါဠိတော်) → (Kinh văn Pali cần ghi nhớ) သွာက္ခာတော ဘဂဝတာ ဓမ္မော၊ → Svākkhāto bhagavatā dhammo, သန္ဒိဋ္ဌိကော၊ အကာလိကော၊ → Sandiṭṭhiko, akāliko, ဧဟိပဿိကော၊ ဩပနေယျိကော၊ → Ehipassiko, opaneyyiko, ပစ္စတ္တံ ဝေဒိတဗ္ဗော ဝိညူဟိ။ → Paccattaṃ veditabbo viññūhi. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem ဘဂဝတာ ဓမ္မော-ကား ဂုဏ်တော်ကိုပြသော ပါဠိမဟုတ်၊ “ဘုရားဟောအပ်သော တရား” ဟု တရားနာမည်တော်ကို ပြသော စကားတည်း။ → Cụm từ "Bhagavatā dhammo" không phải là đoạn Pali chỉ ân đức, mà là lời chỉ tên gọi của Pháp: "Pháp do Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng". ထို့ပြင် “တရား” ဟူသော အသုံးအနှုန်းလည်း ပို့ဆောင်ခြင်းအနက်ကိုဟောသော “ဓရ” ဟူသော ပါဠိမှ ကူးပြောင်းခဲ့ဟန် တူသောကြောင့် “တရား” ဟု မရေးဘဲ “ဓရား” ဟု ရေးလျှင် သာ၍ ကောင်းမြတ်ဖွယ်ရှိ၏ဟု ယူဆကြသည်။ → Ngoài ra, từ "Taya" (Pháp/đạo) trong tiếng Miến có lẽ được chuyển biến từ gốc Pali "Dhara" mang nghĩa là "sự dẫn dắt/nâng đỡ", nên có người cho rằng nếu không viết là "Taya" mà viết là "Dharas" thì sẽ có vẻ cao quý và đúng đắn hơn. တရားဂုဏ်တော် ၆-ပါး: → Sáu Ân đức Pháp: ၁။ သွာက္ခာတ ဂုဏ်တော် → 1. Ân đức Svākkhāto ၂။ သန္ဒိဋ္ဌိက ဂုဏ်တော် → 2. Ân đức Sandiṭṭhiko ၃။ အကာလိက ဂုဏ်တော် → 3. Ân đức Akāliko ၄။ ဧဟိပဿိက ဂုဏ်တော် → 4. Ân đức Ehipassiko ၅။ ဩပနေယျိက ဂုဏ်တော် → 5. Ân đức Opaneyyiko ၆။ ပစ္စတ္တံ ဝေဒိတဗ္ဗ ဝိညူဟိ ဂုဏ်တော် → 6. Ân đức Paccattaṃ veditabbo viññūhi TRANG 100 သွာက္ခာတ ဂုဏ်တော်ဖွင့် → Giải thích Ân đức Svākkhāto (ကျက်မှတ်ရန်) → (Cần ghi nhớ) ဘဂဝတာ-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရားသည်။ ဓမ္မော-မဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန်၊ ဓမ္မက္ခန်ဟု၊ ဆယ်တန်သော တရားတော်မြတ်ကို။ သွာက္ခာတော-ကြားနာရုံပင်၊ အပူစင်၍၊ ကျင့်လျှင်ချမ်းသာ၊ ကျင့်ပြီးခါလည်း၊ လွန်စွာငြိမ်းချမ်း၊ နိဗ္ဗာန်နန်းနှင့်၊ စခန်းသင့်အောင်၊ မှန်းလင့်ရည်ရော်၊ ကောင်းစွာ ဟောတော်မူအပ်ပါပေ၏။ → Bhagavatā - Đức Thế Tôn bậc chủ tể của phước lành vĩ đại. Dhammo - mười loại Pháp cao thượng gồm Đạo, Quả, Niết-bàn và Pháp tạng. Svākkhāto - Ngài đã khéo thuyết giảng sao cho chỉ cần nghe thôi cũng tịnh hóa được phiền não, nếu thực hành thì được an lạc, sau khi thực hành thì được vô cùng tịch tịnh, hướng về cung điện Niết-bàn đúng như mục đích đã định. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem သွာက္ခာတဂုဏ်တော်သည် “ကောင်းမွန်စွာ ဟောတော်မူအပ်” ဟူသော အနက်ကို ပြ၏။ [သု+အက္ခာတ၊ သု-ကောင်းစွာ၊ အက္ခာတ-ဟောအပ်သည်။] → Ân đức Svākkhāto mang nghĩa là "được thuyết giảng một cách tốt đẹp/khéo léo". [Su + Akkhāta; Su: tốt đẹp, Akkhāta: được thuyết giảng]. မဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန်၊ ဓမ္မက္ခန်။ ။ မဂ် ၄-ပါး၊ ဖိုလ် ၄-ပါး၊ နိဗ္ဗာန် ၁၊ ဓမ္မက္ခန္ဓာဟု ခေါ်သော ပိဋကတ် ၁ ပေါင်း ၁၀-ပါးတည်း။ → Đạo Quả Niết-bàn, Pháp tạng (Dhammakkhandha): Gồm 4 Đạo, 4 Quả, 1 Niết-bàn và 1 Tạng Kinh (Tripitaka) gọi chung là mười Pháp. မဂ် ၄-ပါး: (၁) သောတာပတ္တိမဂ် (၂) သကဒါဂါမိမဂ် (၃) အနာဂါမိမဂ် (၄) အရဟတ္တမဂ် → 4 Đạo: (1) Sotāpatti-magga, (2) Sakadāgāmi-magga, (3) Anāgāmi-magga, (4) Arahatta-magga. ဖိုလ် ၄-ပါး: (၁) သောတာပတ္တိဖိုလ် (၂) သကဒါဂါမိဖိုလ် (၃) အနာဂါမိဖိုလ် (၄) အရဟတ္တဖိုလ် → 4 Quả: (1) Sotāpatti-phala, (2) Sakadāgāmi-phala, (3) Anāgāmi-phala, (4) Arahatta-phala. ဤစကားအရ ယခုပြအပ်လတ္တံ့သော ဂုဏ်များနှင့် ပြည့်စုံသော တရားဟူသည် ဘုရားရှင်ဟောတော်မူအပ်သော ပိဋကတ် → Theo lời này, Pháp đầy đủ các ân đức sắp được trình bày chính là Tam tạng Pháp bảo do Đức Phật thuyết giảng. TRANG 101 ပါဠိတော်၊ အဋ္ဌကထာအစဉ်နှင့် မဂ်တရား၊ ဖိုလ်တရား၊ နိဗ္ဗာန်တရားများ ဖြစ်သည်ဟု မှတ်ပါ။ စာအုပ်ပေစာတို့သည် ထိုတရားတော်များကို မှတ်သားထားရာ “တရားဘဏ္ဍာတိုက်” များသာတည်း။ → Hãy ghi nhớ rằng đó là các bản kinh Pali, các tầng chú giải (Atthakatha) cùng với các pháp Đạo, Quả và Niết-bàn. Các loại sách vở, kinh sách chỉ là những "kho tàng chứa đựng Pháp" để ghi nhớ những lời dạy đó mà thôi. “ဓမ္မစေတီတော်” ဟုလည်း ခေါ်၏။ ထိုတရားတော်များကို ပို့ချသောပုဂ္ဂိုလ်များကား တရားဘဏ္ဍာတိုက်ကို စောင့်သော ဘဏ္ဍာစိုးများ ဖြစ်၏။ → Chúng cũng được gọi là "Dhamma-ceti" (Bảo tháp Pháp). Những bậc truyền dạy các giáo pháp đó chính là những vị thủ kho giữ gìn kho tàng Pháp bảo. ကြားနာရုံပင်၊ အပူစင်၍။ ။ ရှင်တော်ဘုရား၏ တရားတော်များသည် ၁-ကြားနာရခြင်းတည်းဟူသော အစ၏ကောင်းခြင်း၊ ၂-ကျင့်ကြံအားထုတ်ခြင်းတည်းဟူသော အလယ်၏ကောင်းခြင်း၊ ၃-ကျင့်ပြီးသောအခါ တရားထူးကိုရ၍ ဒုက္ခခပ်သိမ်း အေးငြိမ်းရာ နိဗ္ဗာန်ကို မြင်ခြင်းဟူသော အဆုံး၏ကောင်းခြင်းများနှင့် ပြည့်စုံရကား မကျင့်နိုင်သေးစေကာမူ ကြားနာရုံမျှဖြင့် ဟုန်းကနဲ ထနေသော ကိလေသာမီးပူကြီးများကို ငြိမ်းစေနိုင်ပါသည်။ → Chỉ cần nghe thôi cũng tịnh hóa được sự nóng nảy (phiền não): Các giáo pháp của Đức Thế Tôn đầy đủ sự tốt đẹp ở chặng đầu (được nghe pháp), sự tốt đẹp ở chặng giữa (thực hành pháp), và sự tốt đẹp ở chặng cuối (sau khi thực hành đạt được pháp đặc biệt và thấy được Niết-bàn nơi chấm dứt mọi khổ đau); do đó, dù chưa thể thực hành, chỉ mới nghe thôi cũng có thể dập tắt được những ngọn lửa phiền não đang bùng cháy hừng hực. ကိလေသာမီး ၁၀-ပါး: → Mười ngọn lửa phiền não (Kilesa): ၁။ လောဘ = လိုချင်မှုမီး။ → 1. Lobha = Ngọn lửa tham muốn. ၂။ ဒေါသ = စိတ်ဆိုးမှုမီး။ → 2. Dosa = Ngọn lửa tức giận. ၃။ မောဟ = မသိ မလိမ္မာမှုမီး။ → 3. Moha = Ngọn lửa si mê, không sáng suốt. ၄။ မာန = မာနကြီးမှုမီး။ → 4. Māna = Ngọn lửa ngạo mạn. ၅။ ဒိဋ္ဌိ = အယူမှားမှုမီး။ → 5. Diṭṭhi = Ngọn lửa tà kiến. ၆။ ဝိစိကိစ္ဆာ = ဘုရား တရား သံဃာ ကံ-ကံ၏ အကျိုးများ၌ ယုံမှားမှုမီး။ → 6. Vicikicchā = Ngọn lửa hoài nghi về Phật, Pháp, Tăng và luật Nhân quả. TRANG 102 ၇။ ထိန - အိပ်ချင်အားကြီး ထိုင်းမှိုင်းမှု။ → 7. Thina: Sự buồn ngủ nhiều, sự lờ đờ uể oải. ၈။ ဥဒ္ဓစ္စ - ပျံ့လွင့်မှု မတည်ကြည်မှု။ → 8. Uddhacca: Sự phóng dật, sự không an định. ၉။ အဟိရိက - အကုသိုလ် ဒုစရိုက်မှ မရှက်မှု။ → 9. Ahirika: Sự không biết hổ thẹn trước ác hạnh bất thiện. ၁၀။ အနောတ္တပ္ပ - ဒုစရိုက်မှ မကြောက်လန့်မှု။ → 10. Anottappa: Sự không biết ghê sợ trước ác hạnh. ဤကိလေသာဆယ်ပါး မီးပူကြီးများသည် ငါတို့ ပုထုဇဉ်များ၏ သန္တာန်၌ လောင်မြန်းမသိ လောင်ကျွမ်းလျက်ရှိရာ → Mười ngọn lửa phiền não nóng bỏng này vẫn đang thiêu đốt âm thầm trong tâm tính của hạng phàm phu chúng ta. တစ်ခါတစ်ခါ သိသိသာသာ အပြင်းအထန် လောင်ကျွမ်းကာ "ဪ- တကယ်ပူတဲ့ မီးပါတကား" ဟု အထင်အရှား သိကြရလေသည်။ → Đôi khi chúng thiêu đốt dữ dội một cách rõ rệt khiến ta phải nhận biết rõ ràng rằng: "Ôi, quả thật là ngọn lửa nóng bỏng thay". လောဘမီး လောင်ပုံ။ ။ ဘိက္ခုနီမတစ်စု သိမ်အတွင်းသို့ ဥပုသ်ပြုသွားကြရာ → Cách ngọn lửa tham ái (Lobha) thiêu đốt: Khi một nhóm tỳ-khưu-ni đi vào trong giới đàn (Sīma) để hành lễ Uposatha. ဘိက္ခုနီမတစ်ယောက်သည် သိမ်အပေါက်၌ ထားသော လုလင်ပျို၏ ရုပ်တုကိုမြင်၍ စွဲလမ်းခင်မင်သောကြောင့် → Một tỳ-khưu-ni nhìn thấy bức tượng của một chàng trai trẻ đặt ở cửa giới đàn và vì khởi tâm luyến ái, quý mến. အများပြန်သော်လည်း မပြန်နိုင်သေးဘဲ ကြည့်ရှုကြည့်ရှုနေလေသော် အဖော်တစ်ယောက်က လာရောက်ခေါ်ငင်သောအခါ → Dù mọi người đã về nhưng vị ấy vẫn chưa thể về mà cứ mải mê ngắm nhìn, cho đến khi một người bạn đồng hành đến gọi. မတ်တတ်ရပ်လျက် အသက်မရှိတော့ဘဲ လက်ဆွဲ၍ အခေါ်တွင် ဝုန်းခနဲ လဲကျသွားလေသည်။ → Khi người bạn nắm tay gọi thì vị ấy đang đứng bỗng không còn hơi thở nữa và ngã nhào xuống ngay lập tức. ဒေါသမီးလောင်ပုံ။ ။ နတ်ပြည်၌ နတ်တို့သည် မိမိတို့၏ အခြွေအရံများနှင့် ဥယျာဉ်သို့ တပျော်တပါး သွားတတ်ကြလေရာ → Cách ngọn lửa sân hận (Dosa) thiêu đốt: Ở cõi trời, chư thiên thường cùng với tùy tùng của mình đi dạo chơi vui vẻ trong vườn uyển. အခါတစ်ပါး၌ နတ်သားတစ်ယောက်သည် အခြွေအရံများနှင့် ရထားစီး၍ ဥယျာဉ်သို့သွားနေစဉ် → Vào một lần nọ, có một vị thiên tử đang cưỡi xe cùng với các tùy tùng đi đến vườn uyển. နောက်မလှမ်းမကမ်းမှ လိုက်လာသော နတ်သားမြင်၍ "ရှေ့ကသွားနေသော နတ်သားသည် မဖြစ်စလောက် သူ့စည်းစိမ်ကလေးကို ဧရာမစည်းစိမ်ကြီးထင်ကာ လွန်စွာဟိတ်ကြီးလေသည်" ဟု ကဲ့ရဲ့သော အသံကို ရှေ့ကနတ်သား ကြား၍ → Vị thiên tử đi phía sau không xa nhìn thấy vậy bèn buông lời mỉa mai rằng: "Vị thiên tử đi phía trước kia chỉ có chút ít tài sản mà cứ ngỡ là tài sản vĩ đại lắm nên ra vẻ ta đây quá đỗi". TRANG 103 တစ်ယောက်တစ်ခွန်း စကားများပြီးလျှင် နတ်သမီးတို့က တောင်းပန်တုန်းမှာပင် အလွန်နုနယ်သော နတ် ၂-ယောက်၏ ခန္ဓာကိုယ်သည် → Sau khi hai bên lời qua tiếng lại, mặc dù các thiên nữ đã ra sức can ngăn, nhưng thân thể của hai vị thiên tử vốn rất tinh tế ấy. ဒေါသမီးအရှိန်ကြောင့် ဇီဝိန္ဒြေပျောက် ဆုံးခန်းရောက်ကြရှာလေသည်။ → Do sức nóng của ngọn lửa sân hận mà mạng căn (Jīvitindriya) bị tiêu tan và phải đi đến chỗ chết. အမှား။ ။ ဝမ်းနည်းမှု-သောကမီး၊ ငိုကြွေးမှု-ပရိဒေဝမီး၊ ကိုယ်ဆင်းရဲမှု-ဒုက္ခမီး၊ စိတ်ဆင်းရဲမှု-ဒေါမနဿမီး၊ → Sai lầm: Ngọn lửa sầu (Soka) - sự buồn rầu, lửa bi (Parideva) - sự khóc lóc, lửa khổ (Dukkha) - sự đau đớn thân, lửa ưu (Domanassa) - sự khó chịu tâm. ရှိုက်ကာ ငင်ကာ ပြင်းစွာ ပူပန်မှု-ဥပါယာသမီးလည်း ဤဒေါသမီး၌ ပါဝင်လေပြီ။ → Cả ngọn lửa não (Upāyāsa) - sự oán than đau đớn mãnh liệt, cũng đều bao gồm trong ngọn lửa sân hận này. ယခု လူပြည်၌လည်း တစ်စုံတစ်ခု ပျက်စီးခြင်းကြောင့် သောက၊ ပရိဒေဝဟူသော ဒေါသမီးများလောင်လျက် စိတ်ကောက်ကောက်တက်ဖြစ်ကာ → Hiện nay ở cõi người, do sự hư hỏng mất mát của một thứ gì đó, các ngọn lửa sân hận như sầu, bi thiêu đốt làm cho tâm trí bấn loạn. မစားနိုင်မသောက်နိုင် တမှိုင်မှိုင်နေပြီးလျှင် အဆုံး၌ ဘဝတုံးသူတွေ အများပင်ရှိလေသည်။ → Có rất nhiều người không ăn không uống được, cứ ủ rũ rầu lòng và cuối cùng là kết thúc cuộc đời mình. ဤကိလေသာမီးပူကို တရားတော်ကာ ကြားနာရုံမျှဖြင့် အေးငြိမ်းအောင် ငြိမ်းနိုင်ပါသည်။ → Ngọn lửa phiền não nóng bỏng này có thể được dập tắt cho êm dịu chỉ bằng việc lắng nghe chánh pháp. ဤကား တရားတော်၏ "ကြားနာမှု" ဟူသော အစ၏ကောင်းခြင်းတည်း။ → Đây chính là "Sự nghe pháp", là cái tốt đẹp ở chặng đầu của Giáo pháp. ကျင့်လျှင်ချမ်းသာ။ ။ များစွာသော လူအပေါင်းက "ဘုရား၏တရားတော်လာသည့်အတိုင်း စောင့်စည်းကျင့်ကြံနေရလျှင် စိတ်ကျဉ်းကျပ်၍ ဆင်းရဲလိမ့်မည်" → Thực hành thì an lạc: Nhiều người cho rằng "Nếu cứ phải giữ giới và thực hành theo đúng Giáo pháp của Đức Phật thì tâm sẽ bị gò bó và khổ sở". ဘုရားရှင်၏ အလိုတော်နှင့် ဆန့်ကျင်သော လောကီအာရုံများကို လိုက်စားနေရမှ ပျော်ရွှင်ဖွယ်ရှိသည်" ဟု ထင်မှားနေတတ်ကြသည်။ → Họ thường lầm tưởng rằng "Chỉ khi được theo đuổi các dục lạc thế gian đi ngược lại ý muốn của Đức Thế Tôn thì mới có được sự vui vẻ". ဥပမာ-ညဉ့်အခါ မီးထွန်းထားလျှင် မီးရောင်ကို ရွှေတောင်ထင်၍ ဝင်ရောက်တိုးဝှေ့သော ပိုးဖလံကောင်များနှင့် တူလှချေ၏။ → Điều này thật giống như những con thiêu thân, khi thấy ánh đèn thắp lên trong đêm tối thì ngỡ là núi vàng nên lao mình vào chấp chới. TRANG 104 စင်စစ်မှာ ထိုထင်ကြသည့်အတိုင်းမဟုတ်၊ ဘုရားရှင်အလိုတော်နှင့် ဆန့်ကျင်ဘက်ဖြစ်သော လောကီအာရုံကို လိုက်စားမှုကြောင့် → Thực tế không như họ lầm tưởng, chính vì việc theo đuổi các dục lạc thế gian trái với ý muốn của Đức Thế Tôn. ယခုဘဝမှာပင် လူချင်းမတူ သူချင်းမမျှ နယ်မထူနိုင်အောင် အောက်ကျ သွားသူတွေကို မြင်ကြရလေပြီ။ → Mà ngay trong kiếp sống này, chúng ta đã thấy nhiều người sa sút đến mức không bằng người khác, không thể ngẩng đầu lên nổi. ပါးစပ်လှရုံ ဤဘဝ၌ လူတွင်ကျယ် ဖြစ်နေစေကာမူ နောင်သံသရာဝယ် လူပါးလူလည် လုပ်၍ ရတော့မည်မဟုတ်၊ မုချဆိုးဝါးသော ဒုက္ခကြီးနှင့် တွေ့ကြရတော့မည်။ → Dù trong kiếp này có khéo miệng ra vẻ là người tài giỏi giữa đám đông, thì trong vòng luân hồi mai sau cũng không thể làm kẻ lanh lợi mãi được, chắc chắn sẽ phải đối mặt với những đại khổ cực kỳ tồi tệ. ဘုရားရှင်၏ အလိုတော်ကျအောင် တရားကို လိုက်နာကျင့်ကြံ၍ နေထိုင်ပါမူ လွန်စွာချမ်းသာပေမည်။ → Nếu biết sống, tuân thủ và thực hành theo đúng Giáo pháp để vừa lòng Đức Thế Tôn thì sẽ có được sự an lạc vô cùng. သားသမီးနှင့်တကွ တစ်အိမ်သားလုံး သူတော်ကောင်းချည်းဖြစ်လျှင် မည်မျှချမ်းသာလိမ့်မည်။ → Nếu cả gia đình cùng với con cái đều là những bậc thiện trí thức (Sappurisa) thì sẽ an lạc biết bao nhiêu. ထိုထက်အလွန် စိတ်တူသဘောတူ ပါရမီဖြည့်မှုကိုသာ လိုရင်းထားလျက် တရားဘက်လိုက်စား၍ အေးအေးဆေးဆေး နေနိုင်ကြပါလျှင် မည်မျှချမ်းသာလိမ့်မည်ကို ဆင်ခြင်တွေးဆ၍ ကြည့်ကြပါကုန်။ → Hơn thế nữa, nếu mọi người đồng tâm hiệp ý lấy việc bồi đắp Ba-la-mật (Pāramī) làm trọng tâm, hướng về Phật pháp và sống một cách an nhiên tự tại, thì hãy cùng suy xét xem sẽ đạt được sự an lạc đến dường nào. ဥဒယဘဒ္ဒဇာတ်တော်။ ။ ဘုရားရှင်နှင့် ယသောဓရာလောင်းလျာနှစ်ပါးသည် ဥဒယဘဒ္ဒမင်းသား၊ ဥဒယဘဒ္ဒမင်းသမီးဟူသော အမည်ဖြင့် "သုရုန္ဓန" ပြည်ကြီးကို အုပ်ချုပ်လျက် မင်း၊ မိဖုရား ပြုလုပ်ခဲ့ဖူးကြလေသည်။ → Tiền thân Udayabhadda: Đức Thế Tôn và tiền thân bà Yasodharā từng làm vua và hoàng hậu cai trị vương quốc "Surundhana" với danh hiệu là hoàng tử Udayabhadda và công chúa Udayabhaddā. ပါရမီဖြည့်ဘက်များဖြစ်ကြသည်အားလျော်စွာ မည်မျှကြင်နာကြမည်ကိုကား စာဖြင့်ရေးသား၍ပင် ကုန်ဖွယ်ရာမရှိ။ → Vì là những người bạn đồng hành bồi đắp Ba-la-mật, nên sự yêu thương giữa hai vị lớn lao đến mức không giấy mực nào tả xiết. သို့သော် ဖတူ မိကွဲ မောင်နှမလည်းဖြစ်ကြ၊ အသိအလိမ္မာတွင် အထွဋ်အထိပ်ရောက်သော ပါရမီရှင်လည်းဖြစ်ကြသည့်အတိုင်း မင်းမိဖုရားအဖြစ်ဖြင့် နေကြရသော်လည်း → Tuy nhiên, vì họ là anh em cùng cha khác mẹ và cũng là những bậc hữu công đức (Pāramī) đã đạt đến đỉnh cao của trí tuệ, nên dù sống trong cương vị vua và hoàng hậu. TRANG 105 လောကီလူကိုိစ္စ လူအာရုံ၌ စိတ်စက်မညွတ်ကြဘဲ နန်းဆောင်တစ်ခန်းတည်းမှာပင် ဖြူဖြူစင်စင် စံတော်မူကြသတဲ့။ → Họ không hề để tâm hướng về các dục lạc thế gian của hạng phàm phu, mà chung sống một cách hoàn toàn trong sạch ngay trong cùng một cung điện. ထိုကဲ့သို့ စံနေစဉ် နောင်ရေးနောင်တာကို တွေး၍ တစ်နေ့သ၌ "မင်း-မိဖုရား နှစ်ပါးတွင် အလျင်နတ်ရွာစံသူက ရောက်ရာဘဝမှလာ၍ ပြောကြစတမ်း" ဟု (အချင်းချင်း မခွဲလိုသောကြောင့်) ကတိစကား သစ္စာထားကြလေသည်။ → Trong khi chung sống như vậy, họ nghĩ về tương lai và một ngày nọ đã cùng nhau lập lời thệ nguyện (vì không muốn xa rời nhau) rằng: "Trong hai chúng ta, người nào băng hà trước hãy từ cõi tái sinh trở về báo tin cho người kia biết". ထိုသို့ ကတိထားပြီးနောက် ဘုရင်မင်းမြတ်က ရှေးဦးစွာ နတ်ရွာစံနှင့်၍ တာဝတိံသာနတ်ပြည်ဝယ် သိကြားမင်း ဖြစ်လေသည်။ → Sau khi lập lời thệ nguyện ấy, đức vua đã băng hà trước và sinh về cõi trời Tavatimsa (Đạo Lợi) làm Thiên chủ Sakka. ထို့နောက် အတော်ကြာမှ သတိရသဖြင့် မိဖုရားအထံသို့ လာ၍ နတ်ပြည်၌ သိကြားမင်းဖြစ်ကြောင်း၊ ကိုယ်နှုတ်စိတ်များကို စောင့်စည်း၍ စွန့်ကြဲလှူဒါန်းနေပါလျှင် အတူတကွဖြစ်ဖို့ရန်ရှိကြောင်းနှင့်တကွ သံဝေဂတရားစကားများကို ပြောဆိုဆုံးမ၏။ → Một thời gian sau, sực nhớ lại lời hứa, Ngài tìm đến chỗ hoàng hậu và giáo huấn những lời pháp động tâm (Saṃvega) rằng Ngài đã thành Thiên chủ ở cõi trời, và nếu bà biết thúc liễm thân khẩu ý, siêng năng bố thí thì sẽ có cơ hội được đoàn tụ cùng nhau. နတ်ပြည်သို့ ပြန်ကြလေသော် မိဖုရားလည်း ဆုံးမသည့်အတိုင်း လိုက်နာ၍ ကံကုန်သည့်အခါ သိကြားမင်း၏အထံတော်၌ မိဖုရားပင် ဖြစ်လေသည်။ → Khi Ngài trở về cõi trời, hoàng hậu cũng thực hành theo lời dạy bảo, và khi hết tuổi thọ, bà đã sinh làm hoàng hậu ngay bên cạnh Thiên chủ Sakka. ဤကား "ကျင့်ကြံမှု" ဟူသော အလယ်၏ကောင်းခြင်းတည်း။ → Đây chính là "Sự thực hành", là cái tốt đẹp ở chặng giữa của Giáo pháp. ကျင့်ပြီးခါလည်း စခန်းသင့်အောင်။ ။ အစွမ်းကုန် ကျင့်ပြီးသည့်အခါလည်း ကိလေသာမီးများ တစ်ခါတည်း ချုပ်ငြိမ်းသဖြင့် → Sau khi thực hành để đạt đến đích: Khi đã thực hành đến mức tối hậu, các ngọn lửa phiền não sẽ được dập tắt hoàn toàn một cách tức thì. ထီးနန်းစည်းစိမ်ထက် သာလွန်ငြိမ်းချမ်းသော နိဗ္ဗာန်နန်းနှင့် စခန်းသင့်အောင် ရွှေဉာဏ်တော်ဖြင့် ချိန်၍ ဟောတော်မူထားရကား → Đức Thế Tôn đã dùng tuệ giác tối thượng cân nhắc và thuyết giảng để chúng sinh đạt đến "Cung điện Níp-bàn", nơi an lạc vượt trội hơn hẳn mọi vinh hoa điện ngọc. ဟောတော်မူသည့်အတိုင်း ကျင့်လျက် နိဗ္ဗာန်ကို ဧကန်ရနိုင်ပေသည်။ → Nếu thực hành đúng theo lời Ngài đã thuyết giảng thì chắc chắn có thể đạt được Níp-bàn (Nibbāna). ဤကား "ကျင့်ပြီးခြင်း" ဟူသော အဆုံး၏ကောင်းခြင်းတည်း။ → Đây chính là "Sự thành tựu việc thực hành", là cái tốt đẹp ở chặng cuối của Giáo pháp. TRANG 106 တိုက်တွန်းချက်။ ။ ယခုအခါ၌ အသိအလိမ္မာ နောက်ကျ၍ ဥစ္စာစည်းစိမ် ဂုဏ်သိန် ပျက်စီးခါမှလည်းကောင်း၊ အကုသိုလ် ဒုစရိုက်တွေ တင်းကျပ်အောင် ပြည့်နေမှလည်းကောင်း နောင်တရ၍ အထိုက်အလျောက် လိမ္မာသူတွေ ရှိကြပါပေ၏။ → Lời khuyến tấn: Hiện nay, có những người do sự hiểu biết đến muộn màng, chỉ khi tài sản và danh tiếng đã tiêu tan, hoặc khi các ác hạnh bất thiện đã lấp đầy và bủa vây thì mới biết hối hận và trở nên hiểu biết phần nào. တကယ်တမ်း ဒုက္ခနှင့် တွေ့ကြုံရသောအခါ ဘယ်လိုဖြေဖျောက်ရမှန်း မသိကြ၍ ကြံမိကြံရာ စိတ်နောက်ကိုယ်ပါကြလျက် အသက်ဆုံးအောင် စီမံရာ သူတွေကိုလည်း အများပင် ကြားဖူးလေပြီ။ → Khi thực sự đối mặt với khổ đau, vì không biết cách nào để giải tỏa nên họ thường quẫn trí, để mặc cho thân tâm lôi kéo mà tự kết thúc mạng sống của mình; những trường hợp như vậy chúng ta đã được nghe kể rất nhiều. ထိုသို့ အကြံဆိုး ပေါ်လာလျှင် ဆရာကောင်းထံ ချဉ်းကပ်၍ တရားကိုနာပါတော့လား။ → Nếu những ý nghĩ tồi tệ ấy nảy sinh, tại sao không tìm đến một bậc thầy tốt để lắng nghe Chánh pháp? ဘုရားရှင်၏ တရားတော်သည် သေချာစွာ သဘောကျလျှင် ယခုဘဝ တွေ့ကြုံရိုး ဒုက္ခမျိုးကိုလည်း ငြိမ်းစေနိုင်၊ သံသရာ၌ တွေ့ရမည့် ဒုက္ခမီးကိုလည်း မချိငြိမ်းစေနိုင်ပါသည်။ → Giáo pháp của Đức Thế Tôn, nếu được thấu hiểu một cách thấu đáo, có thể làm dập tắt những nỗi khổ đau thường gặp trong kiếp sống hiện tại, và cũng có thể làm tan biến ngọn lửa khổ đau sẽ phải đối mặt trong vòng luân hồi. ထိုတရားတွေကို နားလည်ဖို့ရာလည်း ရဟန်းတော်များ စာသင်သလို ၁၀-နှစ်၊ အနှစ် ၂၀-မျှ လေ့လာနေကြရမည် မဟုတ်ပါ။ → Để thấu hiểu được những pháp ấy, quý vị không nhất thiết phải dành ra 10 năm hay 20 năm để nghiên cứu giống như cách các vị Tỳ-khưu học kinh điển. တရားလမ်းကြောင်းသက်သက်ကို ဟောပြောပြသော ပညာရှိသူတော်ကောင်း၊ ယုံကြည်စိတ်ချရသော ဆရာသမား၊ တတ်သိနားလည်သော မိခင် ဖခင် အိမ်ရှင် အိမ်သူ၏စကားကို လိုက်နာမှု၊ → Chỉ cần vâng theo lời dạy của các bậc thiện trí thức chỉ rõ con đường đạo đức, của những vị thầy đáng tin cậy, hoặc của cha mẹ và những người thân am hiểu trong gia đình. တရားလမ်းမှန်ရေးထားသော ပညာရှိတို့၏ စာများကို စိတ်ပါလက်ပါ ကြည့်ရှုမှုဖြင့် သူတော်ကောင်း ပညာရှိကလေးများ ဖြစ်နိုင်ပါသည်။ → Bằng việc chú tâm đọc những cuốn sách của các bậc trí giả viết về con đường Chánh đạo, quý vị có thể trở thành những bậc thiện trí thức trẻ tuổi. ထို့ကြောင့် “မိုးကုန်မှ ထွန်ချခြင်း၊ မျက်စိကန်းမှ မျက်ကွင်းဆေးတင်ခြင်း၊ နေဝင်မှ စပါးလှန်းခြင်း၊ သူခိုးပြေးမှ ထိုးကွင်းထှန့်၊ လူမိုက်နောက်မှ အကြံရခြင်းမျိုး” မဖြစ်စေဘဲ → Do đó, đừng để xảy ra tình trạng "hết mưa mới đi cày, mù mắt mới bôi thuốc mắt, mặt trời lặn mới đem lúa ra phơi, trộm chạy thoát mới xăm mình lấy uy, hay kẻ ngốc sau cùng mới nghĩ ra kế". ဗုဒ္ဓဘာသာတရား၌ သိထိုက်သော လိုရင်းချက်များကို လက်မလွှတ်ခင် စောစောက ကြိုတင်၍ သိရှိနားလည်အောင် ကြိုးစားကြဖို့ရန် အထူးတိုက်တွန်းပါသည်။ → Tôi đặc biệt khuyến tấn quý vị hãy nỗ lực tìm hiểu và thấu chắt những điểm cốt yếu cần biết trong Phật pháp ngay từ sớm, trước khi cơ hội vuột mất khỏi tầm tay. (HÀNG TRẮNG CÁCH BIỆT) TRANG 107 သန္ဒိဋ္ဌိက ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích về ân đức Sandiṭṭhika (Dành để ghi nhớ). ဓမ္မော-မဂ် ဖိုလ် နိဗ္ဗာန်၊ ကိုးတန်သော တရားတော်မြတ်သည်၊ သန္ဒိဋ္ဌိကော-ဟောပြသလောက်၊ ကျင့်တိုင်းပေါက်၍၊ မဂ်ရောက်ဖိုလ်ထိ၊ ပညာရှိသည်၊ များအရိယာ၊ သူတော်စွာတို့၊ သုတကာပြော၊ ယုံကြည်သောကြောင့်၊ သဘောချင်းထပ်၊ မဆည်းကပ်ဘဲ၊ တပ်အပ်ထင်ထင်၊ ကိုယ်တိုင်လည်း သိမြင်ထိုက်ပါပေ၏။ → Dhamma: Chín pháp thượng huyền (4 Đạo, 4 Quả và Níp-bàn). Sandiṭṭhiko: Như những gì đã được thuyết giảng, hễ thực hành là sẽ thấu đạt; bậc trí giả, các bậc Thánh hữu học cho đến khi đắc Đạo Quả, không chỉ vì tin theo lời truyền miệng của người khác mà cần phải đích thân tự mình thấy rõ một cách trực tiếp và xác thực. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. သန္ဒိဋ္ဌိကဂုဏ်တော်သည် “ကိုယ်တိုင် သိမြင်တော်မူထိုက်၏” ဟူသော အနက်ကို ပြ၏။ → Ân đức Sandiṭṭhika chỉ cho ý nghĩa là "Đáng được đích thân tự mình chứng kiến và thấu hiểu". “သံ-ကိုယ်တိုင်+ဒိဋ္ဌ-သိမြင်ခြင်း၊ ဣက-ထိုက်သည်”။ → "Saṃ - tự mình + Diṭṭha - thấy rõ, Ika - xứng đáng/đáng được". ဘုရားရှင် ဟောတော်မူအပ်သော တရားတော်သည် ဟောတော်မူထားသည့်အတိုင်းသာ ကျင့်ကြံအားထုတ်ကြလျှင် မဂ်ဖိုလ်အထိ ပေါက်ရောက်နိုင်ပေ၏။ → Giáo pháp mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng, nếu được thực hành và nỗ lực đúng theo những gì Ngài đã dạy, thì có thể đạt thấu đến Đạo và Quả. မဂ်ဖိုလ်ရလျှင် နိဗ္ဗာန်ကို ကိုယ်တိုင်သိနိုင်၏။ → Khi đạt được Đạo Quả, người ta có thể tự mình chứng ngộ Níp-bàn. ထို့ကြောင့် များစွာသော အရိယာအပေါင်း သူတော်ကောင်းတို့သည် သုတကာ အပြောကောင်း၍ ယုံကြည်ကျေနပ် သဘောချင်းထပ်မိ၍ ဆည်းကပ် ကျင့်ကြံရသည် မဟုတ်ဘဲ မဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန်ဟူသော လောကုတ္တရာတရား ၉-ပါးကို တပ်အပ်ထင်ထင် ကိုယ်တိုင်သိမြင်နိုင်ကြပေသည်။ → Do đó, vô số các bậc Thánh hữu học và các bậc thiện trí thức không phải vì nghe lời truyền tụng hay ho mà tin theo rồi mới nương nhờ thực hành, mà họ có thể tự mình thấy rõ một cách xác thực 9 pháp Siêu thế (Lokuttara Dhamma) gồm Đạo, Quả và Níp-bàn. (HÀNG TRẮNG CÁCH BIỆT) TRANG 108 အမှား။ ။ ဓမ္မန္တာတရားတော်များသည် ဘုရားရှင်၏ စကားတော်အစဉ်သာဖြစ်၍ ကိုယ်တိုင်သိရ၊ မြင်ရ၊ ကိုယ်သန္တာန်၌ ဖြစ်စေရမည့် တရားမဟုတ်သောကြောင့် ဤသန္ဒိဋ္ဌိကဂုဏ်တော်၌ မပါဝင်ချေ။ → Sai lầm: Các pháp học (Dhammantā) chỉ là sự nối tiếp những lời dạy của Đức Thế Tôn; vì đó không phải là những pháp để tự mình phải thấu đạt, thấy rõ hay làm cho phát sanh ngay nơi tâm tính mình, nên chúng không bao gồm trong ân đức Sandiṭṭhika này. တိုက်တွန်းချက်။ ။ ဤဗုဒ္ဓဘာသာ တရားတော်သည် ကိုယ်တိုင်ဒိဋ္ဌသိမြင်နိုင်လောက်အောင် ထင်ရှားသော ဂုဏ်တော်ရှိ၏။ → Lời khuyến tấn: Giáo pháp này của Phật giáo có ân đức rõ rệt đến mức có thể đích thân tự mình thấy rõ một cách trực tiếp. အခြားတရားများတွင် ဟိန္ဒူတရား၌သာ လောကီဈာန် အဘိညာဉ်ရစေနိုင်သော အစီအစဉ်ရှိ၏။ → Trong các giáo thuyết khác, chỉ có Ấn Độ giáo là có phương pháp có thể làm cho đắc được các tầng Thiền định (Jhāna) và Thần thông (Abhiññā) thuộc hiệp thế (Lokiya). လောကီမှ လွတ်မြောက်ကြောင်းဖြစ်သော မဂ်တရား ဖိုလ်တရားတို့ကား မရှိချေ။ → Còn về Đạo pháp và Quả pháp vốn là con đường giải thoát khỏi thế gian thì họ hoàn toàn không có. အခြားသော ဘာသာတို့ကား ဈာန်အဘိညာဉ်ကိုမျှ ရနိုင်သော အစီအစဉ်မရှိချေ။ → Đối với các tôn giáo khác, ngay cả phương pháp để đắc được Thiền định và Thần thông họ cũng không hề có. သူတို့တရားတွေကို မည်မျှလောက် ကျင့်နေသော်လည်း ကိုယ်တိုင်ဒိဋ္ဌသိမြင်ရမည် မဟုတ်ချေ။ တရားဟောဆရာတို့၏ အဟောဖြင့်သာ ကျေနပ်နေကြပေမည်။ → Dù có thực hành giáo lý của họ đến mức nào đi nữa, người ta cũng sẽ không thể tự mình thấy rõ một cách trực tiếp. Họ sẽ chỉ cảm thấy hài lòng thông qua những lời diễn thuyết của các vị giảng sư mà thôi. တရားတော်ကို ထားလိုက်ပါဦး။ ထိုတရားကို ဟောပြပညတ်ခဲ့သော ဘုရားလုပ်သူပင် အချို့ဘာသာ၌ အထင်အရှားဖြစ်နိုင်သော အစွမ်းမရှိကြ။ → Hãy tạm gác chuyện giáo lý sang một bên. Ngay cả chính những vị được tôn xưng là "Chúa" hay "Phật" - người đã thuyết giảng và định ra những giáo lý đó - trong một số tôn giáo cũng không có được năng lực hiển lộ một cách xác thực. ကောင်းကင်ဘုံမှာနေသလိုလို၊ ဟိုမှာလိုလို၊ သည်မှာလိုလိုနှင့် ရိုးတိုးရိပ်တားဖြင့်သာ ကျေနပ်ကြရသည်။ → Họ chỉ được biết đến một cách mơ hồ như thể đang ở trên thiên đàng, hoặc ở chỗ này chỗ kia, và người ta phải chấp nhận sự mông lung đó. ထိုသူတို့ ဖြည့်ကျင့်လျက် မည်သည့်အမျိုးမြတ်၊ အဆွေမြတ်တွင် ဖွားပြီးလျှင် မည်ကဲ့သို့ တရားအားထုတ်၍ မည်သည့်အရပ်၌ ဘုရားဖြစ်ပြီး နောက် မည်မျှလောက်ကြာအောင် တရားဟော၍ မည်မျှသတ္တဝါတွေကို အကျွတ်တရား ရစေသည်” ဟု ကျကျနန ပြစရာမရှိချေ။ → Họ không có những minh chứng cụ thể như: đã tu tập những gì, sinh ra trong dòng tộc cao quý nào, đã nỗ lực thực hành giáo pháp ra sao, đắc đạo thành bậc Giác Ngộ tại địa điểm nào, sau đó đã thuyết pháp trong bao lâu và đã giúp cho bao nhiêu chúng sinh đắc được giải thoát. (HÀNG TRẮNG CÁCH BIỆT) TRANG 109 ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်တို့၏ ရှင်တော်မြတ်အတွက်ကား ထိုအားလုံးကို စေ့စေ့ငင ပြနိုင်သည်။ → Đối với Đức Thế Tôn của những người tín đồ Phật giáo, tất cả những điều đó đều có thể được chứng minh một cách tường tận và chi tiết. လွန်ခဲ့သော နှစ်ပေါင်း နှစ်ထောင်လေးရာ ခုနှစ်ဆယ်ကျော်လောက်က အိန္ဒိယပြည်ဝယ် ငါတို့၏ ဘုရားရှင် ပွင့်ထွန်းတော်မူခဲ့ကြောင်းကို ဘုရားရှင်၏ သီတင်းသုံးတော်မူရာ အရပ်နှင့် အဆောက်အအုံ အစအနများ ယခုတိုင် ထင်ရှားရှိသေးသဖြင့် မည်သူမျှ ငြင်းဆန်ဖွယ်ရာ မရှိပြီ။ → Việc Đức Thế Tôn của chúng ta đã đản sinh và thành đạo tại Ấn Độ vào khoảng hơn 2470 năm trước là điều không ai có thể phủ nhận, bởi những di tích về nơi Ngài từng trú ngụ và các dấu tích công trình xây dựng vẫn còn hiện hữu rõ ràng cho đến tận ngày nay. သို့ဖြစ်၍ ဗုဒ္ဓဘာသာ ဘုရားသည် “လေဖမ်း ဒန်းစီး၊ ကောင်းကင်မှာ တိုက်ကြီးတည်သလို” ရိုးတိုးရိပ်တား ဟိုလိုလို သည်လိုလိုနှင့် လှည့်ပတ်ထားအပ်သော ကလိကမာဘုရား မဟုတ်ပါ။ တကယ်ပင် ထင်ရှားရှိခဲ့သော ဘုရားဖြစ်ပါသည်။ → Do vậy, Đức Phật trong Phật giáo không phải là một vị thần linh hão huyền được thêu dệt một cách mơ hồ "như kẻ bắt gió cưỡi đu quay hay xây lâu đài trên không trung"; Ngài là một bậc Giác Ngộ đã thực sự hiện hữu một cách xác thực. ထိုဘုရားရှင်၏ တရားတော်များကိုလည်း ယခုတိုင် ထင်ရှားရှိကြသေး၏။ → Những giáo pháp của Đức Thế Tôn ấy cho đến nay vẫn còn hiện hữu một cách rõ rệt. ထိုတရားတော်လာသည့်အတိုင်း ကျင့်ပါလျှင် ကိုယ်တိုင်ဒိဋ္ဌသိမြင်နိုင်၏။ → Nếu thực hành theo đúng những gì giáo pháp ấy chỉ dạy, người ta có thể đích thân tự mình thấy rõ một cách trực tiếp. ကိုယ့်သန္တာန်မှာ မဂ်တရား ဖိုလ်တရား ဖြစ်ပေါ်နေသည်ကို ကိုယ်တိုင်သိနိုင်၏။ → Người ta có thể tự mình nhận biết được việc Đạo pháp và Quả pháp đang phát sanh ngay nơi tâm tính của chính mình. ထိုမဂ်ဖိုလ်ကိုရသောအခါ နိဗ္ဗာန်ကို ကိုယ်တိုင် မြင်နိုင်၏။ → Khi đạt được Đạo và Quả ấy, người ta có thể tự mình chứng kiến được Níp-bàn. ဤသို့ ကိုယ်တိုင် မြင်နိုင်သောတရား ဖြစ်ရကား အခြားဘာသာတို့က လောကီဂုဏ်ကိုပြ၍ မည်မျှပင် သွေးဆောင် ကြသော်လည်း ကိုယ်ပိုင်ဉာဏ်ကို အသုံးပြု၍လည်းကောင်း၊ အခြား ပညာရှင်များနှင့် ဆွေးနွေးသောအားဖြင့်လည်းကောင်း ယုံကြည်မှု သန္တိအစစ် ဖြစ်ကြပါစေ။ → Vì đây là giáo pháp có thể tự mình thấy rõ, nên dù các tôn giáo khác có đưa ra những hào quang thế gian để lôi kéo đến mức nào, quý vị hãy sử dụng trí tuệ cá nhân cũng như thảo luận với các bậc trí giả khác để có được một niềm tin chân thực và an lạc (Santi). TRANG 110 ဆက်ပါဦးမည် - ဗုဒ္ဓဘာသာ၌ ပဋိစ္စသမုပ္ပါဒ် (ကြောင်း-ကျိုး ဆက်စပ်) တရားတော်မြတ်သည် သတ္တဝါတိုင်း၏ ဖြစ်ပျက်ပုံကို စုံစုံလင်လင် ပြတော်မူ၏။ → Sẽ còn tiếp tục: Trong Phật giáo, giáo pháp cao thượng về Thập Nhị Nhân Duyên (Paṭiccasamuppāda - sự liên kết nhân quả) trình bày một cách đầy đủ và chi tiết về tiến trình sinh diệt của mọi chúng sinh. ထိုတရားတော်ကိုလည်း အဘိဓမ္မာ အခြေခံမရှိသူသည် ပိုင်ပိုင်နိုင်နိုင် နားမလည်ပါ။ → Người không có nền tảng về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) sẽ không thể thấu hiểu giáo pháp ấy một cách tường tận. ထိုတရားတော်ကို နားမလည်သမျှ ဤဘဝ နောင်ဘဝအရေးကို အမှန်ကျအောင် မတွေးနိုင်ပါ။ → Chừng nào còn chưa hiểu rõ giáo pháp đó, người ta sẽ không thể tư duy đúng đắn về các vấn đề của kiếp này và kiếp sau. ထို့ကြောင့် အဘိဓမ္မာကို အခြေရအောင် သင်ပြီးမှ ပညာရှိများနှင့် ဆွေးနွေးကြလျှင် သာ၍ သဘောကျပါလိမ့်မည်။ → Do đó, sau khi học để có nền tảng Vi Diệu Pháp, nếu quý vị thảo luận với các bậc trí giả thì sẽ càng thêm thấu hiểu và tâm đắc. အကာလိကဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích về ân đức Akālika (Dành để ghi nhớ). ဓမ္မော-သောတာပတ္တိ စသည်ဆင့်တက်၊ လေးချက်အပြား၊ မဂ်တရားသည်။ အကာလိကော-ငါးရက် ခုနစ်ရက်၊ စသည်တက်၍၊ ငံ့လျက်ရှည်ဝေး၊ အကျိုးပေးရာ၊ အခါမဲ့၊ အခြားမဲ့ဖိုလ်၊ အကျိုးကိုလည်း ပေးတော်မူတတ်ပါပေ၏။ → Dhamma: Các tầng Thánh đạo như Sơ đạo (Sotāpattimagga) tiến dần lên, gồm bốn loại khác biệt. Akāliko: Không cần chờ đợi năm ngày, bảy ngày hay một thời gian dài mới trổ quả; mà Ngài ban cho quả vị ngay lập tức, không có khoảng cách thời gian sau khi đắc Đạo. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. အကာလိကဂုဏ်တော်သည် “အကျိုးပေးဖို့ အချိန်ဆွဲ၍ ဖင့်နွှဲခြင်းမရှိ” ဟူသော အနက်ကို ပြ၏။ [အ+ကာလ+က္ကဏ၊ အ=မ+ကာလ=အချိန်+က္ကဏ=ရှိ]။ → Ân đức Akālika chỉ cho ý nghĩa là "Không có việc trì hoãn hay kéo dài thời gian để trổ quả". [A + Kāla + Kaṇa; A = không + Kāla = thời gian + Kaṇa = có]. ဤ “အကာလိက” ဂုဏ်တော်ကား မဂ် ၄-ပါးနှင့်သာ ဆိုင်၏။ → Ân đức "Akālika" này chỉ liên quan đến 4 tầng Thánh đạo (Magga). မဂ်တရားဟူသည် ကုသိုလ်ကံတရားတည်း၊ ဖိုလ်တရားကား → Đạo pháp (Magga-dhamma) vốn là pháp thuộc nghiệp thiện (Kusala kamma); còn Quả pháp (Phala-dhamma) là TRANG 111 ထိုမဂ်ကုသိုလ်၏ အကျိုးတရားတည်း။ ပုဂ္ဂိုလ်တစ်ဦးသန္တာန်၌ မဂ်ရအောင် ကမ္မဋ္ဌာန်းအားထုတ်၍ မဂ်ကုသိုလ်စိတ်ဖြစ်လျှင် → Là pháp quả của nghiệp thiện thuộc Đạo ấy. Khi một cá nhân nỗ lực hành thiền định để đắc Đạo, ngay khi tâm thiện Đạo phát sanh thì ချက်ချင်း ဖိုလ်စိတ်တည်းဟူသော အကျိုးလည်း တစ်ဆက်တည်း ပေါ်လာ၏။ → Quả vị ngay tức thì chính là tâm Quả (Phala-citta) cũng hiện khởi nối tiếp theo sau. “လောကီကုသိုလ်ကံများကဲ့သို့ ၅-ရက်၊ ၇-ရက်၊ ၁-ဘဝ၊ ၂-ဘဝ စသည်ဖြင့် အချိန်ဆွဲ၍ ဖင့်နွှဲခြင်းမရှိ၊ ချက်ချင်း အကျိုးပေးနိုင်သော ဂုဏ်ထူးရှိသည်” ဟူလို။ → Ý nghĩa là: "Không giống như các nghiệp thiện thuộc hiệp thế phải chờ đợi 5 ngày, 7 ngày, một kiếp hay hai kiếp, pháp này có đặc tính ưu việt là có thể cho quả ngay lập tức". ဤ “အကာလိက” ဂုဏ်တော်ကား အဘိဓမ္မာသဘောတရားကို လေ့လာဖူးသူတို့သာ ကျကျနန သဘောကျနိုင်စရာရှိပါသည်။ → Ân đức "Akālika" này chỉ những ai từng nghiên cứu giáo lý Vi Diệu Pháp mới có thể thấu hiểu một cách tường tận. ဧဟိပဿိက ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích về ân đức Ehipassika (Dành để ghi nhớ). ဓမ္မော-မဂ် ဖိုလ် နိဗ္ဗာန်၊ ကိုးတန်သော တရားတော်မြတ်သည်။ ဧဟိပဿိကော-ဝေဟာတက်ထွန်း၊ ယူဂန္ဓွန်း၌၊ လဝန်းအလား၊ ပတ္တမြားသဖွယ်၊ စင်ကြယ်ထင်ရှား၊ ရှိသည်များကြောင့်၊ အားရရွှင်လန်း၊ လိုက်ခဲ့စမ်းပါ၊ ရှုစမ်းပါဟု၊ သံသာချိုမြ၊ ဖိတ်ခေါ်ပြဖို့၊ မချေကန်၊ အမှန်သင့်လျော်၊ ထိုက်တန်တော်မူပါပေ၏။ → Dhamma: Chín pháp thượng huyền gồm Đạo, Quả và Níp-bàn. Ehipassiko: Giống như mặt trăng rạng rỡ trên đỉnh núi Yugandhara, như viên ngọc quý sáng ngời, vì tính thanh tịnh và hiển nhiên của các pháp này, nên Ngài thật xứng đáng để dùng lời ngọt ngào mời gọi rằng: "Hãy đến mà xem, hãy thử thực hành và chiêm ngưỡng đi". ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. ဧဟိပဿိကဂုဏ်တော်သည် “လိုက်ခဲ့စမ်းပါ။ ကြည့်ရှုလှည့်စမ်းပါ” ဟု ဖိတ်ခေါ်ထိုက်၏ ဟူသော အနက်ကို ပြ၏။ [ဧဟိ+ပဿ+က္ကဏ၊ ဧဟိ-လိုက်ခဲ့ပါ+ပဿ-ရှုလှည့်စမ်းပါ+က္ကဏ-ဤသို့ ဖိတ်ခေါ်ထိုက်]။ → Ân đức Ehipassika chỉ cho ý nghĩa là "Xứng đáng được mời gọi rằng: Hãy đến đây! Hãy cùng xem đi!". [Ehi + Passa + Kaṇa; Ehi - hãy đến + Passa - hãy xem + Kaṇa - xứng đáng mời gọi như vậy]. TRANG 112 လောက၌ သေတ္တာ စသည်တို့၏ အတွင်းဝယ် ဘာမျှမရှိလျှင် “လာစမ်းပါ၊ ကြည့်စမ်းပါ” ဟု ခေါ်ယူပြသခြင်းငှာ မထိုက်။ → Ở đời, nếu bên trong một chiếc rương không có thứ gì thì không thể mời gọi rằng "Hãy lại đây, hãy xem đi" để mà phô diễn. ရှိပင် ရှိသော်လည်း ထိုဝတ္ထုက ကြည့်ရှုဖွယ်ကောင်းလောက်အောင် အဖိုးထိုက် အဖိုးတန် လှပသော အရာဝတ္ထုမျိုးမဟုတ်ဘဲ သာမန်ဝတ္ထုမျိုး ဖြစ်နေပြန်လျှင်လည်း အရေးတကြီး ခေါ်ငင်ပြသခြင်းငှာ မထိုက်။ → Dù có vật bên trong, nhưng nếu vật đó không phải loại quý giá, đẹp đẽ xứng đáng để ngắm nhìn mà chỉ là loại tầm thường, thì cũng không đáng để phải khẩn thiết gọi người đến xem. ဘုရားရှင်၏ တရားတော်ကား ဝေဟာသ(ကောင်းကင်) ဗဟိုဝယ် ယူဂန္ဓိုရ်တောင်ထွဋ်မှ တက်ထွန်းလာသော လပြည့်ဝန်းကြီးအလား ပတ္တမြားရတနာသဖွယ် အလွန်စင်ကြယ်သန့်ရှင်း၍ အပြစ်ကင်းသည့်အပြင် အမှန်ပင် ထင်ရှားရှိသောကြောင့် “လိုက်ခဲ့စမ်းပါ၊ မည်မျှအဖိုးတန်၍ အကျိုးများတဲ့တရားဟု ကိုယ်တိုင်သိရအောင် ကျင့်ကြည့်စမ်းပါ” ဟု ခေါ်ငင်ပြသ တိုက်တွန်းခြင်းငှာ ထိုက်တန်သော ဂုဏ်တော်ရှိပါသည်။ → Nhưng giáo pháp của Đức Thế Tôn, giống như vầng trăng rằm rạng rỡ hiện ra từ đỉnh núi Yugandhara giữa bầu trời, thanh khiết và không tì vết như ngọc quý, lại thực sự hiển hiện rõ ràng. Do đó, giáo pháp này có ân đức xứng đáng để mời gọi và khuyến tấn rằng: "Hãy đến đây, hãy thử thực hành để tự mình biết được giáo pháp này quý giá và lợi ích đến dường nào". တိုက်တွန်းချက်။ ။ ဤဂုဏ်တော်၌ လောကုတ္တရာတရား ကိုးပါးသာ ကျမ်းဂန်တို့၌ လာ၏။ → Lời khuyến tấn: Trong kinh điển, ân đức này chỉ đề cập đến chín pháp Siêu thế (Lokuttara Dhamma). သို့သော် ဤဂုဏ်တော်ကို အတုလိုက်၍ စာပေပရိယတ် တရားတော်မြတ်ကိုလည်းကောင်း၊ ကောင်းမွန်စွာ ကျင့်ကြံနေသော သံဃာတော်များကိုလည်းကောင်း “လိုက်ခဲ့စမ်းပါ၊ နာကြည့်စမ်းပါ၊ ဖူးမြော်လှည့်စမ်းပါ” ဟု မိတ်ကောင်း ဆွေကောင်းများကို တိုက်တွန်းသင့်ပါသည်။ → Tuy nhiên, theo gương ân đức này, chúng ta cũng nên khuyến tấn những người bạn lành rằng: "Hãy lại đây, hãy nghe thử pháp học (Pariyatti) cao quý, và hãy đến đảnh lễ các bậc Tăng già đang tu hành tinh tấn". အလောင်းတော် ဇောတိပါလနှင့် ဃဋိကာရ → Tiền thân Đức Phật Jotipāla và Ghaṭīkāra. “သိဒ္ဓတ္ထမင်းသား ဘုရားလောင်း တောထွက်တော်မူလာသောအခါ ဃဋိကာရဗြဟ္မာကြီးက သင်္ကန်းကပ်လှူလာသည်” ဟု ပြောစမှတ်ပြုကြသော ဃဋိကာရဗြဟ္မာအလောင်းသည် ကဿပဘုရား လက်ထက်တော်တုန်းက မျက်မမြင် မိဘတို့ကို ပြုစုနေသော ဃဋိကာရအိုးထိန်းသည် ဖြစ်၏။ → Vị tiền thân của Phạm thiên Ghaṭīkāra - người mà sử liệu ghi lại là đã dâng y khi Bồ-tát Thái tử Siddhattha xuất gia - vốn là người thợ gốm Ghaṭīkāra, người đã chăm sóc cha mẹ mù lòa vào thời Đức Phật Kassapa. ဘုရားရှင်ကို အလွန်ကြည်ညိုသော သီတင်းသည် သူတော်ကောင်းကြီးပေတည်း။ → Vị ấy là một bậc thiện trí thức cư sĩ vô cùng kính tin nơi Đức Phật. TRANG 113 မှတ်ပြုကြသော ဃဋိကာရဗြဟ္မာအလောင်းသည် ကဿပဘုရား လက်ထက်တော်တုန်းက မျက်မမြင် မိဘတို့ကို ပြုစုနေသော ဃဋိကာရအိုးထိန်းသည် ဖြစ်၏။ ဘုရားရှင်ကို အလွန်ကြည်ညိုသော သီတင်းသည် သူတော်ကောင်းကြီးပေတည်း။ → (Đoạn này lặp lại ý trang trước): Vị tiền thân Phạm thiên Ghaṭīkāra chính là người thợ gốm Ghaṭīkāra đã phụ phụng cha mẹ mù lòa thời Đức Phật Kassapa; vị ấy là một cư sĩ thuần thành rất mực kính tin Phật. ငါတို့ ဘုရားအလောင်းကား အမျိုးအစားဖြင့် အထက်တန်းကျ၍ အလွန်မာန်ကြီးသော ဇောတိပါလလုလင် ဖြစ်လျက် ထိုစဉ်က ဗုဒ္ဓဘာသာမဟုတ်သေးဘဲ ဃဋိကာရ၏ အသည်းစွဲ မိတ်ဆွေတစ်ယောက်တည်း။ → Còn tiền thân Đức Phật của chúng ta khi đó là thanh niên Jotipāla, thuộc tầng lớp cao quý và rất kiêu mạn; lúc bấy giờ vị ấy chưa theo Phật giáo nhưng lại là người bạn thân thiết nhất của Ghaṭīkāra. ဃဋိကာရသည် ဘုရားရှင်ကို ဖူးမြော်ဖို့ရန် ဇောတိပါလကို အတန်တန်တိုက်တွန်း၏။ သို့သော် အမျိုးဂုဏ် မာန်တက်၍ ဘုရားကိုပင် အဖတ်မထင်သေးချေ။ → Ghaṭīkāra đã nhiều lần khuyên bảo Jotipāla đi đảnh lễ Đức Phật. Tuy nhiên, vì tự mãn về dòng dõi của mình, Jotipāla thậm chí còn chưa mảy may bận tâm đến Đức Thế Tôn. ဃဋိကာရလည်း “ဘုရားအထံ မရောက်လျှင် မနေ” ဟု အမြဲ ကြံစည်ကာ မြစ်ဆိပ်သို့ ရေချိုးဖို့ရန် ခေါ်သွားပြီးလျှင် “မိတ်ဆွေ-ကဿပဘုရားရှင်သည် အနီးမှာပင် သီတင်းသုံးတော်မူနေ၏။ ထိုဘုရားရှင်ကို ဖူးမြင်ခြင်းသည် ကျွန်ုပ်တို့၌ အမြတ်ဆုံးဟု ထင်၏။ လိုက်ခဲ့ပါ၊ ဖူးချေကြစို့” ဟု သုံးကြိမ်တိုင်အောင် ခေါ်သော်လည်း ရှေးနည်းအတူ ပယ်ရှား၍နေသဖြင့် နောက်ဆုံး၌ “မလိုက်လျှင် မနေရ” ဟု ဆံပင်ကို အတင်းဆွဲ၍ ခေါ်လေသော်- → Ghaṭīkāra luôn tâm niệm "phải đưa bằng được bạn đến chỗ Phật", nên đã rủ bạn ra bến sông tắm, rồi nói: "Này bạn, Đức Phật Kassapa đang ngự ở gần đây thôi. Tôi nghĩ việc được đảnh lễ Ngài là điều cao quý nhất đối với chúng ta. Hãy đi cùng tôi, chúng ta hãy đi đảnh lễ Ngài". Dù đã mời gọi ba lần nhưng Jotipāla vẫn từ chối như trước; cuối cùng, Ghaṭīkāra phải nắm lấy tóc bạn mà kéo đi và nói "nếu không đi là không được". “ဪ- ဃဋိကာရသည် အမျိုးအစားဖြင့် ငါ့အောက်ကျသူ ဖြစ်ပါလျက် ဆံပင်ကို ဆွဲနိုင်သည်မှာ အံ့ဩစရာကြီး ဖြစ်ပေသည်။ ဧကန်အကျိုးရှိ၍သာ မရမက ခေါ်ရှာပေသည်” ဟု သဘောကျ၍ ဘုရားအထံသို့ လိုက်သွားပြီးလျှင် တရားတော်ကို နာရသောအခါ → Jotipāla suy nghĩ: "Ồ, Ghaṭīkāra dù có địa vị thấp hơn ta mà dám cả gan nắm tóc kéo đi thì thật là chuyện lạ thường. Chắc chắn phải có lợi ích thực sự nên anh ấy mới cố công mời gọi như thế". Vị ấy bèn đổi ý đi theo đến chỗ Đức Phật, và khi được lắng nghe giáo pháp... TRANG 114 လွန်စွာအားရ နှစ်သက်လှသဖြင့် သာသနာ့ဘောင်သို့ ဝင်လေသည်။ → (Jotipāla) vô cùng hân hoan và hài lòng nên đã gia nhập vào hàng ngũ giáo đoàn. ဤသို့ ဝမ်းမြောက်လောက်အောင် “ဧဟိပဿိက” ဂုဏ်တော်နှင့် အထိုက်အလိုက် ပြည့်စုံပါလျှင် ယခုကာလ တရားဟောရာအရပ်နှင့် သံဃာတော်များထံသို့လည်း ခေါ်ငင်ပြသထိုက်ပေသည်။ → Nếu có được sự đầy đủ tương xứng với ân đức "Ehipassika" khiến người khác vui mừng như thế này, thì trong thời đại nay, chúng ta cũng nên mời gọi và dẫn dắt người khác đến những nơi thuyết pháp và đến với chư Tăng. [မဇ္ဈိမပဏ္ဏာသ၊ ရာဇဝဂ်၊ ဃဋိကာရသုတ်။] → [Trung Bộ Kinh, Chương Majjhima-paṇṇāsa, Phẩm Rāja-vagga, Kinh Ghaṭīkāra]. သို့သော် စဉ်းစားရန်တစ်ချက်မှာ- ယခုကာလ၌ ဘာသာအမျိုးမျိုးက မိမိတို့ဘာသာကိုသာ မှန်ကန်ကြောင်း၊ အခြားဘာသာများယွင်းကြောင်းကို ဟောပြောကြ၏။ → Tuy nhiên, có một điểm cần suy xét là: trong thời đại ngày nay, các tôn giáo khác nhau đều thuyết giảng rằng chỉ có tôn giáo của họ là đúng đắn, còn các tôn giáo khác là sai lầm. ဗုဒ္ဓဘာသာတရားတွင်လည်း “သူတို့ဂိုဏ်းက ကောင်းသည်၊ ငါတို့ဂိုဏ်းက ကောင်းသည်။ သူကိုယ်တော်က ကြည်ညိုဖွယ်ကောင်း၏၊ ငါ့ကိုယ်တော်က ကြည်ညိုဖွယ်ကောင်း၏။ ငါ့ကိုယ်တော်က စာတတ်၏၊ တရားဟောကောင်း၏၊ ကမ္မဋ္ဌာန်းပေးကောင်း၏။ ဇာတ်ရိုက် ယတြာဆင်ကောင်း၏” စသည်ဖြင့် “(ဧဟိ)လိုက်ခဲ့စမ်းပါ။ (ပဿ)ဖူးမြော်ကြည့်စမ်းပါ” ဟု သွေးဆောင်ခေါ်ငင်ကာ ကိုယ်ငါးချင်းကိုသာ ကိုယ်ချင်းလျက် ရှိကြလေသည်။ → Ngay cả trong Phật giáo cũng có tình trạng: "Phái của họ tốt, phái của chúng tôi tốt. Vị sư kia đáng kính, vị sư của tôi đáng kính. Sư của tôi giỏi kinh điển, thuyết pháp hay, dạy thiền giỏi, giỏi về bói toán hay giải hạn", v.v... rồi dùng những lời như "(Ehi) hãy đến đây, (Passa) hãy thử đảnh lễ xem" để lôi kéo, cốt chỉ để vun vén cho phe phái riêng của mình. ဤမျှလောက် ရှုပ်ထွေးသော လောကကြီးဝယ် ကိုယ်ပိုင်ဥာဏ်ကို အသုံးပြုနိုင်သူလည်း နည်းပါးလှ၏။ → Trong một thế gian đầy rẫy sự phức tạp như thế này, những người có thể sử dụng trí tuệ của chính mình quả thực rất ít ỏi. သာသနာတော်ဆိုင်ရာဝယ် များစွာသောပုဂ္ဂိုလ်၌ မာတုဂါမတွေသာ ခေါင်းဆောင်ဖြစ်နေကြ၏။ → Trong các vấn đề liên quan đến giáo pháp, ở nhiều nơi, phụ nữ lại đang trở thành những người dẫn dắt (về mặt tín ngưỡng). မာတုဂါမဟူသည် မိမိက သူတစ်ပါးတို့ကို လှည့်ပတ်ရမည့်အရာ၌ လွန်စွာဥာဏ်များသလောက်၊ သူတစ်ပါးက မိမိကို ဖြားယောင်းသည်ကိုလည်း ယုံကြည်လွယ်ရုံမက၊ မပြောပလောက်သော ဂုဏ်ကလေးကိုပင် တကယ့်ဂုဏ်ကြီးဟု ထင်တတ်ကြလေသည်။ → Phụ nữ thường có trí xảo rất lớn trong việc dẫn dụ người khác, nhưng đồng thời họ cũng không chỉ dễ tin vào những lời lôi kéo của người khác, mà còn thường lầm tưởng những phẩm hạnh nhỏ nhặt không đáng kể là những phẩm hạnh thực sự vĩ đại. (HÀNG TRẮNG CÁCH BIỆT) TRANG 115 ထို့ကြောင့် မာတုဂါမတွေ ခေါင်းဆောင်၍နေသော သာသနာကိစ္စအဝဝ၌ မကျန် မသန့်ရှင်းဘဲ ချွတ်ယွင်းသောအချက်တွေ အလွန်များနေတော့၏။ → Do đó, trong mọi công việc đạo sự mà phụ nữ đứng ra dẫn dắt, thường tồn tại rất nhiều sai sót, không được trọn vẹn và thiếu sự thanh tịnh. အမှန်ကို ဟောပြလိုသူတို့မှာလည်း မိုးခါးရေသောက်ကာလကြီးမို့ မတတ်နိုင်ဘဲ လက်မှိုင် ချရလေပြီ။ → Những người muốn thuyết giảng sự thật cũng đành lực bất tòng tâm, phải khoanh tay đứng nhìn vì đây là thời đại mà người ta quen "uống nước mưa độc" (chỉ thời kỳ suy đồi). သို့ဖြစ်၍ ယုံကြည်စိတ်ချရသော ပုဂ္ဂိုလ်များကို ဆည်းကပ်မိဖို့ရန်မှာ ရှေးကကောင်းမှုမှ ဖြစ်ရုံမျှဖြင့် မလောက် ရှိတော့သည်။ → Vì vậy, để có thể nương nhờ được những bậc đáng tin cậy, nếu chỉ dựa vào phước báu đã làm từ trước thì có lẽ vẫn chưa đủ. အချို့မျှ သတိပေးရလျှင် ပုဂ္ဂိုလ်တစ်ပါးပါးကို ကိုးကွယ်မိက အသိအလိမ္မာ ဥာဏ်ပညာနှင့် သူတော်ကောင်းစိတ်များ တိုးပွား-မတိုးပွား စဉ်းစားကြပါလေ။ → Để cảnh báo một chút: khi quý vị quy y hay y chỉ vào một vị nào đó, hãy suy xét xem sự hiểu biết, trí tuệ và tâm tính thiện lành của mình có tăng trưởng hay không. တိုးပွားလျှင် ကိုးကွယ်သူမှာ အမြတ်ရ၏။ → Nếu tăng trưởng, người quy y sẽ đắc được lợi ích lớn. ကုသိုလ်မတိုးပွားဘဲ မိမိတို့နှင့် ဆန့်ကျင်ဘက်ပုဂ္ဂိုလ်များကို ပြိုင်ရ ဆိုင်ရ တိုက်ခိုက်ရသဖြင့် မတရားမှု ဒုစရိုက်တွေသာ တိုးပွား၍ အကုသိုလ်များနေပါလျှင် အရင်းပင် ဆုံးရှုံးသေး၏။ → Nếu công đức không tăng trưởng mà chỉ lo tranh giành, đối đầu và công kích những người trái quan điểm với mình, khiến cho những điều bất chính và ác hạnh ngày càng tăng lên, đầy rẫy bất thiện, thì ngay cả cái vốn liếng (phước đức) cũng bị thua lỗ. တစ်ချို့ကား ပြိုင်ရင်း ဆိုင်ရင်း ရန်ခိုက်ဒေါသဖြစ်ကြရ၍ ရုံးသို့ရောက်ရသောကြောင့် ငွေကုန်လူပန်း စိတ်မချမ်းသာစရာတွေလည်း ဖြစ်ကြရရှာလေ၏။ → Một số người vì tranh đấu, đối đầu mà nảy sinh hiềm hận, sân hận, dẫn đến việc phải kéo nhau ra tòa, khiến tiền mất tật mang và gặp những chuyện không vui. ထို့ကြောင့် “ကိုးကွယ်ရာမှ ဘေးမဖြစ်အောင်” ကြိုးစား၍ သတိဆောင်ကြပါလေ။ → Vì vậy, hãy nỗ lực và tỉnh giác để "từ nơi nương tựa không biến thành tai họa". ဘုရားချင်းပေါက်။ ။ အဝေဠု၌ ရှေးအခါက ရဟန်းတော်နှစ်ပါး ဒက္ခိဏသာခါရုပ်တုတော်ကို ကိုးကွယ်ကြပြီးလျှင် ရုပ်တုတော်ချင်း အသုဘယပြိုင်စဉ် မခံချင်သဖြင့် “သတ္တိရှိလျှင် ဘုရားချင်းပေါက်ကြစို့” ဟု ပြောဆိုကာ ရုပ်တုတော်ချင်း တစ်ယောက်တစ်လှည့် ပေါက်ကြဖူးသတဲ့။ → Phật đụng nhau: Tại thành phố A-vê-ḷu thuở xưa, có hai vị Tăng cùng thờ phụng các pho tượng Phật Dakkhina-sakha; khi tranh cãi xem tượng nào đẹp hơn mà không ai chịu thua, họ đã thách thức: "Nếu có gan thì hãy để các tượng Phật đụng nhau xem sao", rồi thay phiên nhau đem các pho tượng ra va chạm. ယခုကာလလည်း ဒကာကို ဆရာက မြှောက်၊ ဆရာကို ဒကာက မြှောက်၍ ဒကာချင်းပေါက်၊ ဆရာချင်းပေါက်လျက် ကမောက်ကမ ဖြစ်နေကြသည်မှာ ဘာသာခြားတွေကို ရှက်ဖွယ်ကောင်းလှပေသည်။ → Thời nay cũng vậy, người thầy tâng bốc thí chủ, thí chủ lại tâng bốc thầy, rồi thí chủ đụng độ thí chủ, thầy đụng độ thầy, tạo nên cảnh hỗn loạn; điều này thật đáng xấu hổ trước những người ngoại đạo. (HÀNG TRẮNG CÁCH BIỆT) TRANG 116 ထို့ကြောင့် မိမိတို့ရပ်ရွာ မြို့နယ်၌ သံဃာချင်း၊ ရပ်ရွာသားချင်း ဆန့်ကျင်ဘက် မဖြစ်ရအောင် စောင့်ရှောက်နိုင်လျှင် အကောင်းဆုံးဖြစ်၏။ → Do đó, nếu có thể giữ gìn để chư Tăng trong thôn xóm, quận huyện và người dân trong làng không xảy ra mâu thuẫn đối đầu với nhau thì đó là điều tốt nhất. မိမိမှာ ထိုကဲ့သို့ စောင့်ရှောက်နိုင်လောက်အောင် ဩဇာမရှိလျှင် မည်သည့်ဘက်ကိုမျှ အရေးတကြီး အားမပေးဘဲ “ကိုယ့်ဝန်ကိုယ်ထမ်း၍ ကိုယ့်လမ်း ကိုယ်သွားရမည်” ကို နှလုံးသွင်းကာ အေးအေးနေနိုင်ခြင်းသာ အပြစ်ကင်းပေမည်။ → Nếu bản thân không đủ uy tín để đứng ra giữ gìn như vậy, thì tốt nhất là không nên thiên vị bất cứ bên nào, hãy cứ tâm niệm rằng "ai làm nấy chịu, đường ai nấy đi" và giữ thái độ ôn hòa, như vậy mới là vô tội. မနေသာ၍ ပါဝင်လျှင်လည်း အကောင်းဆုံးစိတ်ထားနိုင်အောင် သတိပြုပါလေ။ → Nếu không thể đứng ngoài mà phải tham gia vào, hãy cẩn trọng để có thể giữ được tâm thế tốt đẹp nhất. ဩပနေယျိက ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích về ân đức Opanayika (Dành để ghi nhớ). ဓမ္မော-မဂ် ဖိုလ် နိဗ္ဗာန်၊ ကိုးတန်သော တရားတော်မြတ်သည်၊ ဩပနေယျိကော-မိမိစိတ်တွင်၊ တစ်ကြိမ်ထင်က၊ လေးခွင်အပါယ်၊ ငရဲနွယ်ကို၊ ဆံခြည်အမျှ၊ မငြိမ်းအားဘဲ၊ တရားမျက်ရှင်၊ စိတ်စွဲထင်အောင်၊ ကျင့်ဆောင်ခြင်းငှာ ထိုက်တော်မူပါပေ၏။ → Dhamma: Chín pháp thượng huyền gồm Đạo, Quả và Níp-bàn. Opanayiko: Một khi đã hiện khởi trong tâm dù chỉ một lần, nó có thể dập tắt hoàn toàn mầm mống của bốn đường ác đạo (ngay cả một sợi tóc cũng không còn vướng bận); giáo pháp này thật xứng đáng để được thực hành, mang vào tâm để tâm luôn gắn bó với ánh sáng của pháp nhãn. (HÀNG TRẮNG CÁCH BIỆT) TRANG 117 ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. ဩပနေယျိကဂုဏ်တော်သည် “မိမိစိတ်သို့ ကပ်၍ ဆောင်ယူထိုက်၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ [ဥပ+နေယျ + က္ကဏ၊ ဥပ=မိမိစိတ်သို့ ကပ်၍+နေယျ=ဆောင်ခြင်း+က္ကဏ=ထိုက်သည်]။ → Ân đức Opanayika chỉ cho ý nghĩa là "Xứng đáng được mang vào và đặt gần nơi tâm mình". [Upa + Neyya + Kaṇa; Upa = mang lại gần tâm mình + Neyya = mang đi/dẫn đi + Kaṇa = xứng đáng]. မဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန် တရားတော်များသည် ပုထုဇဉ်တို့သန္တာန်၌ တစ်ရံတစ်ခါမျှ မဖြစ်ခဲ့ဖူးပေ။ → Các pháp Đạo, Quả và Níp-bàn chưa từng một lần nào phát khởi nơi tâm tính của những hàng phàm phu. မိမိ၏စိတ်တွင် တစ်ကြိမ်တစ်ခါမျှ အထင်အရှားပေါ်လာလျှင် [“သောတာပန်ဖြစ်လျှင်” ဟု ဆိုလိုသည်] အပါယ် ၄-ပါး၌ ခံစားရမည့် ဝဋ်ဒုက္ခ အပူမီးတို့ကို တစ်ခါတည်းဖြင့် ငြိမ်းစေနိုင်သောသတ္တိ (မည်သည့်အခါမျှ အပါယ်သို့ မကျအောင် စောင့်ရှောက်နိုင်သောသတ္တိ) ရှိခြင်းကြောင့် မဂ်ဖိုလ်ရအောင် ကမ္မဋ္ဌာန်း အားထုတ်နေတုန်းဝယ် ကိုယ်၌ဝတ်ဆင်ထားသော အဝတ်ကို သို့မဟုတ် ဥဿီသ(ခေါင်း)ကို မီးလောင်နေကာမူ ထိုမီးကို မငြိမ်းအားဘဲ ကမ္မဋ္ဌာန်းကိုသာ အတွင်းကြိုးစား၍ ပတ္တမြားမျက်ရှင်နှင့်အလားတူသော ထိုမဂ်ဖိုလ်တရားတော်များ စိတ်ထဲ၌ စွဲလမ်းအောင်၊ ထင်မြင်လာအောင် (မဂ်ဖိုလ်ရအောင်) အားထုတ်ထိုက်ပါသည်။ → Nếu trong tâm mình dù chỉ một lần hiện lên rõ rệt [nghĩa là "nếu đắc quả Tu-đà-hoàn"], thì nhờ có năng lực có thể dập tắt ngay lập tức ngọn lửa khổ đau luân hồi phải chịu trong 4 đường ác đạo (năng lực bảo vệ để không bao giờ bị rơi vào cảnh khổ nữa), nên ngay cả khi đang nỗ lực hành thiền để đắc Đạo Quả mà quần áo đang mặc trên người hay đầu tóc có bị lửa cháy đi chăng nữa, thì cũng không nên lo dập lửa đó mà hãy chỉ chuyên tâm nỗ lực thiền định bên trong, xứng đáng nỗ lực để những pháp Đạo Quả giống như viên ngọc báu nhiệm mầu này khắc sâu và hiện rõ trong tâm (để đạt được Đạo Quả). အပြင်မီးကို မငြိမ်းနိုင်သော်လည်း တစ်ခါသာ လောင်နိုင်မည်။ အတွင်းကိလေသာမီးတွေကား မဂ်ဖိုလ်မရသေးလျှင် ဘဝများစွာ လောင်နေကြမည်-ဟူလို။ → Ý rằng: Lửa bên ngoài nếu không dập được thì cũng chỉ cháy một lần (một kiếp) này thôi. Còn những ngọn lửa phiền não bên trong, nếu chưa đắc được Đạo Quả, thì chúng sẽ còn thiêu đốt trong rất nhiều kiếp sống nữa. TRANG 118 သာဝတ္ထိပြည်၌ တိဿမည်သော သူကြွယ်တစ်ယောက်သည် ရဟန်းဘောင်သို့ ဝင်ပြီးလျှင် တောကျောင်း၌ တရားအားထုတ်နေ၏။ → Tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), có một vị phú chủ tên là Tissa, sau khi xuất gia vào hàng ngũ tăng đoàn, đã trú ngụ tại một ngôi chùa trong rừng để thực hành giáo pháp. ခယ်မဖြစ်သူ (ညီမယား)က ခဲအိုရဟန်းတော် လူထွက်လာလျှင် အမွေခွဲပေးရမည်စိုးသောကြောင့် လူဆိုးများကို လာဘ်ပေးလျက် ဖျောက်ဖျက်ခိုင်းလေသည်။ → Người em dâu, vì lo sợ rằng nếu anh chồng là vị tỳ-khưu này hoàn tục thì sẽ phải chia tài sản thừa kế, nên đã hối lộ cho những kẻ xấu và ra lệnh sát hại vị ấy. လူဆိုးများက သွား၍ သတ်မည့်အကြောင်းကို ပြောကြရာ “သည်တစ်ညမျှ ခွင့်ပေးကြပါ၊ အာမခံပေးပါမည်”ဟု ပြောလေသည်။ → Khi những kẻ xấu đến và nói về việc sẽ giết vị ấy, vị ấy đã nói rằng: "Hãy cho tôi xin một đêm này thôi, tôi sẽ đưa ra vật bảo đảm." “ကိုယ်တော်ကို အာမခံမည့်သူ အဘယ်မှာ ရနိုင်မှာလဲ”ဟု ပြောကြလေသော် ကျောက်ခဲကြီးကို ယူကာ ခြေနှစ်ဖက်ကို ကိုယ်တိုင်ပေါက်ချိုး၍ ထွက်မပြေးနိုင်ကြောင်းကို အာမခံပေးလေသည်။ → Khi chúng nói: "Làm gì có ai đứng ra bảo đảm cho ngài được?", vị ấy bèn lấy một tảng đá lớn tự đập gãy cả hai chân mình để bảo đảm rằng mình không thể chạy trốn. ထို့နောက် ဝေဒနာဖြတ်ပါး နာကျင်သောခြေကို ဂရုမစိုက်အားဘဲ တရားကို အားထုတ်လေရာ အရုဏ်တက်ချိန်မှာ ရဟန္တာဖြစ်ပါသည်။ → Sau đó, không màng đến đôi chân đang đau đớn dữ dội bởi thọ khổ, vị ấy nỗ lực hành thiền và đã chứng đắc quả vị A-la-hán vào lúc bình minh. [ဒီဃနိကာယ်၊ မဟာဝဂ္ဂ၊ မဟာသတိပဋ္ဌာနသုတ် အဋ္ဌကထာ။] → [Chú giải kinh Đại Niệm Xứ, Đại Phẩm, Trường Bộ Kinh.] တိုက်တွန်းချက်။ ။ဤဝတ္ထု၌ လာသည့်အတိုင်း အရေးကြီးသော အချက်ဝယ် အသက်ကိုပင် ပဓာနမထားဘဲ ကြိုးကြိုးစားစား အားထုတ်ထိုက်အောင် “တရားတော်မှာ ကောင်းသောဂုဏ်တော် ရှိပေသည်”ဟု တရားတော်၏ ဤသြပနေယျိကဂုဏ်တော်ကို အာရုံပြုကြပြီးလျှင် မိမိသန္တာန်၌လည်း “ဤမဂ်ဖိုလ်တရားများ ကို တစ်ဖြည်းဖြည်း ဖြစ်ပေါ်လာအောင် အားထုတ်ထိုက်သည်၊ → Lời khuyến tấn: Như trong câu chuyện này, vào thời điểm quan trọng, ta không nên xem mạng sống là chính yếu mà hãy nỗ lực thực hành sao cho xứng đáng. Hãy hướng tâm đến ân đức "Opanayiko" (Hướng thượng) của Giáo pháp rằng "Giáo pháp có ân đức cao thượng", và trong tâm khảm mình cũng hãy nỗ lực để các pháp Đạo và Quả này dần dần phát sinh. TRANG 119 အားထုတ်မှသာ အမှန်ချမ်းသာခွင့်ရတော့မည်”ဟု နှလုံးပြုကာ ရဟန်း၊ သီလရှင်, သူတော်စင်တို့ တရားအားထုတ်ဖြစ်အောင် ကြိုးစားသင့်ကြပါသည်။ → "Chỉ có thực hành mới thực sự có được cơ hội an lạc", với sự tác ý như vậy, các vị tỳ-khưu, tu nữ và những bậc thiện hữu nên cố gắng để việc thực hành pháp được thành tựu. လူဝတ်ကြောင်များကလည်း တစ်သက်သာ တစ်ခဏမျှ အပျော်အပါးနှင့် မော်ကြွားသောက်စားဖို့အတွက် စက်ဆုပ်ဖွယ်ရာ မတရားသောနည်းတို့ဖြင့် ပစ္စည်းရှာဖွေမှုများကို အရေးတကြီး သတိထားလျက် ပယ်ရှားရှောင်ကြဉ်၍ တရားတော်နည်းလမ်းအရ စည်းကမ်းကျအောင် ရှာဖွေစုဆောင်းပြီးလျှင် ဆင်ခြင်တိုင်းထွာ၍ သုံးစွဲကာ မကြာမကြာ အိမ်မှထွက်၍ ဥပုသ်ရက်ရှည်စောင့်ရင်း တရားအားထုတ်သင့်ကြပါသည်။ → Những người cư sĩ cũng vậy, vì những thú vui và sự hưởng thụ chốc lát trong một đời người, hãy hết sức tỉnh giác để từ bỏ và tránh xa việc tìm kiếm tài sản bằng những phương cách phi pháp đáng ghê tởm. Hãy tích lũy tài sản đúng theo kỷ luật và phương cách của Giáo pháp, sử dụng có chừng mực và suy xét, thường xuyên rời khỏi nhà để giữ bát quan trai giới dài ngày và thực hành giáo pháp. ထို့ပြင် မိမိတို့ ယခုဘဝ၌ အစွမ်းကုန် ရှာဖွေ၍ ရသော ဥစ္စာကား ယခုဘဝ၌သာ အကျိုးပေး၏။ → Ngoài ra, tài sản mà bản thân dốc hết sức tìm kiếm được trong kiếp này thì chỉ đem lại lợi ích trong kiếp này mà thôi. ပါရမီစီးပွားမှာ နောင်သံသရာတစ်လျှောက်လုံး ကောင်းကျိုးပေးလိမ့်မည်။ → Còn tài sản Ba-la-mật sẽ đem lại quả lành suốt cả vòng luân hồi về sau. ထို့ကြောင့် “မိမိတို့မှာ ပင်ပန်းကြီးစွာ အားထုတ်ကြရာ၌ ယခုဘဝအတွက် စီးပွားစုမှုက များသလား၊ တစ်သံသရာလုံးအတွက် ပါရမီကုသိုလ် စီးပွားစုမှုက များသလား”ဟု ကြပ်ကြပ်စဉ်းစားပြီးလျှင် “ကမ္မဿကာ-ကံသာ ကိုယ်ပိုင်ဥစ္စာ”ဟု သဘောပေါက်၍ သံသရာစီးပွားက ယခုတစ်ဘဝ စီးပွားထက် များအောင်ကြိုးစား၍ ပါရမီဖြည့်သင့်ကြပါသည်။ → Do đó, hãy suy xét kỹ lưỡng rằng: "Trong sự nỗ lực vất vả của mình, việc tích lũy tài sản cho kiếp này nhiều hơn hay tích lũy tài sản phước báu Ba-la-mật cho cả luân hồi nhiều hơn?". Hãy thấu hiểu rằng "Kammassakā - Nghiệp là tài sản duy nhất của mình" để cố gắng làm cho tài sản luân hồi nhiều hơn tài sản kiếp này và nên vun bồi các pháp Ba-la-mật. [အဟံ-ငါသည်၊ ကမ္မဿကော-ကံသာလျှင် ကိုယ်ပိုင်ဥစ္စာရှိသည်၊ အမှိ-ဖြစ်ပါတကား။] → [Ahaṃ - con/tôi, kammassako - là người có nghiệp là tài sản của riêng mình, amhi - là vậy thay.] TRANG 120 ပစ္စတ္တံဝေဒိတဗ္ဗ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Paccattaṃ veditabbo (Để ghi nhớ). စမြော-မဂ် ဖိုလ် နိဗ္ဗာန်, ကိုးတန်သော တရားတော်မြတ်ကို ဝိညူဟိ-ပုထုဇဉ်နှင့်, မတန်သင့်စွာ, လေးသစ္စာကို, ကောင်းစွာမြင်သိ, ပညာရှိအပေါင်း, အရိယာသူတော်ကောင်းတို့သည်။ → Các bậc thiện trí thức, các bậc Thánh hữu học, những vị đã thấy rõ bốn Thánh đế một cách xứng đáng (khác với kẻ phàm phu), đối với chín pháp thượng nhân cao thượng là Đạo, Quả và Niết-bàn. ပစ္စတ္တံ ဝေဒိတဗ္ဗော-ကိုယ်စီကိုယ်င, လိုတိုင်းရ၍, နိဗ္ဗာန်ဓာတ်, သမာပတ်ဖြင့်, မပြတ်သိပိုင်, ခံစားနိုင်ပါပေ၏။ → Paccattaṃ veditabbo: Từng người một, có thể chứng đạt theo ý nguyện và có thể tự mình cảm nhận, thông qua định thiền và giới tính của Niết-bàn một cách không gián đoạn. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để tham khảo. ပစ္စတ္တံဝေဒိတဗ္ဗဂုဏ်တော်သည် “ကိုယ်စီကိုယ်င သိအပ် ခံစားအပ်၏”ဟူသော အနက်ကိုပြ၏။ [ပစ္စတ္တံ+ဝေဒိတဗ္ဗ၊ ပစ္စတ္တံ=ကိုယ်စီကိုယ်င၊ ဝေဒိတဗ္ဗ-သိနိုင် ခံစားနိုင်သည်။] → Ân đức Paccattaṃ veditabbo thể hiện ý nghĩa là "được tự mình hiểu và cảm nhận". [Paccattaṃ + veditabbo; Paccattaṃ = mỗi cá nhân, veditabbo = có thể biết, có thể cảm nhận.] ဤမဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန် တရားတော်သည် ပုထုဇဉ်ပုဂ္ဂိုလ်များနှင့် မတန်မရာချေ။ → Pháp Đạo, Quả và Niết-bàn này vốn không tương xứng với những hạng người phàm phu. သစ္စာလေးပါးသိမြင်၍ အရိယာအဖြစ်သို့ ရောက်ပြီးသော သူတော်ကောင်းကြီးတို့သာ ကိုယ်စီကိုယ်င အလိုရှိတိုင်းရ၍ နိဗ္ဗာန်ကို အာရုံပြုကာ ဖလသမာပတ် ဝင်စားသောအားဖြင့် ခံစားကြရပေသည်။ → Chỉ có những bậc đại thiện tri thức đã thấu triệt Tứ Thánh Đế và đạt đến quả vị Thánh mới có thể tự mình đạt được theo ý nguyện, hướng tâm đến Niết-bàn và cảm nhận thông qua việc nhập định Quả (Phala-samāpatti). [အခြားစိတ်တွေ မပါစေဘဲ ဖိုလ်စိတ်ချည်းသာ ဆက်ကာဆက်ကာ ဖြစ်စေမှုကို “ဖလသမာပတ်ဝင်စားသည်”ဟု ခေါ်၏။] → [Việc làm cho tâm Quả sinh khởi liên tục mà không có các tâm khác xen vào được gọi là "nhập định Quả".] အရိယာတို့သည် ဖလသမာပတ်ကို ဝင်စား၍ နိဗ္ဗာန်ကို အာရုံပြုလေ့ရှိကြ၏။ → Các bậc Thánh thường nhập định Quả và lấy Niết-bàn làm đối tượng. ထိုအခါ ပုထုဇဉ်များ စည်းစိမ်ခံစား သလောက်မက လွန်စွာချမ်းသာတော်မူကြသည်။ → Khi đó, các ngài hưởng thọ sự an lạc vượt xa những hưởng thụ thế gian của kẻ phàm phu. TRANG 121 တရားရှိခိုး ဂါထာဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích bài kệ lễ bái Giáo pháp (Để ghi nhớ). ဣစ္စေဝံ ဆဟိ ဂုဏေဟိ၊ ပါကဋံ ဇိနပူဇိတံ။ သမ္မတ္တဒါယကံ ဓမ္မံ၊ ဝန္ဒာမိ တိဟိ သာဒရံ။ → Iccevaṃ chahi guṇehi, pākaṭaṃ jinapūjitaṃ. Sammattadāyakaṃ dhammaṃ, vandāmi tihi sādaraṃ. → (Dịch Việt): Con xin đảnh lễ Giáo pháp với lòng tôn kính bằng ba cửa (thân, khẩu, ý), Pháp đã được bậc Chiến Thắng (Đức Phật) cúng dường, hiển lộ với sáu ân đức như thế, Pháp ban cho sự chân chánh. ဣစ္စေဝံ ဆဟိ ဂုဏေဟိ-ဤသို့သမ္မာတတာ, အစလာသည့်, ခြောက်ဖြာသော ဂုဏ်တော်တို့ဖြင့်။ → Iccevaṃ chahi guṇehi: Với sáu ân đức bắt đầu bằng tính chất khéo thuyết (Svākkhāto) như vậy. ပါကဋံ-တိတ္ထိတို့ဘောင် လွန်မိုးမြောင်သည့်, ဟန်ဆောင်တရား, အစားစားထက်, မားမားစွင့်စွင့်, ဂုဏ်ရည်တင့်၍, ကြီးမြင့်ထင်ရှားပေသော။ → Pākaṭaṃ: Là pháp cao quý, nổi bật và uy nghi hơn hẳn các loại tà pháp giả tạo vượt trội của các ngoại đạo. ဇိနပူဇိတံ-ကိုယ်တိုင်သိခြား, ကိုယ့်တရားလည်း, ငါးပါးမာရ်နှိမ်, မာရဇိန်ပင်, ကြိမ်ကြိမ်လေးမြတ်, မှီဝဲပူဇော်တော်မူအပ်သော။ → Jinapūjitaṃ: Là pháp mà chính bậc Chiến Thắng (Māra-jina) - người đã khuất phục năm loại ma quân - đã tự mình chứng ngộ và hằng kính trọng, nương nhờ và cúng dường nhiều lần. သမ္မတ္တဒါယကံ-ကျင့်ကြံလိုက်နာ, ဝေနေယျအား, လူ့ရွာနတ်ထံ, နိဗ္ဗာန်အထိ, သမ္မတ္တိကို, မိမိရရ, ပေးစွမ်းနိုင်ပေသော။ → Sammattadāyakaṃ: Là pháp có khả năng ban cho các chúng sinh hữu duyên biết thực hành theo những thành tựu (Sampatti) từ cõi người, cõi trời cho đến Niết-bàn một cách chắc chắn. ဓမ္မံ-မဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန်, ပရိယတ်ဟူ, ဆယ်တန်သော တရားတော်မြတ်ကို။ → Dhammaṃ: Đối với mười pháp cao thượng gồm Đạo, Quả, Niết-bàn và Pháp học (Pariyatti). တိဟိ-လက်အုပ်အဉ္စလီ, နှုတ်သံချီ၍, ကြည်ကြည်မနော, သုံးပါးသော ဒွါရတို့ဖြင့်။ → Tihi: Bằng ba cửa (thân, khẩu, ý), gồm chắp tay cung kính, lời nói tán dương và tâm ý trong sạch. သာဒရံ-လေးမြတ်ကြည်ညို, ရိုသေခြင်းရှိသည်ဖြစ်၍။ → Sādaraṃ: Với sự tôn kính, quý trọng và niềm tin tịnh tín. ဝန္ဒာမိ-စိတ်ဖြင့်ဦးတန်, ဂုဏ်တော်မှန်းလျက်, ချီးမွမ်းထောပနာ, ပဏာညွတ်ကျိုး, လက်စုံမိုး၍, ရှိခိုးကန်တော့ပါ၏ဘုရား။ → Vandāmi: Con xin chắp tay đảnh lễ, tán dương và hướng tâm về ân đức với sự khiêm cung sâu sắc nhất. [ဂုဏ်တော် ၆-ပါးကို တရားဂုဏ်တော်ဖွင့် အစ၌ ပြခဲ့ပြီ။ ဗုဒ္ဓရှင်တော်မှာ ပုံသဏ္ဌာန် ထင်ရှားရှိသကဲ့သို့ တရားတော်မှာ ရုပ်ပုံသဏ္ဌာန် အထင်အရှား မရှိပါ။ ထို့ကြောင့် “ဂုဏ်တော်ထုံမွှမ်း ပုံတော်မှန်းလျက်” ဟု မဆိုဘဲ “စိတ်ဖြင့်ဦးတန်၊ ဂုဏ်တော်မှန်းလျက်” ဟု ဆိုလိုက်ပါသည်။] → [Sáu ân đức đã được trình bày ở phần đầu giải thích về ân đức Pháp. Khác với Đức Phật có hình tướng rõ ràng, Giáo pháp không có hình dáng hữu hình. Do đó, thay vì nói "quán tưởng hình ảnh được bao phủ bởi ân đức", ta nói "đảnh lễ bằng tâm, hướng về các ân đức".] TRANG 122 ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa để tham khảo. တိတ္ထိတို့ဘောင်၊ ဟန်ဆောင်တရား။ → Nơi hàng ngũ ngoại đạo, là những giáo pháp giả tạo. ဗုဒ္ဓဘာသာမှ တစ်ပါးသော အယူရှိသူကို “တိတ္ထိ” ဟု ဆိုလိုပါသည်။ → Những người có đức tin khác ngoài Phật giáo thì được gọi là "Titthi" (ngoại đạo). ထိုတိတ္ထိတို့ သာသနာဘောင်၌ အလွန်များသော ဟန်ဆောင်တရားတွေ ရှိ၏။ → Trong giáo phận của những ngoại đạo đó, có rất nhiều giáo thuyết mang tính hình thức, giả tạo. ပြောပုံဟောပုံကို ကြားရလျှင် များစွာအားထားကိုးကွယ် ယုံကြည်ဖွယ်ကောင်းလှ၏။ → Nếu chỉ nghe qua cách họ diễn thuyết và giảng giải, thì có vẻ rất đáng để nương tựa, tôn thờ và tin tưởng. “ကမ္ဘာလောကကြီးနှင့်တကွ သတ္တဝါတွေကို ဗြဟ္မာမင်းကြီးက ဖန်ဆင်းသည်၊ သုခ ဒုက္ခကိုလည်း ထိုဗြဟ္မာမင်းကြီးအလိုအတိုင်း ခံစားကြရသည်”ဟု ယူဆ၍ ထိုဗြဟ္မာမင်းကြီးကား ဘယ်တော့မှ မသေနိုင်ဘဲ ခိုင်မြဲသော “ထာဝရ” ဟု ယူဆကြသည်။ → Họ quan niệm rằng: "Thế gian này cùng với các chúng sinh đều do Phạm thiên tạo ra, và hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do ý muốn của Phạm thiên đó mà ra"; họ còn cho rằng Phạm thiên ấy là bậc "Thĩnh cửu", vĩnh viễn không bao giờ chết. [သီလက္ခန်ပါဠိတော်၊ ဗြဟ္မဇာလသုတ်]။ → [Kinh Phạm Võng, Thuộc phần Giới Uẩn, Pāḷi]. ဤတရားကို ကြားရသောအခါ ဗြဟ္မာမင်းကြီးကို “အလွန်တန်ခိုးကြီးသော ဗြဟ္မာမင်းကြီး ဖြစ်ပါပေသည်” ဟု ဘုရားကဲ့သို့ အားထားမိကြ၊ ကိုးကွယ်မိကြရှာပေလိမ့်မည်။ → Khi nghe giáo thuyết này, người ta sẽ lầm tưởng Phạm thiên là "bậc Phạm thiên có thần thông quảng đại" rồi nương tựa và tôn thờ như một vị Phật. ဤကမ္ဘာလောကကို မဖန်ဆင်းမီ ထိုဗြဟ္မာမင်းသည် ဘယ်ဆီမှာ နေသနည်း။ → Trước khi tạo ra thế gian này, vị Phạm thiên đó đã ở nơi đâu? “ကောင်းကင်ဘုံမှာ နေသည်”ဟုဆိုလျှင် ထိုကောင်းကင်ကို ဘယ်သူဖန်ဆင်းသလဲ။ → Nếu nói rằng "ở trên thiên giới", thì ai đã tạo ra thiên giới đó? ဗြဟ္မာမင်း ဖန်ဆင်းလျှင် ကောင်းကင်ဘုံမရှိခင် ဘယ်မှာနေသလဲ။ → Nếu Phạm thiên tạo ra nó, vậy trước khi có thiên giới thì ngài ở đâu? ဤကမ္ဘာလောကကြီးကို ဖန်ဆင်းသည်မှာ ဘယ်မျှကြာပြီနည်း။ → Việc tạo ra thế gian này đã diễn ra từ bao lâu rồi? အဘယ်ကြောင့် အို-နာ-သေရေး ကြီးလေးသော ဒုက္ခဘေးတွေကို ဖန်ဆင်းထားပါလိမ့်မည်နည်း။ → Tại sao ngài lại tạo ra những nỗi khổ đau chồng chất của già, bệnh và chết? မည်သူမျှ မလွတ်နိုင်ပါချေတကား။ → Thật vậy, không một ai có thể thoát khỏi chúng. ပထမကမ္ဘာစစ်ကြီး အတွင်းက သတ်ကြဖြတ်ကြသူတွေမှာ ထာဝရဗြဟ္မာမင်း၏ တပည့်တွေချည်းသာ များပါတကား။ → Trong cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất, những kẻ chém giết lẫn nhau phần lớn lại chính là những tín đồ của vị Phạm thiên vĩnh cửu. ယခုအခါ၌ အလုပ်လက်မဲ့ဖြစ်၍ → Ở thời điểm hiện tại, vì bị thất nghiệp... TRANG 123 အနောက်နိုင်ငံ၌ ငတ်ပြတ်နေသူတွေကို တပည့်ရင်းများဖြစ်ပါလျက် ဘယ်အတွက် ကြည့်နေရက်ပါသနည်း။ → ...tại sao ngài lại đành lòng nhìn những người ở phương Tây đang chịu cảnh đói khát, dù họ chính là những tín đồ thân cận của ngài? အနန္တတန်ခိုးတော်ကို ဘယ်နေရာမှာ အသုံးပြုထားပါသနည်း။ → Quyền năng vô hạn của ngài đang được sử dụng vào việc gì? မိမိကို ကိုးကွယ်သော တပည့်များကိုသာ သေသောအခါ ကယ်တင်၍ အခြားဘာသာဝင်ကိုကား မကယ်တင်နိုင်ဘူး၊ သို့မဟုတ် မကယ်တင်ချင်ဘူး ဆိုပါလျှင် ထိုဗြဟ္မာမင်း၏ ကရုဏာ မေတ္တာသည် မျှမျှတတ လုံလုံလောက်လောက် မရှိပါတကား။ → Nếu nói rằng ngài chỉ cứu độ những tín đồ tôn thờ ngài khi họ chết, còn những người theo tôn giáo khác thì ngài không thể hoặc không muốn cứu, thì lòng từ bi và bác ái của vị Phạm thiên đó thật không hề công bằng và đầy đủ. မိဘတို့အစွမ်းကြောင့် အမိဝမ်း၌ အတော်ကြာညောင်းအောင် အောင်းခဲ့ပြီး၍ လက်သည်ဆရာမတို့၏ ကူညီချက်ဖြင့် ထွက်ခဲ့ရသည်ကို အများအသိဖြစ်ပါလျက် ဗြဟ္မာမင်း၏ ပယောဂကို အားကိုးနေသည်မှာ သဘာဝမကျပါ။ → Mọi người đều biết rõ rằng nhờ tinh huyết của cha mẹ mà ta đã nằm trong bụng mẹ một thời gian dài, rồi sau đó được sinh ra nhờ sự trợ giúp của các bà đỡ, nên việc tin vào sự can thiệp của Phạm thiên là điều không hợp lẽ tự nhiên. ဖန်ဆင်းသော ဗြဟ္မာဟူသည် ဘယ်လိုအရာပါနည်း။ → Cái gọi là Phạm thiên tạo hóa ấy thực sự là gì? ဤသို့ စသည်ဖြင့် ကြပ်ကြပ်နယ်နယ် သွယ်သွယ်ဝိုက်ဝိုက် ဆင်ခြင်လိုက်သောအခါ အကြိတ်အနယ်ကို မခံနိုင်ရကား ဘာသာခြားတရားသည် မျောက်ကလေးကို ပင်းမင်းပေးသည်နှင့် တူလှချေ၏။ → Khi ta suy xét một cách thấu đáo, đa chiều và sâu sắc như thế, những giáo lý ngoại đạo này sẽ không chịu nổi sự chất vấn; nó giống như việc bôi thuốc đỏ cho một con khỉ vậy. မျောက် ပင်းမင်းပေးသည့်ပုံ။ ။ရှေးက မိန်းမကို အလွန်ကြောက်ရသည့်ပြင် အင်မတန် ချစ်ခင်သော ယောကျ်ားကို ကိုယ်ဝန်အရင့်အမာရှိသော အိမ်ရှင်မက “ကလေးမျက်နှာ မြင်သောအခါ ကစားဖို့ရာ ဒီမျောက်ကလေးကို ပင်းမင်းဆိုင်အပ်ချေပါ” ဟု ခိုင်းလိုက်သဖြင့် သွား၍ “မျောက်ကလေးကို ပင်းမင်း(ဆေး)ဆိုးပေးပါ” ဟု ပြောဆို အပ်နှံလေသည်။ → Chuyện con khỉ được bôi thuốc đỏ: Ngày xưa, có một người chồng vừa sợ vừa rất mực yêu thương vợ. Người vợ đang mang thai sắp sinh của ông bảo rằng: "Khi thấy mặt con, để cho nó có đồ chơi, ông hãy mang con khỉ này đi bôi thuốc đỏ (Pimm-minn) cho tôi". Vì thế ông ta đã mang con khỉ đi và dặn người thợ: "Hãy bôi thuốc đỏ cho con khỉ này". ပင်းမင်းဆရာက “ခင်ဗျား၏ → Người thợ bôi thuốc nói: "Con khỉ của ông... TRANG 124 မျောက်ကလေးသည် လှအောင် ဆေးဆိုးခြင်းကိုသာ ခံနိုင်မည်၊ ဖြူအောင် ပွတ်လျှော်ဖို့ရာ အထုအရိုက်မခံနိုင်ပါ” ဟု ပြောသဖြင့် ပြန်ယူသွားရသတဲ့။ → ...chỉ có thể chịu được việc bôi màu cho đẹp thôi, chứ không thể chịu được việc chà xát đánh đập để tẩy cho trắng được". Nghe vậy, ông ta đành phải mang nó về. ထို့အတူ ဘာသာခြားတို့၏ တရားများသည် အပေါ်ယံ နားထောင်ကောင်းသလောက် ကြပ်ကြပ်နယ်နယ် စဉ်းစားခြင်းကိုကား မခံနိုင်ပါချေ။ → Cũng vậy, các giáo thuyết của ngoại đạo dù nghe qua có vẻ hay ho ở bề ngoài, nhưng không thể chịu nổi sự suy xét một cách kỹ lưỡng và thấu đáo. မားမားစွင့်စွင့်၊ ဂုဏ်ရည်တင့်၍၊ ကြီးမြင့်ထင်ရှားပေသော။ ။ → Uy nghi sừng sững, ân đức rạng ngời, cao thượng và hiển hách. ဘုရားရှင်၏ တရားတော်ကား အမျိုးမျိုးသော ထိုထိုဗုဒ္ဓဘုရားတို့၏ တရားထက် ဂုဏ်အရည်အချင်းအားဖြင့် မားမားစွင့်စွင့် ကြီးမြင့်ထင်ရှားပေသည်။ → Giáo pháp của Đức Thế Tôn, xét về phẩm chất và ân đức, thì uy nghi, cao thượng và hiển hách hơn hẳn các giáo thuyết của những vị được gọi là "Phật" này "Phật" nọ khác. ဗုဒ္ဓဘာသာတရားတော်သည် ဉာဏ်ပညာကြီးမားသူတို့၏ ကြပ်ကြပ်နယ်နယ် စဉ်းစားမှုကို ခံနိုင်၏။ → Giáo pháp Phật giáo có thể chịu được sự suy xét thấu đáo của những bậc đại trí tuệ. တကယ် ကြီးမားသူမှန်လျှင် “ထမင်းအငတ်ခံ၍ ဥပုသ်စောင့်တာ ဘာအကျိုး ရှိသလဲ၊ အုတ်ပုံကြီးနှင့် အရုပ်တွေကို ကိုးကွယ်နေတာ ဘာကျေးဇူး ရှိသလဲ” ဟု အောက်တန်းတရားကလေးတွေကို ဗုဒ္ဓဘာသာ အသေးစားကလေးများထံ စုံစမ်းမနေဘဲ တကယ့်ပညာရှိ အခေါ်ခံရသော ဆရာတော်များထံ ချဉ်းကပ်၍ အရေးကြီးသော အထက်တန်းတရားများကို စုံစမ်းကြပါလေ။ → Nếu thực sự là người có tầm vóc, thay vì thắc mắc những giáo pháp sơ cấp với những người Phật tử bình thường như: "Nhịn ăn giữ giới thì có ích gì? Thờ cúng đống gạch và các bức tượng thì có lợi gì?", thì hãy đến gặp các vị Hòa thượng được mệnh danh là bậc trí giả thực thụ để tìm hiểu về những giáo pháp cao thượng và quan trọng hơn. [အုတ်ပုံအတွင်း၌ ဘုရားရှင်၏ အရိုးဓာတ်တော်ရှိ၏။ အရုပ်မှာ ဘုရားရှင်၏ ပုံတော်ကို တတ်နိုင်သမျှ ပြုလုပ်အပ်သော ပုံတော်သာဖြစ်ပါသည်။ ထိုပုံတော်များကို ဘုရားအစစ်နှင့် မတူသော်လည်း မှန်း၍ အာရုံပြုနိုင်အောင် ထုလုပ်ကြပါသည်။] → [Bên trong các bảo tháp bằng gạch có chứa Xá-lợi của Đức Phật. Còn các pho tượng chỉ là những hình ảnh được tạo ra hết mức có thể để mô phỏng kim thân của Đức Thế Tôn. Dù những hình tượng đó không giống hệt Đức Phật thật, nhưng chúng được tạo ra để chúng ta có thể quán tưởng và hướng tâm về Ngài.] TRANG 125 ငါးပါးမာရ်နှိမ်၊ မာရဇိန်။ ။မာရ်ငါးပါးကို နှိမ်နင်းတော်မူနိုင်သော၊ မာရ်ငါးပါးကို အောင်တော်မူသော ဘုရားရှင်။ [မာရ-မာရ်ကို+ဇိန(ဇိန်)-အောင်တော်မူ၏။] → Māra-jina (Bậc Chiến Thắng Ma Vương): Đức Thế Tôn là người có khả năng chinh phục và đã chiến thắng năm loại ma quân. [Māra - ma quân + jina - người chiến thắng]. မာရ်ငါးပါး → Năm loại ma quân (Pañcamāra): ၁။ ဒေဝပုတ္တမာရ် = မာရ်နတ်မင်း။ → 1. Devaputta-māra: Thiên tử ma (vị trời luôn tìm cách ngăn cản việc làm thiện). ၂။ ကိလေသာမာရ် = တစ်ထောင့်ငါးရာ ကိလေသာ။ → 2. Kilesa-māra: Phiền não ma (1.500 loại phiền não làm vẩn đục tâm hồn). ၃။ ခန္ဓမာရ် = ခန္ဓာကိုယ်။ → 3. Khandha-māra: Uẩn ma (ngũ uẩn luôn biến đổi, già, bệnh làm cản trở việc tu tập). ၄။ မစ္စုမာရ် = သေခြင်း။ → 4. Maccu-māra: Tử ma (cái chết chấm dứt cơ hội tu hành). ၅။ အဘိသင်္ခါရမာရ် = ကုသိုလ် အကုသိုလ်ကံတည်း။ → 5. Abhisaṅkhāra-māra: Hành ma (các nghiệp thiện và bất thiện dẫn dắt trong luân hồi). ကြိမ်ကြိမ်လေးမြတ်၊ မှီဝဲပူဇော်တော်မူအပ်သော။ ။ဘုရားရှင်သည် ဘုရားဖြစ်တော်မူပြီးနောက် “လောက၌ ရှိသော ကိုးကွယ်ရာ အကြီးအကဲမရှိဘဲနေခြင်းသည် မသင့်လျော်ချေ၊ ငါသည် ဘယ်သူ့ကို ဆည်းကပ်ရမည်နည်း”ဟု ဆင်ခြင်တော်မူလေရာ၊ ဘုရားရှင်၏ ဆည်းကပ်ရှိခေမှု ခံနိုင်မည့်သူကို မြင်တော်မမူ၊ → Bậc hằng kính trọng, nương nhờ và cúng dường nhiều lần: Sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn suy xét rằng: "Sống ở đời mà không có bậc lãnh đạo để nương tựa, tôn thờ thì thật không xứng đáng; vậy Ta nên y chỉ vào ai?". Khi Ngài quan sát, Ngài không thấy một ai xứng đáng để Ngài y chỉ. ထိုအခါ “ကိုယ်တော်တိုင်သိမြင်အပ်သော တရားကိုပင် အကြိမ်ကြိမ် အထပ်ထပ် ဆင်ခြင်သောအားဖြင့် လေးလေးမြတ်မြတ် ပူဇော်ရတော့မည်”ဟု ကြံတော်မူခဲ့ပါသည်။ [တရားတော်ကို မပြတ်ဆင်ခြင်၍ နေခြင်းကိုပင် “တရားပူဇော်သည်”ဟု ဆိုသည်။] → Khi đó, Ngài quyết định: "Ta sẽ tôn thờ và kính trọng chính Giáo pháp mà Ta đã tự mình chứng ngộ bằng cách hằng thường suy xét và quán chiếu nhiều lần". [Việc hằng thường quán chiếu Giáo pháp được gọi là "cúng dường Pháp"]. ကျင့်ကြံလိုက်နာ၊ ပေးစွမ်းနိုင်ပေသော။ ။တရားတော်သည် ကျင့်ကြံလိုက်နာသော ဝေနေယျအပေါင်းအား လူနတ်တို့၏ → [Bậc] có khả năng ban cho việc thực hành và tuân theo: Giáo pháp có khả năng ban tặng cho những chúng sinh hữu duyên (veneyya) biết thực hành theo những sự thành tựu (sampatti) của cõi người, cõi trời TRANG 126 ပူဇော်အပ်သော သမ္မတ္တိ၊ နိဗ္ဗာန်ချမ်းသာဟူသော သမ္မတ္တိကို ပေးစွမ်းနိုင်၏။ → [Giáo pháp] có khả năng ban cho sự thành tựu (sampatti) xứng đáng được cúng dường, và sự thành tựu là hạnh phúc Niết-bàn. တရားတော်ကို သိသော်လည်း မကျင့်မလိုက်နာလျှင် စည်းစိမ်ချမ်းသာကို ပေးဖို့ရန် တာဝန်မရှိချေ။ → Dù có hiểu biết Giáo pháp nhưng nếu không thực hành và tuân theo, thì [Giáo pháp] không có trách nhiệm ban cho sự an lạc và thịnh vượng. “ကိုယ်ကျင့်မှ ကိုယ်ရမည်” ဟူလို။ → Ý nói rằng: "Phải tự mình thực hành thì mới tự mình nhận được kết quả." [ကြွင်းသော အနက်၏ အဓိပ္ပာယ်များကို ဘုရားဂုဏ်တော်အဖွင့်၌ ရေးခဲ့ပြီ]။ → [Những ý nghĩa còn lại đã được viết trong phần giải thích các ân đức Phật]. တရားပူဇော်နည်း။ ။“ဘုရားရှင်နှင့် သံဃာတော်သည် ပုံသဏ္ဌာန် အထင်အရှားရှိတော်မူသောကြောင့် ပူဇော်၍ဖြစ်၏။ → Cách cúng dường Pháp: "Vì Đức Phật và Tăng đoàn có hình tướng hiện hữu rõ ràng nên có thể cúng dường được. တရားတော်ကား ပုံသဏ္ဌာန် မထင်ရှားသောကြောင့် မည်ကဲ့သို့ ပူဇော်ရပါအံ့နည်း”ဟု အကြံဖြစ်၍ ပုဏ္ဏားတစ်ယောက်သည် ဘုရားထံ လျှောက်ထားလေ၏။ → Nhưng Giáo pháp lại không có hình tướng rõ ràng, vậy phải cúng dường như thế nào?", một vị Bà-la-môn đã có ý nghĩ như vậy và bạch hỏi Đức Phật. ဘုရားရှင်ကလည်း “ပုဏ္ဏား- တရားတော်ကို ပူဇော်လိုလျှင် တရားတော်ကို များစွာသိ၍ ဗဟုသုတရှိသော ရဟန်းတော်ကို ပူဇော်လေ”ဟု မိန့်တော်မူသဖြင့် သံဃာများအထဲ ဗဟုသုတရှိသော ရဟန်းတော်ကို မေးလျှောက်လေရာ အရှင်အာနန္ဒာကို ညွှန်ပြကြသဖြင့် တရားတော်ကို ရည်မှန်း၍ တစ်ထောင်တန် သက္ကန်းဖြင့် လှူဒါန်းပူဇော်လေသည်။ → Đức Phật dạy rằng: "Này Bà-la-môn, nếu muốn cúng dường Giáo pháp, hãy cúng dường vị tỳ-khưu am hiểu sâu rộng và có nhiều kiến thức về Giáo pháp"; vị ấy bèn hỏi trong tăng chúng ai là người uyên bác, mọi người chỉ tôn giả Ānanda, vì vậy vị ấy đã dâng cúng một bộ y đáng giá một ngàn [vàng] để hướng về Giáo pháp. ထို့ကြောင့် ယခုကာလ၌ ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်ဟူသမျှတို့သည် ကိုယ်စီကိုယ်င ရဟန်းတော်များကို ဆည်းကပ်ကိုးကွယ်ကြရာ၌ ဘုရားရှင်ဟောပြတော်မူအပ်သော စာပေပရိယတ်ကို သင်ယူခြင်း၊ တတ်မြောက်၍ ပို့ချခြင်း၊ ဟောပြခြင်း၊ ကျမ်းရေးခြင်းတို့ဖြင့် သာသနာတာဝန်ကို အမြဲထမ်းဆောင်နေသော ပုဂ္ဂိုလ်များကို ဆည်းကပ်ကိုးကွယ်၍ ဆွမ်း၊ သက္ကန်း၊ ကျောင်း၊ ဆေးတို့ဖြင့် ထောက်ပံ့ပြုစု ဂရုစိုက်နေသူတို့မှာ “ငါတို့သည် တရားတော်ကိုလည်း အမြဲပူဇော်၍ နေရပေသည်။ → Do đó, vào thời nay, tất cả những người con Phật khi thân cận và y chỉ vào các vị tỳ-khưu, hãy hướng tâm đến những vị đang gánh vác trách nhiệm hộ trì giáo pháp bằng cách học tập Pháp học (Pariyatti) mà Đức Phật đã thuyết, giảng dạy khi đã thông suốt, hay thuyết pháp và biên soạn kinh sách. Những người đang chăm sóc và hỗ trợ các vị ấy bằng vật thực, y phục, chỗ ở và thuốc chữa bệnh, chính là đang tự nhủ rằng: "Chúng ta cũng đang hằng thường cúng dường lên Giáo pháp." TRANG 127 ငါတို့သာ မထောက်ပံ့လျှင် ငါတို့အရှင်သည် တတ်သိသော ပညာတွေကို သူတစ်ပါးအား ရေးသားဝေငှ ပို့ချနိုင်မည်မဟုတ်။ → Nếu chúng ta không hỗ trợ, thì vị thầy của chúng ta sẽ không thể biên soạn, chia sẻ hay giảng dạy những kiến thức đã thông suốt cho người khác được. ငါတို့၏ ကူညီမှုကြောင့်သာ အဆက်ဆက် တိုးပွားအောင် သာသနာဝန်ကို ဆောင်နိုင်ပေသည်။ → Chính nhờ sự giúp đỡ của chúng ta mà vị ấy mới có thể gánh vác gánh nặng giáo pháp để làm cho giáo pháp hằng được phát triển qua các thế hệ. ငါတို့အရှင် ရွက်ဆောင်သမျှ တာဝန်တွေကို ငါတို့ကလည်း ကူညီထမ်းဆောင်ရာရောက်သဖြင့် ငါတို့အရှင် ရသမျှ ပညာပါရမီကို ငါတို့လည်း မုချရတော့မည်”ဟု ဟုတ်မှန်သည့်အတိုင်း ဉာဏ်ကိုချဲ့ထွင်၍ ဆင်ခြင်စဉ်းစားလျက် အားတက်သရော ရှိသင့်ကြပေသည်။ → "Vì chúng ta cũng góp phần gánh vác những trách nhiệm mà vị thầy đang thực hiện, nên chắc chắn chúng ta cũng sẽ nhận được những công đức tuệ Ba-la-mật mà vị ấy đạt được"; với sự mở mang trí tuệ và suy xét đúng đắn như vậy, người cư sĩ nên có tâm nhiệt thành và hăng hái. ထို့ကြောင့် သာသနာကိုပြုနိုင်သော အင်အားရှိသူ ဒကာ ဒကာမတို့ကလည်း မိမိတို့ ရပ်ရွာ မြို့နယ်၌ စာချနိုင်မည့်ပုဂ္ဂိုလ်ကို ရွေးချယ်၍ဖြစ်စေ၊ မြို့ကြီးပြကြီးမှ ယုံကြည်စိတ်ချလောက်သော စာချပုဂ္ဂိုလ်ကို ပင့်၍ဖြစ်စေ အသီးသီး စာသင်တိုက်တည်လျှင် စာသင်သားတွေ မြို့ကြီးပြကြီးသို့ တက်၍ မသင်ရဘဲ မိဘဆရာတို့အနီးမှာပင် သင်ကြရသဖြင့် ယခုလို အပျက်အစီး မများရကား သာသနာတော်ကြီးသည် အတော်သန့်ရှင်းလျက် တိုးတက်လာပေလိမ့်မည်။ → Vì vậy, những thí chủ có khả năng hộ trì giáo pháp nên tự mình lựa chọn những vị có khả năng giảng dạy trong làng xóm, quận huyện của mình, hoặc cung thỉnh những vị giáo thọ sư đáng tin cậy từ các thành phố lớn về để thành lập các trường sơ cấp Phật học. Khi đó, những tăng sinh trẻ không cần phải lên thành phố lớn mà có thể học ngay gần cha mẹ và thầy tổ, tránh được nhiều sự hư hỏng như hiện nay, và giáo pháp sẽ ngày càng thanh tịnh, phát triển hơn. ထို့ကြောင့် ယခုပြခဲ့သော တရားပူဇော်နည်းကို သတိထား၍ တရားတော်ကို ပူဇော်တတ်သော သာသနာ့ဒါယကာ သာသနာ့ဒါယိကာမများ ဖြစ်ကြပါစေသတည်း။ → Do đó, hãy tỉnh giác theo cách thức cúng dường Pháp đã trình bày, nguyện cầu quý vị trở thành những nam nữ cư sĩ thí chủ biết cách cúng dường lên Giáo pháp một cách đúng đắn. TRANG 128 အထူးသတိပေးချက်။ ။“ဤပြခဲ့ပြီးသော စကားအစဉ်ဖြင့် တရားစစ် တရားမှန်ကို အတော်အတန် ရိပ်မိလောက်ပေပြီ။ → Lời cảnh báo đặc biệt: "Qua những lời lẽ đã trình bày này, quý vị hẳn đã phần nào nhận thức được đâu là Giáo pháp thực thụ, chân chính. ယခုအခါ မြန်မာနိုင်ငံ၌ အများအပြား အသုံးပြုနေကြသော အချို့ တရားစာအုပ်နှင့် တစ်ချို့သော တရားဟောပုဂ္ဂိုလ်များ၏ ဟောပြောချက်တွေကို “တရားလား၊ မတရားလား”ဟု စဉ်းစားကြဖို့ရန် ထပ်မံ၍ သတိပေးလိုသည်မှာ- → Hiện nay tại Myanmar, tôi muốn cảnh báo thêm một lần nữa để quý vị suy xét xem "là Pháp hay phi Pháp" đối với một số sách kinh điển và những lời giảng giải của một vài vị giảng sư đang được sử dụng phổ biến: ဘုရားရှင် ပွင့်တော်မမူမီ ရှေးက ဟိမဝန္တာမှ မျော၍လာသော ပုစွန်လက်မကြီးတစ်ခုကို “သာဂဟ”မင်းတို့သည် မင်္ဂလာစည်တော်အဖြစ်ဖြင့် အသုံးပြုကြလေသည်။ → Trước khi Đức Phật ra đời, các vị vua dòng "Sāgaha" đã sử dụng một cái càng tôm khổng lồ trôi từ dãy Himalaya về để làm cái trống điềm lành (Măng-ga-la). ထိုစည်တော်ကြီး၏ အသံသည် ၁၂-ယူဇနာတိုင်အောင်ပင် ပျံ့နှံ့ပါသတဲ့။ → Nghe nói âm thanh của cái trống lớn đó vang xa đến tận 12 do-tuần (yojanā). ထို့နောက် တရွေ့ရွေ့ ဆွေးမြည့်လာသဖြင့် စည်တော်ကြီးပေါက်တိုင်း ရွှေပြား၊ ငွေပြားတို့ဖြင့် ဖာထေးလာခဲ့ရာ အတော်ကြာလျှင် ပုစွန်လက်မ အသားကုန်၍ အဖာတွေချည်း ဖြစ်လေ၏။ → Về sau, vì trống dần dần bị mục nát, nên mỗi khi trống bị thủng, người ta lại vá vào bằng những miếng vàng, miếng bạc; sau một thời gian dài, phần vỏ càng tôm ban đầu đã mất hết, chỉ còn lại toàn là những miếng vá. တီးခေါက်သောအခါ ၁၂-ယူဇနာကို မဆိုထားဘိ၊ စည်တော်ကြီး၏ ထက်ဝန်းကျင် အနီးအပါးမှာပင် ကောင်းစွာ မကြားရတော့ချေ။ → Đến khi đánh trống, đừng nói chi là 12 do-tuần, ngay cả vùng lân cận xung quanh cái trống lớn đó cũng không còn nghe rõ được nữa. ထို့အတူ ဘုရားရှင်၏ တရားစစ်တွေကို လက်သစ်ဓမ္မကထိကတို့က အဆန်းတကြယ် ထည့်သွင်းဖာထေးမှုကြောင့် အစစ်အမှန် အရင်းခံ တရားတော်တွေ ကွယ်ပျောက်ရချေပြီ။ → Tương tự như vậy, vì những vị giảng sư thời nay thêm thắt và vá víu những điều mới lạ vào, nên những Giáo pháp chân chính nguyên thủy đã bị che lấp và tiêu biến mất. ထိုကွယ်ပျောက်သည့်အတိုင်း စည်ကြီးမှ အသံကောင်းမထွက်သလို ဓမ္မကထိကတို့ → Khi sự tiêu biến đó xảy ra, cũng giống như cái trống lớn không còn phát ra âm thanh hay, các vị giảng sư... TRANG 129 ဖာထေးထားသော တရားအတုမှ မဂ်ဖိုလ်နိဗ္ဗာန် အကျိုးရဖို့ကို မဆိုထားဘိ၊ အထိုက်အလျောက် လောဘ ဒေါသနည်းပါး၍ အသိအလိမ္မာတိုးပွားမှု အကျိုးကိုမျှ မရတော့ဘဲ အသံကျယ်သလောက် အဆန်မပါသော သင်္ကြန်အမြောက်လို ဖြစ်လေတော့သည်။ → ...từ những giáo pháp giả tạo đã được vá víu đó, đừng nói đến việc đạt được lợi ích Đạo, Quả và Niết-bàn, ngay cả cái lợi ích nhỏ nhoi là làm giảm bớt tham, sân và tăng trưởng sự hiểu biết cũng không còn nhận được nữa; nó trở nên giống như pháo Tết (Thingyan), tiếng thì vang rất lớn nhưng bên trong lại rỗng tuếch. [နိဒါနဝဂ္ဂ၊ ဩပမ္မသံယုတ်၊ အာဏိသုတ်]။ → [Tương Ưng Bộ, Phẩm Thí Dụ, Kinh Cái Chốt (Āṇi Sutta)]. အို... ဗုဒ္ဓဘာသာဝင် သူတော်စင်အပေါင်းတို့၊ ဗုဒ္ဓဘာသာစစ်စစ်ဖြစ်လိုလျှင် အမြန်ပြုပြင်ကြလေော့။ → Ôi... hỡi các bậc thiện hữu Phật tử, nếu muốn trở thành những người con Phật chân chính, hãy mau chóng sửa đổi. ဘုရား၊ တရား၊ သံဃာ ကိစ္စများနှင့်ဆိုင်ရာ၌ မဟာကုသိုလ် သောမနဿဖြင့် ပျော်ရွှင်ဖို့သာ ရှိသည်။ → Trong những việc liên quan đến Phật, Pháp và Tăng, chỉ nên có sự hoan hỷ với tâm đại thiện hỷ (Mahākusala somanassa). တဏှာသဘော လောဘဇော တိုက်တွန်းကာ “အသံက သာယာလိုက်တာ၊ ဘယ်ဂါထာရွတ်ပုံမှာ ဇာတ်မင်းသားတောင် မသာဘူး၊ ဘယ်အချက် စကားလုံးပုံလေးဟာ လွန်စွာ ထိတာပဲ” စသော ချီးမွမ်းစကားသည် ပြောသူမရှက်သော်လည်း ကြားရသူများမှာ နားရှက်ဖွယ်ကောင်းလှချေ၏။ → Những lời khen ngợi mang tính chất ái dục và động cơ tham ái như: "Giọng điệu thật ngọt ngào, cách tụng bài kệ này ngay cả diễn viên kịch cũng không bằng, cách dùng từ ngữ này thật là đánh trúng tâm lý"; những lời như vậy dù người nói không biết hổ thẹn, nhưng người nghe thật sự cảm thấy hổ thẹn thay. တရားဟောပုဂ္ဂိုလ်ကလည်း ထိုကဲ့သို့ ချီးမွမ်းသံကို အရသာခံပြီးလျှင် အသံသာအောင်လည်း ဂရုစိုက်ရှာ၏။ → Vị giảng sư cũng lại đắm mình vào những lời khen ngợi đó mà cố công chăm chút sao cho giọng nói được ngọt ngào hơn. လွမ်းခန်းဆွေးခန်းကိုလည်း မပါပါအောင် ထည့်သွင်းရှာ၏။ → Vị ấy cũng cố tìm cách đưa vào những cảnh bi lụy, sầu thảm dù nó không cần thiết. ဘုရားဟောမဟုတ်၊ ယူတ္တိလည်းမရှိသော သီဟိုဠ်ကျွန်းဖြစ် ဝတ္ထုများစွာနှင့် ဇာတ်လမ်းပမာဏတို့လာသော ဒဏ္ဍာရီဝတ္ထုတို့ကို များများကြီး အသုံးပြုရှာ၏။ → Vị ấy lạm dụng rất nhiều những câu chuyện dân gian truyền miệng và những cốt truyện từ đảo Sri Lanka vốn không phải lời Phật dạy và cũng không có tính hợp lý. TRANG 130 ဒုတိယကမ္ဘာစစ်ကြီးပြီးသော ယခုခေတ်၌ကား ကမ္မဋ္ဌာန်းတရားတွေပင် အတော်ပေါများ၍ လာပြန်၏။ → Trong thời đại hiện nay, sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, các pháp hành thiền định (Kammaṭṭhāna) lại trở nên khá phổ biến. ထိုတရားများဖြင့် တရားပေါက်သည်ဟု ဆိုကြသူများလည်း အတော်များများ ကြားသိရ၏။ → Người ta cũng nghe nói có khá nhiều người tuyên bố rằng đã đắc pháp (thấu triệt giáo pháp) nhờ vào những pháp hành đó. ထိုသို့ ကြားသိရာ၌ အတော်စဉ်းစားဖွယ်ကောင်းသော အချက်တစ်ခုကား တရားပေါက်သောအခါ ဘုန်းကြီးတွေကို မကြည်ညိုနိုင်၊ မလှူဒါန်းနိုင်သော အချက်ပင်တည်း။ → Trong những điều nghe được ấy, có một điểm đáng để suy ngẫm là: khi đã đắc pháp, người ta lại không thể khởi tâm tịnh tín hay cúng dường đến các vị Tỳ-khưu (Bhikkhu) nữa. တရားအစစ်ပေါက်ပြီးဖြစ်သော ဝိသာခါသည် မကောင်းဘုန်းကြီးနှင့် တွေ့သောအခါ "ဒီလို မနေပါနှင့်" ဟု ပြော၍ ရဟန်းတော်များကိုကား ကြည်ညိုမြဲ ကြည်ညိုခဲ့ပါသည်။ → Nàng Visākhā, người đã thực sự đắc pháp (chứng quả Thánh), khi gặp một vị Tỳ-khưu không tốt, bà chỉ nói rằng "Xin ngài đừng ở như thế này", nhưng đối với chư Tăng, bà vẫn luôn giữ lòng tịnh tín như cũ. ထို့ကြောင့် တရားပေါက်ခြင်းနှင့် သံဃာကြည်ညိုခြင်းကို စဉ်းစားသင့်ကြသည်။ → Do đó, cần phải suy xét kỹ về mối quan hệ giữa việc đắc pháp và lòng tịnh tín đối với Tăng đoàn (Saṅgha). ယခုအခါ သာသနာတော်ကြီးဖြစ်နေပုံသည် ရေစုန် လေစုန်မှာ ရွက်ကုန်ဆင်ပြီးလျှင် တက်ကုန်နှင်နေသော လှေ၏ သဘောကဲ့သို့ ကောင်းကောင်းကြီး မျောနေတော့၏။ → Tình trạng của Giáo pháp (Sāsana) hiện nay đang trôi đi một cách nhanh chóng, giống như một con thuyền vừa căng hết buồm theo chiều gió, chiều nước, lại vừa ra sức chèo thêm vậy. "ဘုရား သိကြား မလို့" ငါတို့ လက်ထက်မှာ ပြုပြင်နိုင်သူများ ပေါ်ထွက်ပါစေသတည်း။ → Cầu mong sao trong thời đại của chúng ta, sẽ xuất hiện những bậc có khả năng chấn hưng Giáo pháp, như thể có sự hộ trì của Đức Phật và Thiên chủ Sakka. တရားရတနာတော်ဖွင့် ပြီးပြီ။ → Phần trình bày về Pháp Bảo (Dhamma Ratana) đến đây là kết thúc. TRANG 131 သံဃာရတနာတော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန် ပါဠိတော်) → Trình bày về Tăng Bảo (Saṅgha Ratana) - (Kinh văn Pali để học thuộc lòng). သုပ္ပဋိပန္နော ဘဂဝတော သာဝကသံဃော၊ → Suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho: Diệu hạnh là dự chúng đệ tử của Đức Thế Tôn. ဥဇုပ္ပဋိပန္နော ဘဂဝတော သာဝကသံဃော၊ → Ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho: Trực hạnh là dự chúng đệ tử của Đức Thế Tôn. ဉာယပ္ပဋိပန္နော ဘဂဝတော သာဝကသံဃော၊ → Ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho: Ứng lý hạnh là dự chúng đệ tử của Đức Thế Tôn. သာမီစိပ္ပဋိပန္နော ဘဂဝတော သာဝကသံဃော၊ → Sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho: Chánh hạnh là dự chúng đệ tử của Đức Thế Tôn. (ယဒိဒံ စတ္တာရိ ပုရိသယုဂါနိ အဋ္ဌပုရိသပုဂ္ဂလာ)၊ → (Yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā): Tức là bốn đôi hiển thánh, tám vị thánh nhân. ဧသ ဘဂဝတော သာဝကသံဃော၊ → Esa bhagavato sāvakasaṅgho: Đó là dự chúng đệ tử của Đức Thế Tôn. အာဟုနေယျော၊ ပါဟုနေယျော၊ ဒက္ခိဏေယျော၊ အဉ္ဇလိကရဏီယျော၊ အနုတ္တရံ ပုညက္ခေတ္တံ လောကဿ။ → Āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa: Đáng được cúng dường, đáng được thụ lễ, đáng được tế độ, đáng được chắp tay tôn kính, là phước điền vô thượng ở đời. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. သံဃ-ဟူသော ပါဠိစကားကို မြန်မာလို "သံဃာ" ဟု ခေါ်၏။ → Từ Pali "Saṅgha" được gọi trong tiếng Miến là "Saṅghā". အနက်အဓိပ္ပာယ်မှာ "အပေါင်းအစု အသင်းအဖွဲ့" ဟု ဖြစ်၏။ → Nghĩa của nó là "nhóm, tập hợp, đoàn thể hoặc hiệp hội". ထို့ကြောင့် အယူဝါဒသိက္ခာအားဖြင့် တူကြသော ရဟန်းတော်တို့၏ အပေါင်းအစု အသင်းအဖွဲ့ကို "သံဃာ" ဟု မှတ်ပါ။ → Vì vậy, hãy hiểu "Saṅgha" là tập thể, đoàn thể của các vị Tỳ-khưu có cùng chung giới hạnh và quan điểm (tri kiến). သံဃိကမြောက်အောင် လှူဒါန်းရာ၌ တစ်သင်းလုံး၊ တစ်ဖွဲ့လုံး၊ တစ်သာသနာလုံး၊ ရည်မှန်းရသည်။ → Khi cúng dường theo cách thức Tăng bảo (Saṅghika), người cúng cần hướng tâm đến toàn bộ đoàn thể, toàn bộ tổ chức và toàn bộ Giáo pháp. သံဃာ့ဂုဏ်တော် ၉-ပါး → 9 Ân đức của Tăng bảo (Saṅgha Guna). ၁။ သုပ္ပဋိပန္နဂုဏ်၊ ၂။ ဥဇုပ္ပဋိပန္နဂုဏ်၊ ၃။ ဉာယပ္ပဋိပန္နဂုဏ်၊ ၄။ သာမီစိပ္ပဋိပန္နဂုဏ်။ → 1. Suppaṭipanna Guna, 2. Ujuppaṭipanna Guna, 3. Ñāyappaṭipanna Guna, 4. Sāmīcippaṭipanna Guna. ၅။ အာဟုနေယျဂုဏ်၊ ၆။ ပါဟုနေယျဂုဏ်၊ ၇။ ဒက္ခိဏေယျဂုဏ်၊ ၈။ အဉ္ဇလိကရဏီယဂုဏ်၊ ၉။ အနုတ္တရပုညက္ခေတ္တဂုဏ်။ → 5. Āhuneyya Guna, 6. Pāhuneyya Guna, 7. Dakkhiṇeyya Guna, 8. Añjalikaraṇīya Guna, 9. Anuttara-puññakkhetta Guna. TRANG 132 သုပ္ပဋိပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Suppaṭipanna (Để học thuộc lòng). (၁) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သာဝကသံဃော-ဆုံးမထားဟန်၊ တရားမှန်ကို၊ နာခံလိုက်နာ၊ အရိယာဟု၊ သင်္ချာရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ သူတော်ကောင်းသည်။ → (1) Bhagavato: của Đức Thế Tôn, bậc làm chủ các vinh hiển; Sāvakasaṅgho: dự chúng đệ tử gồm 8 hạng bậc Thánh (Ariya), những bậc chân nhân luôn nghe theo và thực hành đúng theo giáo pháp đã được giáo huấn. သုပ္ပဋိပန္နော-တရားသဖြင့်၊ ဆုံးမသင့်ရာ၊ သာသနာဝယ်၊ လျော်စွာထုံးပြု၊ ဆုံးအမကို၊ လုံးဝလိုက်နာ၊ ကောင်းမွန်စွာလည်း ကျင့်တော်မူတတ်ပါပေ၏။ → Suppaṭipanno: là bậc thực hành đúng đắn, thực hành tốt đẹp, hoàn toàn vâng giữ và làm theo những lời giáo huấn phù hợp với Giáo pháp cần được truyền dạy. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. သုပ္ပဋိပန္နဂုဏ်တော်သည် "ကောင်းစွာ ကျင့်တော်မူတတ်၏" ဟူသော အနက်ကို ပြသည်၊ [သု-ကောင်းစွာ+ပဋိပန္န-ကျင့်သည်]။ → Ân đức Suppaṭipanna thể hiện ý nghĩa là "người thực hành tốt đẹp", [Su-tốt đẹp + Paṭipanna-thực hành]. အရိယာဟု သံဃာတော်အပေါင်း။ ။ မဂ်ဖိုလ်၌ တည်သော (မဂ်ဖိုလ်ရပြီးသော) ပုဂ္ဂိုလ်ကို "အရိယာ" ဟုခေါ်၏။ [အရိယ-မြတ်သူ၊ တစ်နည်း-ဖြူစင်သူ]။ → Dự chúng Tăng được gọi là Ariya: Những người an trú trong Đạo và Quả (người đã đắc Đạo Quả) được gọi là "Ariya". [Ariya - Bậc cao quý, hoặc theo cách khác - Người thanh tịnh]. မဂ္ဂ ၄-မျိုး: ၁။ သောတာပတ္တိမဂ်ပုဂ္ဂိုလ်၊ ၂။ သကဒါဂါမိမဂ်ပုဂ္ဂိုလ်၊ ၃။ အနာဂါမိမဂ်ပုဂ္ဂိုလ်၊ ၄။ အရဟတ္တမဂ်ပုဂ္ဂိုလ်။ → 4 loại Đạo (Magga): 1. Bậc Dự lưu đạo, 2. Bậc Nhất lai đạo, 3. Bậc Bất lai đạo, 4. Bậc A-la-hán đạo. ဖလဋ္ဌ ၄-မျိုး: ၁။ သောတာပတ္တိဖိုလ်ရပုဂ္ဂိုလ်၊ ၂။ သကဒါဂါမိဖိုလ်ရပုဂ္ဂိုလ်၊ ၃။ အနာဂါမိဖိုလ်ရပုဂ္ဂိုလ်၊ ၄။ အရဟတ္တဖိုလ်ရပုဂ္ဂိုလ်။ → 4 loại Quả (Phala): 1. Bậc Dự lưu quả, 2. Bậc Nhất lai quả, 3. Bậc Bất lai quả, 4. Bậc A-la-hán quả. TRANG 133 ရှေးခေတ်က အရိယာသံဃာတော်သည် ထောင်သောင်းများစွာ ရှိကြပါသော်လည်း အမျိုးအစားဖြင့် ဤရှစ်မျိုးတွင် အားလုံးပါဝင်ကြ၏။ → Thời xưa, dù các bậc Thánh Tăng (Ariya Saṅghā) có đến hàng ngàn hàng vạn vị, nhưng xét về chủng loại thì tất cả đều bao hàm trong tám hạng này. ထို့ကြောင့် “အရိယာရှစ်ယောက်” ဟု ပြောစမှတ်ပြုကြသော်လည်း စင်စစ်မှာ ရှစ်ယောက်မဟုတ်၊ ရှစ်မျိုးသာ ဖြစ်၏။ → Do đó, dù thường được gọi là "tám vị Thánh", nhưng thực chất không phải là tám cá nhân riêng biệt, mà là tám thánh loại (tám tầng bậc). တရားသဖြင့် ဆုံးမသင့်ရာ။ ။ ဘုရားရှင်၏ တပည့်အစစ် ဖြစ်တော်မူကြသော အရိယာသံဃာအပေါင်းသည် တရားသဖြင့် ဆုံးမရာ သာသနာတော်နှင့် သင့်လျော်အောင် ထုံးဟောင်းသက်သေပြု၍ ဆုံးမအပ်သော အဆုံးအမတော်ကို လုံးဝဥဿုံ အကုန်အစင် လိုက်နာ၍ ကောင်းမွန်စွာ ကျင့်ကြံတော်မူကြပေသည်။ → Thực hành đúng đắn theo giáo huấn: Toàn thể chúng Thánh Tăng, những bậc đệ tử đích thực của Đức Thế Tôn, đều noi theo những gương hạnh cổ xưa để phù hợp với Giáo pháp, vâng giữ trọn vẹn và thực hành tốt đẹp những lời giáo huấn cần được truyền dạy trong Giáo hội. အနည်းငယ်အပြစ်ကိုပင် အလွန်ကြီးသောအပြစ်ဟု ထင်လျက် ရှောင်ကြဉ်တော်မူကြပေသည်။ → Thậm chí đối với một lỗi nhỏ nhất, các Ngài cũng xem đó là lỗi lớn và luôn nỗ lực tránh xa. ထိုသို့ အဆုံးအမကို လိုက်နာသော အရိယာပုဂ္ဂိုလ်များလည်း ဘုရားလက်ထက်တော်မှစ၍ များစွာရှိခဲ့ဖူးပါသည်။ → Những bậc Thánh nhân vâng giữ giáo huấn như vậy đã xuất hiện rất nhiều kể từ thời Đức Phật còn tại thế. အရှင်သာရိပုတ္တရာ ဝတ္ထု → Tích truyện Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta). ယခုကာလ ဘုရားပွဲသည် ကျင်းပသောအခါ ထိုထိုနေရာတို့၌ အလှူမဏ္ဍပ်ဆောက်၍ နေ့ရက်များစွာ ဓာတုဝိသက္ကျကျွေးသကဲ့သို့ ရှေးလက်ထက်ကလည်း လူအများစုပေါင်းလျက် ဧည့်သည်များအတွက် ဓာတုဝိသက္ကျကျွေးလေ့ရှိကြသည်။ → Vào thời nay, khi tổ chức lễ hội chùa chiền, người ta thường dựng các rạp thí thực ở nhiều nơi để thiết đãi thực phẩm trong nhiều ngày; cũng vậy, vào thời xưa, dân chúng thường hợp sức lại để tổ chức những bữa ăn thiết đãi khách tăng. ထိုအရပ်၌ အချို့ရဟန်းတော်များ နေ့စဉ်နေ့စဉ်သွား၍ စားသောက်ကြသည့်အတွက် လူတို့က ကဲ့ရဲ့သောကြောင့် “ယနေ့ကစ၍ တစ်ရက်တည်းသာ စားရမည်” ဟု ဘုရားရှင် ပညတ်တော်မူသည်။ → Tại nơi đó, vì có một số vị Tỳ-khưu ngày nào cũng đến ăn khiến dân chúng phê phán, nên Đức Thế Tôn đã ban hành giới luật rằng: "Kể từ nay, chỉ được phép ăn (tại nhà mát/trạm dừng) một ngày duy nhất". အရှင်သာရိပုတ္တရာသည် → Khi đó, Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta)... TRANG 134 ဒေသစာရီလှည့်လည်ရင်း ထိုဓာတုဝိသက္ကျကို မကျန်းမမာဖြစ်နေ၏။ → Trong khi đi du hành qua các địa phương, Ngài đã bị đổ bệnh do ăn loại thực phẩm thiết đãi đó. ထိုအခါ တစ်ရက်စာ ဆွမ်းဘုဉ်းပေးတော်မူပြီးလျှင် နောက်ရက်၌ လူအများက ကပ်လှူကြပါသော်လည်း “ဘုရားရှင် တားမြစ်တော်မူသည်” ဟု ဘုဉ်းပေးတော်မမူဘဲ ရှောင်လွှဲတော်မူကာ ဆွမ်းအပြတ်ခံတော်မူခဲ့ရှာသည်။ → Khi ấy, dù sau khi đã thọ thực một ngày, vào ngày kế tiếp dân chúng vẫn tiếp tục dâng cúng, nhưng Ngài đã không thọ nhận mà tìm cách từ chối vì nghĩ rằng “Đức Thế Tôn đã ngăn cấm”, và Ngài đã cam chịu nhịn đói. ထို့နောက် ဘုရားရှင် သိတော်မူ၍ မကျန်းမမာလျှင် နေ့စဉ် စားနိုင်ကြောင်းကို ထပ်လောင်း ခွင့်ပြုတော်မူရလေသည်။ → Sau đó, khi Đức Thế Tôn biết chuyện, Ngài đã ban hành thêm sự cho phép rằng nếu bị bệnh thì có thể ăn (tại đó) hàng ngày. ပါစိတ်၊ ဘောဇနဝဂ်၊ အာဝသထပိဏ္ဍသိက္ခာပုဒ်။ → Pācittiya, Bhojanavagga, Āvasathapiṇḍa Sikkhāpada: Ưng đối trị, chương Ăn uống, học giới về vật thực tại trạm dừng. ဤသို့လျှင် ဘုရားရှင်၏ တပည့်ကောင်းများသည် အဆုံးအမတော်ကို လုံးဝလိုက်နာလျက် ကျင့်တော်မူကြပေ၏။ → Như vậy, các bậc thiện đệ tử của Đức Thế Tôn luôn tuân thủ trọn vẹn lời giáo huấn và thực hành theo. နောက်နောက် ဆရာအစဉ်အဆက်များသည်လည်း “ကိစ္စတစ်ခု ကြုံတွေ့လာလျှင် အသက်ကိုသာ အသေခံပါ၊ သီလသိက္ခာကိုတော့ မပျက်ပါစေနှင့်” ဟု ဆုံးမတော်မူကြရာက ထိုအတိုင်းလည်း လိုက်နာခဲ့ကြပေသည်။ → Các thế hệ sư phụ nối tiếp sau này cũng giáo huấn rằng: “Nếu gặp phải nghịch cảnh, thà hy sinh mạng sống chứ đừng để hư hoại giới luật”, và các đệ tử cũng đã vâng giữ đúng như thế. သတိထားဖွယ်။ ။ ဤစကားစဉ်အရ ယခု ပြအပ်လတ္တံ့သော ဂုဏ်နှင့်ပြည့်စုံသော သံဃာဟူသည် မဂ်ဖိုလ်ရပြီးသော သံဃာတော်များသာ ဖြစ်သည်။ → Điều cần lưu ý: Theo mạch văn này, "Tăng" (Saṅgha) hội đủ các ân đức sắp được trình bày sau đây chỉ để chỉ cho các bậc Thánh Tăng đã đắc Đạo Quả. မဂ်ဖိုလ်မရသေးသော်လည်း မဂ်ဖိုလ်ရအောင် ပါရမီကို ဖြည့်ကျင့်နေကြသော သူတော်စင် ရဟန်းတော်များသည်လည်း သောတာပန် အောက်တန်းတွင် ပါဝင်နိုင်ပါသေး၏။ → Tuy nhiên, những vị Tỳ-khưu bậc chân nhân dù chưa đắc Đạo Quả nhưng đang vun bồi ba-la-mật để đạt đến Đạo Quả thì vẫn có thể được xếp vào hàng ngũ dưới bậc Dự lưu. ဘုရားရှင်၏ အဆုံးအမတော်ကို ကောင်းမွန်စွာ မလိုက်နာဘဲ မေ့မေ့လျော့လျော့ ပေါ့ပေါ့ဆဆနေထိုင်ကြသော ရဟန်းအပေါင်းကား ယခုပြအပ်လတ္တံ့သော သံဃာ့ဂုဏ်တော်များနှင့် လားလားမျှမဆိုင်။ → Riêng nhóm những Tỳ-khưu không tuân thủ tốt giáo huấn của Đức Thế Tôn, sống buông lung hờ hững thì hoàn toàn không liên quan gì đến các ân đức Tăng sắp được trình bày này. ထို့ကြောင့် သံဃာ့ဂုဏ်တော်ကို အာရုံပြုသောအခါ ရှေးရှေးက အဟုတ်အမှန် ကျင့်တော်မူကြသော အရိယာသံဃာတော်များနှင့် ယခုကာလ ကောင်းမွန်စွာ နေထိုင်တော်မူကြသော ပုထုဇဉ်သံဃာတော်များ၏ ဂုဏ်တော်ကိုသာ မှန်းဆ၍ အာရုံပြုပါ။ → Do đó, khi hướng tâm đến ân đức Tăng, chỉ nên hướng tâm tưởng nhớ đến đức hạnh của các bậc Thánh Tăng chân chính thời xưa và các bậc phàm tăng đang sống phạm hạnh tốt đẹp trong thời đại nay. TRANG 135 ဥဇုပ္ပဋိပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Ujuppaṭipanna (Để học thuộc lòng). (၂) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သာဝကသံဃော-ဆုံးမထားဟန်၊ တရားမှန်ကို၊ နာခံလိုက်နာ၊ အရိယာဟု၊ သင်္ချာရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ သူတော်ကောင်းသည်။ → (2) Bhagavato: của Đức Thế Tôn, bậc hữu phúc lành; Sāvakasaṅgho: dự chúng đệ tử gồm 8 bậc Thánh chân nhân luôn nghe theo và thực hành đúng giáo pháp đã được truyền dạy. ဥဇုပ္ပဋိပန္နော-စဉ်းလဲသမှု၊ မာယာစဖြင့်၊ ဖုဖုထပ်ထပ်၊ မကောက်ကျစ်ဘဲ၊ စင်စစ်နိဗ္ဗာန်၊ လမ်းဖြောင့်မှန်အောင်၊ လျှောက်ကန်ချင့်မျှော်၊ ကျင့်ကြံတော်မူတတ်ပါပေ၏။ → Ujuppaṭipanno: là bậc thực hành ngay thẳng, không quanh co giả dối, không dùng mưu mẹo đánh lừa, mà luôn nỗ lực thực hành để hướng thẳng đến con đường giải thoát Niết-bàn (Nibbāna) một cách chính trực. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. ဥဇုပ္ပဋိပန္နဂုဏ်တော်သည် “ဖြောင့်မှန်စွာ ကျင့်တော်မူ၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ [ဥဇု-ဖြောင့်မှန်စွာ+ပဋိပန္န-ကျင့်သည်]။ → Ân đức Ujuppaṭipanna thể hiện ý nghĩa là “thực hành một cách ngay thẳng”. [Uju-ngay thẳng + Paṭipanna-thực hành]. မာယာ သာဌေယျ။ ။ မိမိမှာ အပြစ်ရှိပါလျက် အပြစ်မရှိသူထင်အောင် ဖုံးကွယ်မှုကို “မာယာ” ဟု ခေါ်၏။ → Māyā và Sāṭheyya: Việc che giấu lỗi lầm của bản thân để người khác tưởng rằng mình không có lỗi thì gọi là "Māyā" (Giả dối). ဥပမာ-ယောက်ျားမသိအောင် အပြစ်ကျူးလွန်မိသော မိန်းမသည် ထိုအပြစ်ကို မာယာဖြင့် လှည့်ပတ်သကဲ့သို့တည်း။ → Ví dụ: Giống như một người đàn ông/đàn bà phạm lỗi rồi dùng sự giả dối để lừa gạt che đậy lỗi lầm đó. မိမိမှာ ဥစ္စာဂုဏ်၊ သီလဂုဏ် မရှိဘဲ ရှိဟန်ဆောင်မှုကို “သာဌေယျ” ဟု ခေါ်၏။ → Việc bản thân không có tài sản hay giới hạnh nhưng lại giả vờ như đang có thì gọi là "Sāṭheyya" (Xảo trá). TRANG 136 လူမရှိသောအခါ တော်သလိုနေ၍ လူလာသောအခါ ဟန်လုပ်နေသူကဲ့သို့တည်း။ → Giống như người khi không có ai thì sống tùy tiện, nhưng khi có người đến thì lại tỏ vẻ đạo mạo (giả tạo). အရိယာသံဃာတော်ကား သူတစ်ပါးတို့ အထင်ကြီးအောင် ပစ္စည်းလာဘ်နှင့် ဒကာ ဒကာမ ပေါများအောင် ဟန်ဆောင်မှု ပရိယာယ် မာယာတို့ဖြင့် ဖုဖုထပ်ထပ် စဉ်းလဲကောက်ကျစ်ခြင်း မရှိဘဲ နိဗ္ဗာန်လမ်းနှင့် ဖြောင့်တန်းအောင် ရိုးသားဖြောင့်မတ်စွာ ကျင့်တော်မူကြပေသည်။ → Các bậc Thánh Tăng không hề có sự quanh co xảo trá hay dùng mưu mẹo giả dối để người khác kính trọng hoặc để có nhiều lợi lộc và thí chủ; các Ngài thực hành một cách chân thành, ngay thẳng để phù hợp với con đường dẫn đến Niết-bàn. ထိုသို့ ဖြောင့်မတ်စွာ ကျင့်တော်မူသော အရှင်မြတ်များမှာ လွန်စွာပေါများခဲ့ပါ၏။ → Những bậc cao quý thực hành chính trực như thế đã từng có rất nhiều. သို့သော် ယခုအခါ မရိုးမသား ကျင့်သူများနှင့် ဝမ်းရေးအတွက် သာသနာတော်ကို ဖျက်သူတွေ အတော်ပေါများနေသဖြင့် စဉ်းစားကြဖို့ရာ ကျမ်းဂန်လာ လှည့်ပတ်ပုံကို ပြပေအံ့။ → Tuy nhiên, hiện nay những kẻ thực hành không chân chính và những kẻ vì sinh kế mà làm hại Giáo pháp đang khá nhiều, nên tôi xin trích dẫn cách thức lừa dối trong kinh điển để mọi người cùng suy ngẫm. အိုးစည် ရဟန်း။ ။ ဘုန်းကြီးတစ်ပါးသည် မိမိအပေါ်၌ လူအများ အထင်ကြီးစေလိုသောကြောင့် သူ့နေရာ ကျောင်းခန်းအတွင်းမှာ လူမမြင်နိုင်အောင် အိုးစည်ကြီး (အိုးအကြီး) ကို မြှုပ်ထားလေ၏။ → Vị Tỳ-khưu "Trống gốm": Một vị Tỳ-khưu nọ vì muốn dân chúng kính trọng mình nên đã đem chôn một cái trống gốm lớn (loại trống to) bên trong phòng ở của mình để người khác không nhìn thấy. အပြင်က ဒကာ ဒကာမများ လာသံကြားလျှင် ထိုအိုးကြီးထဲသို့ ဝင်နေ၏။ → Khi nghe thấy tiếng các thí chủ đến từ bên ngoài, vị ấy liền chui vào bên trong cái trống lớn đó. လူများက “ဘုန်းကြီးဘယ်မှာလဲ” ဟု မေးလျှင် တပည့်များက “ကျောင်းတွင်းမှာ” ဟု ပြော၍ အခန်းအတွင်းသို့ ဝင်ကြည့်သောအခါ မတွေ့ရသောကြောင့် “မရှိဘူး၊ ဘယ်ကြွသလဲ” ဟု မေးမြန်းလျှင် “ယခုတင်ကပဲ အခန်းထဲမှာ ရှိပါသေးတယ်” ဟု ပြောသဖြင့် ထပ်၍ကြည့်ကြပြန်ရာ ညောင်စောင်း (ကုလားထိုင်) ပေါ်မှာ ထိုင်လျက်နေသည်ကို တွေ့ကြရ၏။ → Khi dân chúng hỏi "Sư ở đâu?", các đệ tử đáp "Ở trong chùa", nhưng khi vào phòng tìm không thấy và hỏi "Không có, Ngài đi đâu rồi?", đệ tử lại bảo "Mới đây Ngài vẫn còn trong phòng mà". Khi họ quay lại nhìn lần nữa thì thấy vị ấy đang ngồi chễm chệ trên giường (hoặc ghế dài). TRANG 137 “ဘယ်ကြွနေပါသလဲဘုရား” ဟု လျှောက်ထားလျှင် “ရဟန်းဆိုတာ သည်လိုပဲ၊ အလိုရှိရာ ကြွနိုင်ကြတယ်” ဟု ဈာန်အဘိညာဉ်ရသည့် လေသံဖြင့် ပြောပြလေသော် အားလုံးကပင် “ရဟန္တာ” ဟု အထင်ကြီးကြလေသည်။ → Khi họ thưa hỏi "Bạch Ngài, Ngài đã đi đâu vậy?", vị ấy trả lời với giọng điệu như thể đã đắc Thiền định và Thần thông rằng: "Tỳ-khưu là như vậy đó, có thể đi đến bất cứ nơi nào mình muốn". Thế là tất cả đều kính trọng và tưởng rằng vị ấy là một bậc A-la-hán. တိုက်တွန်းချက်။ ။ အိုလူအပေါင်းတို့- ဘုန်းကြီးဖြစ်စေ၊ လူဖြစ်စေ၊ မဖြူစင် မဖြောင့်မတ်ခြင်းကား ဆိုးဝါးလှ၏။ → Lời khuyến cáo: Này chư vị - dù là tu sĩ hay cư sĩ, việc không trong sạch và không ngay thẳng là điều rất tồi tệ. မရိုးသား မဖြောင့်မတ်သူကို ဘယ်အခါ ယုံကြည်ထိုက်တော့မည်နည်း။ → Làm sao có thể tin tưởng được một người không chân thành, không chính trực? သို့ဖြစ်၍ မိမိတို့ ကိုးကွယ်အပ်သော ဘုန်းတော်ကြီးများကို စာမတတ်သော်လည်း အကျင့်သိက္ခာလုံလောက်၍ ရိုးဖြောင့်လျှင် ကိုးကွယ်သင့်လှပေပြီ။ → Vì vậy, đối với các bậc sư thầy mà mình nương tựa, dù các Ngài không thông thạo kinh chữ nhưng nếu có giới hạnh đủ đầy và lòng chân thực thì rất đáng để tôn thờ. စာမတတ်ဘဲနှင့် တန်ဟန်ဆောင်သောပုဂ္ဂိုလ်၊ အကျင့်မကောင်းဘဲနှင့် ကောင်းဟန်ဆောင်နေသော ပုဂ္ဂိုလ်များကိုကား လုံးလုံးမကိုးကွယ်ထိုက်ပါ။ → Ngược lại, những hạng người không có kiến thức mà lại giả vờ có tài năng, hoặc giới hạnh không tốt mà lại giả vờ đạo hạnh thì hoàn toàn không xứng đáng để nương tựa. ယခုအခါ၌ကား “ကြောင်သူတော်” ကဲ့သို့ အတော်အတန် ပညာရှိပါလျက် အတွင်းစိတ်မဖြောင့်သူတွေ များလှချေ၏။ → Hiện nay, có rất nhiều hạng người giống như "mèo đạo đức giả", dù có chút ít kiến thức nhưng tâm địa bên trong lại không ngay thẳng. ထိုသို့ ပညာရှိ၍ မရိုးသားသူတို့ကား သာမန် မရိုးသားသူများထက်ပင် ကြောက်မက်ဖွယ်ကောင်းလှသေးသည်။ → Những kẻ có kiến thức mà không chân thành như vậy còn đáng sợ hơn cả những người không chân thành thông thường. သို့ဖြစ်၍ အတွင်းအပြင် မသိရဘဲ “ဆေးဝါးစွမ်းသလို၊ စာတတ်သလို၊ လုပ်ရပ်ပေါက်သလို” ပညာနေသူများကို ယုံကြည်လွယ်သော မိန်းမသားတွေသာမက ပညာနည်းပါး၍ မစဉ်းစားတတ်သော ယောကျ်ားအများပင် သတိထားထိုက်လှပေသည်။ → Do đó, không chỉ những phụ nữ dễ tin, mà ngay cả những người đàn ông thiếu kiến thức và ít suy xét cũng cần phải hết sức cảnh giác với những kẻ phô trương năng lực như thể "giỏi y thuật, giỏi kinh văn, hay đắc pháp" mà không rõ thực hư bên trong bên ngoài. TRANG 138 မိမိကိုယ်တိုင်လည်း ရိုးဖြောင့်ဖို့ အရေးကြီးလှ၏။ → Bản thân mỗi người cũng cần phải xem trọng việc giữ gìn sự chính trực. ပစ္စည်းမရှိဘဲ ရှိဟန်ဆောင်မှု၊ သီလမရှိဘဲ ရှိဟန်ဆောင်မှု၊ နားမလည်ဘဲ နားလည်ဟန်ဆောင်မှုတို့မှာ မရိုးသားသော သဘောချည်းသာ ဖြစ်သည်။ → Việc không có tài sản mà giả vờ có, không có giới hạnh mà giả vờ có, không hiểu biết mà giả vờ hiểu biết, tất cả đều là bản chất của sự không chân thành. သို့ဖြစ်၍ အရိယာသံဃာတော်များ၏ “ဥဇုပ္ပဋိပန္န” ဂုဏ်တော်ကို အာရုံပြုကြပြီးလျှင် မိမိတို့ ကိုယ်တိုင်ကလည်း ရိုးသားသူ ဖြောင့်မတ်သူဖြစ်အောင်၊ မိမိနှင့် အဆက်အသွယ်ရှိသူတို့ကိုလည်း ရိုးသားသူများဖြစ်အောင် ညွှန်ပြကြပါ။ → Vì vậy, sau khi hướng tâm đến ân đức "Ujuppaṭipanna" của các bậc Thánh Tăng, hãy tự rèn luyện mình trở thành người chân thành, chính trực, và cũng hãy hướng dẫn những người có liên hệ với mình trở nên chân thành như thế. မရိုးသားသူမှန်လျှင် ရဟန်းရှင်လူ မည်သူမဆို စွမ်းနိုင်သမျှ ရှောင်ကြဉ်ကြပါကုန်။ → Bất kể là tu sĩ hay cư sĩ, nếu là người không chân thành thì hãy cố gắng tránh xa trong khả năng có thể. မတတ်သာ၍ ဆက်ဆံရလျှင်လည်း ကိုယ်ပေါင်းစိတ်ခွာ ဆက်ဆံကြပါကုန်။ → Nếu bất khả kháng phải tiếp xúc, hãy giữ khoảng cách về tâm trí (gần thân nhưng xa tâm) khi giao thiệp. ဉာယပ္ပဋိပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Ñāyappaṭipanna (Để học thuộc lòng). (၃) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သာဝကသံဃော-ဆုံးမထားဟန်၊ တရားမှန်ကို၊ နာခံလိုက်နာ၊ အရိယာဟု၊ သင်္ချာရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ သူတော်ကောင်းသည်။ → (3) Bhagavato: của Đức Thế Tôn, bậc hữu phúc lành; Sāvakasaṅgho: dự chúng đệ tử gồm 8 bậc Thánh chân nhân luôn nghe theo và thực hành đúng giáo pháp đã được truyền dạy. ဉာယပ္ပဋိပန္နော-ကိုယ်ဝယ်ဝတ်ဆောင်၊ ဆံညိုနှောင်ကို၊ မီးလောင်သော်ငြား၊ မငြိမ်းအားဘဲ၊ ကြီးမားလောင်မီး၊ ဒုက္ခကြီးတို့၊ အပြီးကန်၊ ငြိမ်းရာမှန်သည်၊ နိဗ္ဗာန်အလို့ငှာ၊ ကျင့်တော်မူတတ်ပါပေ၏။ → Ñāyappaṭipanno: là bậc thực hành vì mục đích đạt đến Niết-bàn, nơi thực sự dập tắt hoàn toàn những ngọn lửa khổ đau to lớn, thậm chí nếu lửa có đang cháy trên y phục hay tóc trên đầu cũng chẳng màng dập tắt (mà chỉ ưu tiên dập tắt lửa phiền não). TRANG 139 ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. ဉာယပ္ပဋိပန္နဂုဏ်တော်သည် “နိဗ္ဗာန်အလို့ငှာ ကျင့်တော်မူ၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ [ဉာယ+ပဋိပန္န၊ ဉာယ=နိဗ္ဗာန်+ပဋိပန္န=ကျင့်သည်]။ → Ân đức Ñāyappaṭipanna thể hiện ý nghĩa là “thực hành vì mục đích Niết-bàn”. [Ñāya + Paṭipanna; Ñāya = Niết-bàn + Paṭipanna = thực hành]. အရိယာဖြစ်သော သံဃာတော်အပေါင်းသည် အလွန်ကြီးမား များပြားသော သံသရာဝဋ်ကြီး ဒုက္ခမီးတွေကို မြင်ကြပြီးဖြစ်၍ မိမိကိုယ်၌ ဆင်အပ်သော အဝတ်၊ ဥသျှောင်(ဆံထုံး)ကို မီးလောင်စေကာမူ မငြိမ်းအားဘဲ သံသရာဝဋ်ကြီး ဒုက္ခမီး၏ အပြီးချုပ်ငြိမ်းရာ နိဗ္ဗာန်အလို့ငှာ ကျင့်တော်မူကြပေသည်။ → Toàn thể các bậc Thánh Tăng vì đã thấu thị những ngọn lửa khổ đau của vòng luân hồi (Saṃsāra) vô cùng to lớn, nên các Ngài thực hành vì mục đích Niết-bàn — nơi chấm dứt hoàn toàn khổ đau luân hồi — đến mức dù lửa có đang cháy trên y phục hay tóc trên đầu mình cũng không buồn dập tắt trước. ထို့ကြောင့် အရိယာဖြစ်ပြီးသောအခါ သံသရာထဲ၌ ကြာရှည်စွာ မကျင်လည်ရတော့ဘဲ ကာမဘုံ၌ အကြာဆုံး ခုနစ်ဘဝနေပြီးလျှင် ပရိနိဗ္ဗာန် စံဝင်ကြရပေသည်။ → Do đó, khi đã trở thành bậc Thánh, các Ngài không còn phải luân hồi lâu dài nữa; tại cõi dục này, các Ngài chỉ còn tối đa bảy kiếp sống nữa là sẽ nhập Diệt độ (Parinibbāna). ရဟန်းတစ်ပါး ဝတ္ထု။ ။ ရဟန်းတစ်ပါးသည် သစ်ပင်ရိပ်တစ်ခု၌ ဘူမိစိုးနတ်သမီး၏ကလေး နတ်ငယ်ကို ခုတ်ဖြတ်မိသောကြောင့် နတ်သမီးက ဘုရားထံလျှောက်ထားသဖြင့် “ယနေ့ကစ၍ သာသနာတော်လမ်း ရဟန်းမှန်လျှင် သစ်ပင်ကို မခုတ်ရ” ဟု ပညတ်တော်မူသည်။ → Tích về một vị Tỳ-khưu: Có một vị Tỳ-khưu nọ khi ở dưới gốc cây đã vô tình làm tổn thương một tiểu thần (con của vị nữ thần thụ đạo), vị nữ thần ấy đã bạch lên Đức Phật, nên Ngài ban hành giới luật: "Kể từ nay, nếu là vị Tỳ-khưu đúng nghĩa trong Giáo pháp thì không được chặt phá cây cối". ဘုရား ပရိနိဗ္ဗာန်စံတော်မူပြီးနောက် ရဟန်းတော်တစ်ပါးကို ခိုးသူများက နွယ်ပင်ကလေးဖြင့် တုပ်နှောင်၍ တောထဲ၌ထားခဲ့စဉ် တောမီးလောင်လာလေသော် နွယ်ပင်ကို ဖြတ်မည်ဆိုလျှင် ဖြစ်နိုင်လောက်သော်လည်း နွယ်ပင်ဖြတ်လျှင် ပါစိတ်အာပတ်သင့်၏။ အာပတ်သင့်လျှင် တရားရတော့မည်မဟုတ်။ → Sau khi Đức Phật nhập Diệt độ, một vị Tỳ-khưu bị bọn trộm dùng dây leo trói lại bỏ lại trong rừng; khi lửa rừng cháy đến, dù vị ấy có thể cắt dây leo để thoát thân, nhưng nếu cắt dây thì sẽ phạm tội Ưng đối trị (Pācittiya). Nếu phạm giới, vị ấy sẽ không thể chứng đắc giáo pháp. TRANG 140 ထို့ကြောင့် ပညတ်တော်ကို စောင့်စည်း၍ တရားကို နှလုံးသွင်းကာ ရဟန္တာဖြစ်ပြီးမှ တောမီးလောင်၍ ပရိနိဗ္ဗာန် စံဝင်တော်မူသည်။ → Do đó, vị ấy đã giữ gìn giới luật, nhiếp tâm hành thiền và sau khi chứng đắc quả vị A-la-hán, vị ấy đã để lửa rừng thiêu đốt rồi nhập Diệt độ. တိုက်တွန်းချက်။ ။ ဤသို့လျှင် တစ်ကိုယ်လုံး မီးလောင်သည်ကို လျစ်လျူရှု၍ နိဗ္ဗာန်အကျိုးငှာ ကျင့်တော်မူပုံကို ကြည်ညိုလျက် “အသက်တစ်ရာ မနေရသော်လည်း အမှုတစ်ရာ တွေ့နိုင်သည်” ဟု ဆိုသည့်အတိုင်း မလွဲသာသဖြင့် ဒုက္ခကြုံလာခဲ့သော် “သက်သာရာလေးမှ ရစေတော့” ဟု ကြံ၍ မကောင်းမှုကို မပြုမိစေဘဲ “နိဗ္ဗာန်နှင့် ဤဒုက္ခမျိုး၏တည်ရာ ရုပ်နာမ်ခန္ဓာကိုယ်မရှိ၊ ဤခန္ဓာကိုယ်ရှိနေလို့သာ သားတွေ၊ သမီးတွေ၊ ဆွေတွေ၊ မျိုးတွေ ရှိရသည်။ → Lời khuyến cáo: Như vậy, hãy tịnh tín trước hạnh thực hành vì lợi ích Niết-bàn mà màng đến lửa cháy thân; đúng như câu nói "Đời người chẳng sống đến trăm năm nhưng gặp hàng trăm sự nghiệp", nếu chẳng may gặp khổ nạn, đừng vì muốn "giảm nhẹ chút ít" mà làm điều bất thiện. Hãy quán xét rằng: "Ở Niết-bàn không có cái thân danh sắc này — vốn là nơi nương náu của mọi loại khổ đau; chính vì có cái thân này mà mới có con trai, con gái, bà con, dòng họ". ထိုသို့ ရှိသောကြောင့် သားဒုက္ခ၊ သမီးဒုက္ခ၊ ဆွေမျိုးဒုက္ခကို တွေ့ရသည်။ → Chính vì có những mối quan hệ đó mà ta phải gặp khổ vì con trai, khổ vì con gái, khổ vì bà con dòng họ. ထိုရုပ်နာမ်မရှိသော နိဗ္ဗာန်သည် ဧကန်အေးမြပေလိမ့်မည်” ဟု တွေးတောကာ သူလည်းမပါ၊ ငါလည်း မရှိ၊ သန္တိသုခ အေးမြမည့် နိဗ္ဗာန်ကို သိမြင်နိုင်အောင်သာ ကြိုးစားကြပါကုန်။ → "Nơi Niết-bàn không có danh sắc ấy chắc chắn sẽ mát mẻ thanh lương" — hãy tư duy như vậy, không có "người kia" cũng chẳng có "ta", hãy chỉ nỗ lực để thấu thị Niết-bàn, nơi an lạc thái bình (Santi Sukha). TRANG 141 သာမီစိပ္ပဋိပန္န ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Sāmīcippaṭipanna (Để học thuộc lòng). (၄) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သာဝကသံဃော-ဆုံးမထားဟန်၊ တရားမှန်ကို၊ နာခံလိုက်နာ၊ အရိယာဟု၊ သင်္ချာရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ သူတော်ကောင်းသည်။ → (4) Bhagavato: của Đức Thế Tôn, bậc hữu phúc lành; Sāvakasaṅgho: dự chúng đệ tử gồm 8 bậc Thánh chân nhân luôn nghe theo và thực hành đúng giáo pháp đã được truyền dạy. သာမီစိပ္ပဋိပန္နော-ရိုသေသမှု၊ လူတို့ပြုသည့်၊ သာမီစိကံ၊ လျော်ထိုက်ဟန်အောင်၊ ကျင့်ကြံတော်မူတတ်ပါပေ၏။ → Sāmīcippaṭipanno: là bậc thực hành sao cho xứng đáng với những hành động tôn kính (Sāmīcikamma) mà cư sĩ thực hiện. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. သာမီစိပ္ပဋိပန္နဂုဏ်တော်သည် “ရိုသေသမှုနှင့်လျော်အောင် ကျင့်ပေ၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ [သာမီစိ= ရိုသေမှု+ပဋိပန္န=လျော်အောင် ကျင့်သည်]။ → Ân đức Sāmīcippaṭipanna thể hiện ý nghĩa là “thực hành xứng hợp với sự tôn kính”. [Sāmīci = sự tôn kính + Paṭipanna = thực hành xứng hợp]. ဒကာ ဒကာမတို့သည် မိမိတို့ မစားရက်၊ မသောက်ရက်၊ မသုံးရက်သော အစားအသောက် ကျောင်း အိပ်ရာ နေရာများကို ရိုသေသမှု ပြုစုလှူဒါန်းကြ၏။ → Các thí chủ thường dâng cúng một cách tôn kính những vật thực, trú xứ, sàng tọa mà chính bản thân họ đôi khi không nỡ ăn, không nỡ uống hoặc không nỡ dùng. အရိယာဖြစ်ပြီးသော (အရိယာဖြစ်အောင် အားထုတ်နေသော) သံဃာတော်များကလည်း ထိုကဲ့သို့ ရိုသေသမှု ပြုစုလှူဒါန်းခြင်းနှင့် ထိုက်တန်အောင် ကျင့်ကြံအားထုတ်တော်မူကြပါပေသည်။ → Các vị Tăng đã chứng Thánh (hoặc đang nỗ lực để chứng Thánh) cũng sẽ thực hành và nỗ lực sao cho xứng đáng với sự chăm sóc và dâng cúng đầy tôn kính đó. အယျမိတ္တမထေရ်ဝတ္ထု။ ။ ရှေးအခါက လိုဏ်ဂူတစ်ခု၌နေသော “အယျမိတ္တ” မထေရ်ကို ဆွမ်းခံရွာ၌ ဒါယိကာမကြီးတစ်ယောက်က သားရင်းအမှတ်ထား၍ လေးစားသမှု ပြုနေ၏။ → Tích về Ngài Thera Ayyamitta: Thuở xưa, có vị Thượng tọa (Thera) tên là Ayyamitta sống trong một hang động, được một nữ thí chủ tại ngôi làng ngài thường khất thực vô cùng kính trọng và xem như con ruột của mình. တစ်နေ့သ၌ လုပ်ငန်းဆောင်တာအတွက် နံနက်စောစော တောသို့သွားခါနီးဝယ် “ချစ်သမီး- မည်သည့်နေရာ၌ နှမ်းချို့၊ ဆန်ကလေးနှင့် နွားနို့၊ ထောပတ်၊ တင်လဲများ ရှိရစ်တယ်၊ သမီးမောင်တော် လာတဲ့အခါ ဆွမ်းချက်၍ ကပ်ပြီးလျှင် သမီးလည်း စားရစ်နော်” ဟု သမီးကို မှာခဲ့၏။ → Một ngày nọ, trước khi đi vào rừng làm việc từ sáng sớm, bà dặn con gái: "Này con gái yêu, ở chỗ kia có ít gạo, vừng, sữa bò, bơ và đường thốt nốt; khi 'anh trai' của con (vị sư) đến, hãy nấu cơm dâng cúng rồi con cũng ăn nhé". TRANG 142 ပြောဆိုမှာထား၏။ “မေမေကော ဘာစားမလဲ” ဟု သမီးက မေးရာ “မေမေတော့ ပုန်းရည်ဟင်းနဲ့ ညကကျန်တဲ့ ထမင်းကြမ်းကို စားပြီးပြီ” ဟု ပြော၏။ → Bà căn dặn như vậy; khi người con gái hỏi "Còn mẹ thì mẹ sẽ ăn gì?", bà đáp: "Mẹ thì đã ăn cơm nguội còn thừa từ tối qua với canh đồ chua (pote-yay-hinn) rồi". “နေ့စာကော ဘာစားမလဲ မေမေ” ဟု ထပ်၍မေးလျှင် “နေ့စာတော့ သမီးရယ်- ဟင်းရွက်ကလေးရောပြီး ဆန်ကွဲကယောကျိုထားလိုက်ပေါ့” ဟု ပြောဆိုမှာထား၍ တောသို့ သွားရှာလေသည်။ → Khi cô con gái hỏi tiếp "Vậy bữa trưa mẹ ăn gì?", bà dặn lại rằng: "Bữa trưa thì con ạ, cứ lấy gạo vụn nấu cháo (yay-gyo) trộn với ít rau rừng là được rồi", nói xong bà liền đi vào rừng. ထိုသားအမိနှစ်ယောက် ပြောဆိုသံကို အယျမိတ္တမထေရ် ဆွမ်းခံအလာတွင် ရွာအနီးမှ ကြား၍ မိမိကိုယ်ကို ဆုံးမသည်မှာ “နားထောင်စမ်း အယျမိတ္တ- ဒါယိကာမကြီးမှာ မိမိအတွက် ပုန်းရည်ဟင်း၊ ထမင်းကြမ်းနှင့် ဟင်းရွက်တွဲသည့် ဆန်ကွဲယာဂုကို စားသောက်လျက် သင့်အတွက်မှာ နှစ်ချို့ဆန်ကောင်းနှင့် နွားနို့၊ ထောပတ်၊ တင်လဲကို ကပ်ဖို့ရန် မှာနေရှာသည်။ → Trên đường đi khất thực, ngài Thượng tọa Ayyamitta nghe thấy cuộc trò chuyện của hai mẹ con ở gần làng, ngài tự răn mình rằng: "Hãy nghe đây Ayyamitta — người nữ thí chủ này vì muốn cúng dường cho ông mà đã dặn con chuẩn bị gạo ngon, sữa, bơ và đường thốt nốt, trong khi bản thân bà chỉ ăn cơm nguội với canh chua và cháo gạo vụn nấu rau". သင်၏အပေါ်၌ ဝတ်စားတန်ဆာနှင့် လယ်ယာမိုးမြေ ပစ္စည်းတွေကိုမျှော်၍ ယခုလောက် ဂရုစိုက်သည် မဟုတ်၊ လူနတ်နိဗ္ဗာန်ကို မှန်း၍သာ ဂရုစိုက်ခြင်းဖြစ်သည်။ → "Bà ấy quan tâm chăm sóc ông đến mức này không phải vì trông đợi ông cho lại quần áo, ruộng vườn hay của cải, mà bà ấy làm vì hướng đến lợi ích cõi người, cõi trời và Niết-bàn". သူရည်ရွယ်တဲ့ ချမ်းသာကို သင် ပေးနိုင်ပါ့မလား၊ ကိလေသာ အာသဝေါမကုန်သမျှ ဒါယိကာမကြီးရဲ့ဆွမ်းကို အသင် မစားထိုက်” ဟု ဆုံးဖြတ်ပြီးလျှင် ဆွမ်းခံမဝင်ဘဲ ပြန်၍ တရားကို အားထုတ်လေရာ ပင်ကိုယ်က စင်ကြယ်သောသီလနှင့် အားထုတ်၍ အသားကျနေသော ကမ္မဋ္ဌာန်းဘာဝနာအစွမ်းကြောင့် သိပ်ကြာကြာ အားမထုတ်ရဘဲ ချက်ချင်းပင် ရဟန္တာဖြစ်လေသည်။ → "Liệu ông có thể đem lại sự an lạc mà bà ấy mong cầu hay không? Chừng nào chưa tận trừ các lậu hoặc (Āsava) và phiền não (Kilesa), ông chưa xứng đáng thụ nhận vật thực của người thí chủ này". Sau khi quyết định như vậy, ngài không vào làng khất thực nữa mà quay về nỗ lực hành thiền; nhờ vào giới hạnh vốn đã trong sạch và năng lực thiền định (Kammaṭṭhāna) đã thuần thục, không lâu sau ngài liền chứng đắc quả vị A-la-hán. TRANG 143 ထို့နောက် ဆွမ်းခံဖို့အချိန်ရှိသေး၍ ဆွမ်းခံဝင်လေသော် စောင့်မျှော်နေသော နှမတော်က ဆွမ်းလောင်းအပြီးတွင် အထူးကြည်လင်သော မျက်နှာကို မြင်လိုက်ရ၍ မိခင်ပြန်လာသောအခါ “မေမေ ယနေ့ မောင်တော်ရဲ့မျက်နှာ လွန်စွာ ကြည်လင်နေပါတယ်” ဟု ပြောပြလေရာ “ယနေ့ ငါ့သားကြီးမှာ ရဟန်းကိစ္စပြီးစီးလေပြီ” ဟု ပြောဆိုကာ ဝမ်းမြောက်ရှာသတဲ့။ → Sau đó, vì vẫn còn thời gian khất thực, ngài vào làng; cô em gái (người con gái thí chủ) sau khi đặt bát xong, nhìn thấy gương mặt ngài vô cùng thanh tịnh. Khi người mẹ từ rừng về, cô kể lại: "Mẹ ơi, hôm nay gương mặt của 'anh trai' thanh tịnh lạ thường", bà mẹ liền đáp: "Hôm nay con trai ta đã hoàn thành xong việc của bậc Sa-môn (Rahan-kissa - đắc quả A-la-hán) rồi", và bà vô cùng hoan hỷ. ဒါယိကာမကြီးနှင့် သမီးလည်း ရဟန္တာအရှင်မြတ်ကို ဆွမ်းလှူရာရောက်ပေသည်။ [ဒီဃနိကာယ၊ မဟာဝဂ္ဂ၊ မဟာသတိပဋ္ဌာနသုတ် အဋ္ဌကထာ။] → Nhờ đó, người nữ thí chủ và con gái đã được cúng dường vật thực đến một vị Thánh A-la-hán cao quý. [Dīgha Nikāya, Mahāvagga, Mahāsatipaṭṭhāna Sutta Aṭṭhakathā]. တိုက်တွန်းချက်။ ။ “ဤသို့လျှင် သူတော်စင် သံဃာတော်အပေါင်း၏ လူတို့ရိုသေမှုနှင့် ထိုက်တန်အောင် ကျင့်ကြံတော်မူကြသည်ကို အာရုံပြုကာ ယခုကာလ ရဟန်းတော်များသည်လည်း မိမိတို့ဘက်က မလိုရအောင် သတိထားနိုင်မှ တာဝန်ကျေကြပေမည်။ → Lời khuyến cáo: "Như vậy, khi hướng tâm đến việc các bậc Thánh Tăng thực hành sao cho xứng đáng với sự tôn kính của con người, các vị Tỳ-khưu thời nay cũng cần phải hết sức cảnh giác để không còn những khiếm khuyết từ phía mình, có như vậy mới hoàn thành trách nhiệm". “ငါ့လှေ ငါထိုး ပဲခူးရောက်ရောက်” ဆိုတာလို ကိုယ်ထင်ရာ ကြုံနေလျှင် နောင်သံသရာရေးကို မဆိုထားဘိ၊ ယခုဘဝရေးမှာပင် တဖြည်းဖြည်း မလွယ်ကူသော အခြေအနေကို တွေ့ရတော့မည်။ → "Nếu cứ mặc nhiên làm theo ý mình như câu nói 'thuyền ta ta cứ chèo cho tới Pegu', thì đừng nói chi đến chuyện đời sau trong luân hồi, ngay cả trong đời này, ông sẽ dần dần phải đối mặt với những tình cảnh chẳng hề dễ dàng". ယခုအခါ ဘာသာမရှိဟူသော ဝါဒ၊ ဘာသာရှိသော်လည်း အရေးမစိုက်သော ဝါဒများ ခေတ်စားလာပုံကို ဆင်ခြင်ကာ နောင်ရေးခက်ကြတော့မည်မှာ ဗေဒင်မေးစရာ မလိုပါသဖြင့် “ပညာရှိသော်လည်း သတိဖြတ်ခဲရကား” သတိကြီးစွာထားကြပါရန် ထပ်မံ၍ သတိပေးပါသည်။ → "Ngày nay, hãy quán xét trào lưu vô thần hoặc có tôn giáo nhưng không xem trọng đang trở nên phổ biến, thì việc tương lai sẽ trở nên khó khăn là điều chẳng cần phải bói toán mới biết; dù là người có trí tuệ cũng khó lòng giữ được chánh niệm liên tục, nên tôi xin nhắc nhở lần nữa rằng hãy luôn giữ sự tỉnh giác cao độ". TRANG 144 ပုရိသယုဂါနိ ပါဠိအဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích đoạn Pali Purisayugāni (Để học thuộc lòng). စတ္တာရိ-လေးပါးကုန်သော၊ ယဒိဒံ ပုရိသယုဂါနိ-အကြင် ယောက်ျားအစုံတို့သည်။ အဋ္ဌ-ရှစ်ပါးကုန်သော၊ ပုရိသပုဂ္ဂလာ-ပုဂ္ဂိုလ်အသီးအခြား၊ ခွဲသောအားဖြင့်၊ ရှစ်ပါးကုန်သော၊ ပုရိသပုဂ္ဂလာ-ပုဂ္ဂိုလ်တို့ပါပေတည်း။ → Cattāri: là bốn; Yadidaṃ purisayugāni: tức là các đôi nam nhân. Aṭṭha: là tám; Purisapuggalā: xét theo từng cá nhân riêng biệt, tức là tám hạng thánh nhân. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. ဤ “စတ္တာရိ ပုရိသယုဂါနိ” စသော စကားတို့ကား သံဃာ့ဂုဏ်တော်ကိုပြသော စကားမဟုတ်။ သောတာပတ္တိမဂ်ကိုရသောပုဂ္ဂိုလ်နှင့် သောတာပတ္တိဖိုလ်ရသော ပုဂ္ဂိုလ်နှစ်ပါးတွဲလျှင် တစ်စုံ၊ ဤသို့စသည်ဖြင့် “မဂ်ဖိုလ်ကိုရသော ပုဂ္ဂိုလ်နှစ်ပါးကို တစ်စုံစီတွဲလျှင် အရိယာလေးစုံဖြစ်၍ အသီးအခြား ခွဲလျှင် ၈-မျိုးဖြစ်၏” ဟု ပြသောစကားတည်း။ → Những từ như “Cattāri purisayugāni” này không phải là lời thuyết về ân đức Tăng. Đây là lời giải thích rằng: "Nếu ghép một vị đắc Dự lưu đạo và một vị đắc Dự lưu quả thành một cặp, và cứ tiếp tục như vậy thì sẽ được 4 đôi bậc Thánh; còn nếu tách riêng ra thì sẽ có 8 hạng thánh nhân". ထိုသို့ ဖြစ်ခြင်းသည်လည်း မဂ်ကိုရလျှင် ချက်ချင်းဖိုလ်ရသောကြောင့် မဂ်ပုဂ္ဂိုလ်နှင့် ဖိုလ်ပုဂ္ဂိုလ်တို့ တစ်ယောက်တည်းသာ ဖြစ်ကြောင်းကို သိစေတော်မူလိုရင်း ဖြစ်ဟန်တူပါသည်။ → Việc trình bày như vậy dường như là để cho biết rằng: vì hễ đắc Đạo (Magga) là sẽ đắc Quả (Phala) ngay lập tức, nên vị đắc Đạo và vị đắc Quả thực chất chỉ là một người duy nhất trong hai trạng thái tâm kế tiếp nhau. အစုံလေးပါးကား: → Bốn đôi gồm: ၁။ သောတာပတ္တိမဂ်ရ ပုဂ္ဂိုလ်၊ သောတာပတ္တိဖိုလ်ရ ပုဂ္ဂိုလ်။ → 1. Bậc Dự lưu đạo và Bậc Dự lưu quả. ၂။ သကဒါဂါမိမဂ်ရ ပုဂ္ဂိုလ်၊ သကဒါဂါမိဖိုလ်ရ ပုဂ္ဂိုလ်။ → 2. Bậc Nhất lai đạo và Bậc Nhất lai quả. ၃။ အနာဂါမိမဂ်ရ ပုဂ္ဂိုလ်၊ အနာဂါမိဖိုလ်ရ ပုဂ္ဂိုလ်။ → 3. Bậc Bất lai đạo và Bậc Bất lai quả. ၄။ အရဟတ္တမဂ်ရ ပုဂ္ဂိုလ်၊ အရဟတ္တဖိုလ်ရ ပုဂ္ဂိုလ်။ → 4. Bậc A-la-hán đạo và Bậc A-la-hán quả. TRANG 145 အာဟုနေယျ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Āhuneyya (Để học thuộc lòng). (၅) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သေသော်သော သာဝကသံဃော-အရုံလေးပါး၊ သီးခြားရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ ဤအရိယာသူတော်ကောင်းသည်။ အာဟုနေယျော-တုံ့ပြန်၍ ကြီးကျယ်မြင့်မြတ်သော သံသရာကျိုးကို ပေးစွမ်းနိုင်သဖြင့်၊ အဝေးမှယူဆောင်၍ ပူဇော်အပ်သော၊ ကြည်ဖြူလေးမြတ်၊ ပူဇော်အပ်သည့်၊ လာဘ်သပ္ပကာ၊ အဖြာဖြာကို၊ ကောင်းစွာသိမ်းပိုက်၊ ခံယူခြင်းငှာလည်း ထိုက်တော်မူပါပေ၏။ → (5) Bhagavato: của Đức Thế Tôn, bậc hữu phúc lành; Sāvakasaṅgho: bốn đôi tám hạng Thánh Tăng, những bậc Thánh nhân cao quý này; Āhuneyyo: vì có khả năng ban lại lợi ích luân hồi (Saṃsāra) to lớn và cao thượng, nên các Ngài xứng đáng được thụ nhận và gìn giữ một cách tốt đẹp mọi loại lợi lộc vật phẩm dâng cúng vốn được mang đến từ phương xa để cúng tôn kính một cách thanh tịnh. ကြည့်ရှုရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét. အာဟုနေယျဂုဏ်တော်သည် “အဝေးမှယူဆောင်၍ ပူဇော်အပ်သော ပစ္စည်းကို ခံယူထိုက်၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ [အာ+ဟုန+ေယျ၊ အာ-အဝေးမှယူဆောင်၍+ဟုန-ပူဇော်အပ်သောပစ္စည်း+ေယျ-ခံထိုက်သည်]။ → Ân đức Āhuneyya thể hiện ý nghĩa là “xứng đáng thụ nhận vật phẩm mang từ phương xa đến để cúng dường”. [Ā + huna + eyya; Ā = mang từ phương xa đến + huna = vật phẩm cúng dường + eyya = xứng đáng thụ nhận]. အရိယာသံဃာတော်သည် လှူဒါန်းပူဇော်သူတို့အား အတုံ့ပြန်၍ ကြီးကျယ်မြင့်မြတ်သော သံသရာကျိုးကို ပေးစွမ်းနိုင်ကြသဖြင့် အနီးအပါးကို မဆိုထားဘိ၊ တစ်နယ်တစ်ကျေး ဝေးသော မြို့ရွာတို့မှသော်လည်း လှူဖွယ်များကို တမင်တကာ ဆောင်ယူ၍ ပေးလှူပူဇော်ခြင်းငှာ ထိုက်တန်တော်မူပေသည်။ → Vì các bậc Thánh Tăng có khả năng đáp lại người cúng dường bằng những lợi ích luân hồi vĩ đại và cao quý, nên không chỉ là những người ở gần, mà ngay cả những người từ các tỉnh thành, làng mạc xa xôi cũng xứng đáng cất công mang vật phẩm đến để dâng cúng và tôn kính các Ngài. ထို့ကြောင့် ရှေးက ဒါနအကျိုး နားလည်ကြသော သူတော်ကောင်းတို့သည် ထိုသို့ ဆောင်ယူကာ များစွာပူဇော်ဖူးကြလေပြီ။ → Do đó, từ thời xưa, những bậc chân nhân thấu hiểu quả báo của sự bố thí (Dāna) đã từng thực hiện việc mang vật phẩm đến cúng dường rất nhiều như thế. TRANG 146 နတ်ပြည်၌ နတ်အများရှိကြလေရာ သာသနာပအခါက ဖြစ်လာသော နတ်များထက် သာသနာတွင်းကျမှဖြစ်ရသော နတ်တို့က အစစအရာရာ ခပ်သာသာဖြစ်နေ၏။ → Ở cõi trời có rất nhiều thiên nam thiên nữ, nhưng những vị thiên nhân sinh ra trong thời kỳ có giáo pháp (Phật pháp) thì mọi mặt đều vượt trội hơn so với những vị thiên nhân sinh ra vào thời kỳ không có giáo pháp. အချို့နတ်များကား သိကြားမင်းထက်ပင် ကိုယ်ရောင်အဆင်းနှင့် စည်းစိမ်အခြွေအရံ သာလွန်လျက်ရှိ၏။ → Một số vị thiên nhân thậm chí còn có thân tướng hào quang và quyến thuộc tài lộc vượt xa cả vua Trời Đế Thích. ထို့ကြောင့် အခါတစ်ပါး၌ အရှင်မဟာကဿပထေရ် နိရောဓသမာပတ်မှ ထတော်မူပြီးလျှင် ဆင်းရဲသူတို့၏နေရာ ရပ်ကွက်၌ ဆွမ်းခံဝင်တော်မူလေရာ → Do đó, có một lần Ngài Đại trưởng lão Mahā Kassapa sau khi xả định Diệt Thọ Tưởng (Nirodha Samāpatti) đã đi vào khu vực của những người nghèo khổ để khất thực. သိကြားမင်းနှင့် သုဇာမိဖုရားတို့သည် အိုမင်းသော လူဆင်းရဲ လင်မယားအသွင်ဆောင်၍ ထိုရပ်ကွက်၏ အစဆုံး၌ အိမ်ငယ်တစ်ဆောင်ကို ဖန်ဆင်းလျက် နေနှင့်လေသည်။ → Vua Trời Đế Thích và hoàng hậu Sujā đã hóa thân thành một cặp vợ chồng già nghèo khổ, biến hóa ra một căn chòi nhỏ nằm ngay đầu khu phố đó và chờ sẵn ở đấy. ရဟန္တာအရှင်မြတ်လည်း အထူးအထွေ ဆင်ခြင်စဉ်းစားတော်မမူဘဲ အိမ်ကုပ်ကလေး၌ အဘိုးအဘွားတို့ အလုပ်လုပ်နေကြပုံကို မြင်၍ သနားသဖြင့် ရပ်တော်မူလေသည်။ → Vị Thánh Alahán (Ngài Kassapa) cũng không suy xét gì đặc biệt, khi nhìn thấy đôi vợ chồng già đang làm việc trong căn chòi nhỏ, vì lòng bi mẫn nên Ngài đã đứng dừng lại (để nhận vật thực). အဘိုးကြီးသည် မျက်စိများကို ပွတ်ကာပွတ်ကာနှင့် “အိမ်ပေါက်မှာ ကိုယ်တော်တစ်ပါး ဆွမ်းရပ်နေပါကလား၊ ဒုက္ခ၊ ဒုက္ခ၊ ဘာမှလည်း ရှိမယ်မထင်ဘူး” ဟု ညည်းညူလျက် အနားသို့ လာပြီးလျှင် → Ông lão vừa dụi dụi mắt vừa lẩm bẩm: "Ô kìa, có một vị sư đang đứng khất thực trước cửa nhà mình; khổ thật, khổ thật, tôi e là chẳng có món gì (để cúng dường) cả", rồi tiến lại gần. “အင်- တို့ကိုယ်တော်ကြီးပါတကား၊ ဟေ့- ရှင်အဘွား၊ ဘာများရှိသေးတုံး” ဟုမေးရာ အဘယ်သို့ကလည်း ထိုထိုဤဤ ရှာဖွေနေဟန်ဖြင့် → Ông lão nói tiếp: "Ồ, đúng là vị Thầy của chúng ta rồi; này bà nó ơi, còn cái gì không?", rồi bà lão cũng giả vờ tìm kiếm chỗ này chỗ kia. TRANG 147 အတန်ကြာမှ “ရှိသေးရဲ့တော့” ဟု ပြောပြောဆိုဆို လာ၍ ဆွမ်းလောင်းလေလျှင် တစ်ရပ်လုံး မွှေးကြိုင်သွားလေသည်။ → Sau một lúc, bà lão vừa nói "vẫn còn đây" vừa tiến đến sớt bát, ngay lập tức hương thơm tỏa ra ngào ngạt khắp cả vùng. ထိုအခါကျမှ သိကြားမှန်းသိ၍ “ဆင်းရဲသူကို ချီးမြှောက်လိုသဖြင့် ဆွမ်းခံရာ၌ သင့်လို သိကြားက လူဆင်းရဲလုပ်ရသလား” ဟု အပြစ်တင်တော်မူလျှင် → Lúc bấy giờ, Ngài (Kassapa) mới nhận ra đó là Đế Thích và quở trách rằng: "Trong lúc ta đang muốn tế độ người nghèo, tại sao một vị Đế Thích như con lại giả làm người nghèo (để tranh phần phước) như vậy?". “တပည့်တော်မှာ သာသနာပကဖြစ်ရတဲ့ သိကြားမို့ စည်းစိမ်မကြီးပါ။ သာသနာတော်တွင်းမှ ရောက်လာသော နတ်မင်းများလောက် အရှိန်မတောက်သဖြင့် နတ်ဆင်းရဲပင် ဖြစ်ပါသည်။” ဟု လျှောက်၍ → Đức Vua Trời bạch rằng: "Con vốn là vị Đế Thích sinh ra ngoài thời kỳ có giáo pháp nên tài lộc không lớn. So với những vị thiên vương đến sau trong thời giáo pháp thì con chẳng có uy lực bằng, thực sự chỉ là một vị thiên nhân nghèo mà thôi." “အဟောဒါနံ ပရမဒါနံ၊ ကဿပေ သုပ္ပတိဋ္ဌိတံ- ဝမ်းမြောက်စရာ အလှူဒါန၊ အလွန်မြတ်သော အလှူဒါနသည် အရှင်မဟာကဿပ၌ တည်လေပြီ” ဟု ဥဒါန်းကျူးလျက် နတ်ပြည်သို့ တက်သွားလေသည်။ → Aho dānaṃ parama dānaṃ, Kassape suppatiṭṭhitaṃ. — "Ôi sự bố thí thật tuyệt vời, sự bố thí tối thượng đã được an lập nơi Ngài Đại Kassapa." Sau khi thốt lên lời cảm hứng tự thuật như vậy, ngài bay về cõi trời. ဤသို့လျှင် အရိယာသံဃာတော်များသည် အဝေးရပ်မှ ယူဆောင်၍ ပေးလှူသမျှကို ခံယူထိုက်ကြပေသည်။ → Như vậy, các vị Thánh Tăng là những bậc xứng đáng được thọ nhận các vật phẩm cúng dường dù là mang từ phương xa đến. တိုက်တွန်းချက်။ ။ ဤဝတ္ထုသွားကို ထောက်လျှင် ပညာရှိအမျိုးသားတို့သည် နတ်စည်းစိမ်ကို ခံနေရသော်လည်း ဒါနအကျိုးကို သိမြင်ကြသဖြင့် ဝေးကွာသော နတ်ပြည်ခရီးမှပင် တမင်လာလျက် လှူဒါန်းကြသောကြောင့် → Lời khuyến tấn: Xét theo cốt truyện này, những bậc thiện trí thức dù đang hưởng thụ dục lạc cõi trời nhưng vì thấu hiểu quả báu của sự bố thí, nên đã lặn lội từ cõi trời xa xôi tìm đến để cúng dường. ယခုကာလ စည်းစိမ်ရှင်များသည်လည်း ကံနှင့်ကံ၏အကျိုးကို နားလည်ကြပါမူ ကုသိုလ်ကောင်းမှုများကို ကြိုးစားပြုကျင့်ကြပါလော့။ → Vì vậy, những người có tài sản thời nay nếu hiểu rõ về nghiệp và quả của nghiệp thì hãy nỗ lực thực hành các thiện sự. တစ်သက်လျာမျှ တစ်ဝမ်းဝဖို့ စီးပွားအတွက် ယခုဘဝတွင် ရရှိပြီးအခြေအနေမှ မလျော့ကျရအောင် နေ့စဉ် → Để đảm bảo đời sống ấm no trong suốt kiếp này và để địa vị hiện tại không bị sa sút, mỗi ngày... TRANG 148 ကြိုးစားသကဲ့သို့ တစ်သံသရာလုံး စီးပွားအတွက် အဆက်ဆက် တန်းမြင့်၍ ပါရမီရင့်အောင် ကြိုးစားကြပါ။ → ...giống như cách quý vị nỗ lực cho kinh tế, hãy nỗ lực tích lũy ba-la-mật để nâng cao phẩm vị đời sống trong suốt vòng luân hồi. ဤလူ့ဘဝသည် ဗုဒ္ဓဘာသာဝင် သူတော်စင်များအတွက် အလိုရှိရာ ရနိုင်သော ဘဝပဒေသာပင်ကြီး ဖြစ်ပါသည်။ → Kiếp người này chính là cây như ý (Padesā) đối với những bậc thiện hữu trí thức Phật giáo, nơi có thể đạt được mọi ước nguyện. ပါဟုနေယျ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Pāhuneyya (Để học thuộc lòng): (၆) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သေ သော သာဝကသံဃော-အရိယာလေးပါး၊ သီးခြားရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ ဤအရိယာ သူတော်ကောင်းသည်။ → (6) Bhagavato - Sāvaka saṅgho: Các vị đệ tử của Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của vinh hiển, gồm bốn đôi và tám bậc Thánh nhân, là những bậc cao thượng này. ပါဟုနေယျော-ဝေးရပ်မျိုးနွယ်၊ များဧည့်သည်ဖို့၊ ရည်ရွယ်မှန်းထား၊ ပစ္စည်းများကို၊ ဘုရားတစ်ဆူ၊ ပွင့်တော်မူမှ၊ ပေါ်လာကြသည့်၊ ကမ္ဘာဧည့်ကောင်း၊ သူတော်ပေါင်းမို့၊ အကြောင်းတိုက်စွာ၊ ပေးလှူခြင်းငှာလည်း ထိုက်တော်မူပါပေ၏။ → Pāhuneyyo: Là bậc xứng đáng được nhận các vật phẩm cúng dường vốn được chuẩn bị dành cho những khách quý từ phương xa đến, vì các Ngài là những vị khách cao quý của thế gian chỉ xuất hiện khi có một đức Phật ra đời. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét: ပါဟုနေယျ ဂုဏ်တော်သည် “ဧည့်သည်တို့ဖို့ စီမံအပ်သော ပစ္စည်းကို ခံယူထိုက်၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ → Ân đức Pāhuneyya thể hiện ý nghĩa: "Xứng đáng thọ nhận những vật dụng được chuẩn bị dành cho khách quý". [ ပ + အာ + ဟုန + ယျ။ ပ = အရပ်တစ်ပါးမှ+အာ=လာသော ဧည့်သည်တို့အား+ဟုန=ပူဇော်အပ်သော ပစ္စည်း+ယျ=ခံယူထိုက်သည်။] → [Pa + Ā + Huna + Ya. Pa = từ nơi khác + Ā = khách đến + Huna = vật phẩm cúng dường + Ya = xứng đáng thọ nhận.] TRANG 149 ယခုကာလ ရိုးရာဧည့်သည်များမှာ တွေ့ကြုံဖို့ လွယ်ကူပါ၏၊ ဧည့်ဝတ်ပြုဖို့လည်း လွယ်ကူပါ၏။ → Thời nay, việc gặp gỡ những vị khách thông thường thì rất dễ dàng, và việc tiếp đón họ cũng không khó. အရိယာသံဃာတော်များကား ဘုရားတစ်ဆူတစ်ဆူ ပွင့်တော်မူမှ ပေါ်လာကြသဖြင့် တွေ့ကြုံခဲ့သော ကမ္ဘာဧည့်သည်တော်ကြီးများ ဖြစ်ကြပေးသည်။ → Nhưng các bậc Thánh Tăng chỉ xuất hiện khi có một đức Phật ra đời, nên các Ngài là những vị khách quý đại diện cho cả một kiếp trái đất mà khó có thể gặp được. ထိုဧည့်သည်တော်များသည် ရိုးရာဧည့်သည်များအတွက် ချက်ပြုတ်စီမံထားအပ်သော ပစ္စည်းများကိုလည်း ခံယူထိုက်ကြပေသည်။ → Những vị khách cao quý ấy xứng đáng được thọ nhận ngay cả những vật phẩm đã được nấu nướng và chuẩn bị sẵn cho những vị khách thông thường. ဒက္ခိဏေယျ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Dakkhiṇeyya (Để học thuộc lòng): (၇) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သေ သော သာဝကသံဃော-အရိယာလေးပါး၊ သီးခြားရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ ဤအရိယာသူတော်ကောင်းသည်။ → (7) Bhagavato - Sāvaka saṅgho: Các vị đệ tử của Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của vinh hiển, gồm bốn đôi và tám bậc Thánh nhân, là những bậc cao thượng này. ဒက္ခိဏေယျော-တမလွန်စခန်း၊ ကြီးပွားလမ်းဖို့၊ မျှော်မှန်းရည်ရွယ်၊ ပေးလှူဖွယ်ကို၊ ရည်ရွယ်သမျှ၊ အကျိုးရသဖြင့်၊ တစမချန်၊ အလှူခံခြင်းငှာလည်း ထိုက်တော်မူပါပေ၏။ → Dakkhiṇeyyo: Là bậc xứng đáng thọ nhận vật phẩm cúng dường (Dakkhiṇā) được chuẩn bị với hy vọng mang lại lợi ích cho hành trình đời sau, vì khi cúng dường đến các Ngài, mọi ước nguyện đều trổ quả báo không sót một chút nào. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét: ဒက္ခိဏေယျ ဂုဏ်တော်သည် “အလှူကိုခံထိုက်၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ → Ân đức Dakkhiṇeyya thể hiện ý nghĩa: "Xứng đáng thọ nhận phẩm vật cúng dường". [ ဒက္ခိဏ + ယျ။ ဒက္ခိဏ=အလှူ(လှူဖွယ်ဝတ္ထု)+ယျ=ခံယူထိုက်သည်။ ] → [Dakkhiṇā + Ya. Dakkhiṇā = vật phẩm cúng dường + Ya = xứng đáng thọ nhận.] TRANG 150 နောင်တမလွန်ဘဝ၌ ကြီးပွားချမ်းသာဖို့ ရည်မှန်း၍ လှူဒါန်းအပ်သော အလှူကို “ဒက္ခိဏ” ဟုခေါ်၏။ → Việc bố thí được thực hiện với mong nguyện đạt được sự thịnh vượng và hạnh phúc ở đời sau được gọi là "Dakkhiṇā". အရိယာ သံဃာတော်များသည် ရည်မှန်းတိုင်းသော အကျိုးကို ရစေနိုင်သောကြောင့် ထိုဒက္ခိဏကို ခံယူခြင်းငှာ ထိုက်တန်တော်မူကြပေသည်။ → Các vị Thánh Tăng xứng đáng thọ nhận vật phẩm cúng dường (Dakkhiṇā) đó vì các Ngài có khả năng làm cho những quả báu đã được mong cầu trở thành hiện thực. ထိုဒက္ခိဏသည် မိမိအတွက် ချမ်းသာဖို့ရန် လှူဒါန်းခြင်းတစ်မျိုး၊ သေလွန်သူ မိဘဆွေမျိုးများအတွက် လှူဒါန်းခြင်းတစ်မျိုးဟု နှစ်မျိုးရှိ၏။ → Có hai loại cúng dường Dakkhiṇā: một là cúng dường để cầu hạnh phúc cho chính mình, hai là cúng dường dành cho cha mẹ, quyến thuộc đã quá vãng. (၁) မိမိအတွက် အလှူသည် အခွင့်သာလျှင် သင့်ရာဘဝ၌ နိဗ္ဗာန်မရမချင်း အကျိုးပေးမည်။ → (1) Việc bố thí cho chính mình, khi có cơ hội thuận tiện, sẽ trổ quả báo trong những cảnh giới thích hợp cho đến khi đạt được Niết-bàn. ယခုအခါ ဗုဒ္ဓဘာသာဝင်မဟုတ်သူတို့ ကောင်းကျိုး ခံစားနေကြရသည်မှာလည်း သူတို့သန္တာန်မှာ ရှေးက ထို “ဒက္ခိဏ” အလှူမျိုး ပါရှိခဲ့သောကြောင့် ဖြစ်သည်။ → Hiện nay, việc những người không phải Phật tử đang được hưởng những phước lành cũng là do trong tâm thức của họ đã từng có những hành động bố thí "Dakkhiṇā" từ trước. ရှေးက ကုသိုလ်ကံဟောင်း၏ ကောင်းကျိုးကို ခံစားနေကြရသည်။ → Họ hiện đang hưởng thụ những quả báu tốt đẹp từ các thiện nghiệp cũ trong quá khứ. ယခုဘဝ၌ ပြုမိသော မကောင်းမှုများအတွက် နောက်နောင်ဘဝ၌ သိသာလတ္တံ့။ → Đối với những việc bất thiện đã làm trong kiếp này, kết quả sẽ trở nên rõ ràng trong các kiếp vị lai. ၉၁-ကမ္ဘာအတွင်းဝယ် မိစ္ဆာဒိဋ္ဌိဖြစ်ပါလျက် နတ်ပြည်သို့ ရောက်သူမှာ တစ်ယောက်သာ ဘုရားရှင်တွေ့မြင်တော်မူသတဲ့။ → Nghe nói rằng trong suốt 91 kiếp trái đất, Đức Phật chỉ nhìn thấy duy nhất một người dù là tà kiến nhưng vẫn được tái sanh lên cõi trời. မိစ္ဆာဒိဋ္ဌိ ဟုရာ၌ သဲသဲမဲမဲ သူတို့အယူ၌ စွဲလမ်းသူကိုသာ ဆိုလိုသည်။ ဗုဒ္ဓဘာသာမဟုတ်ရုံမျှကို မဆိုလို။ → Khi nói về "tà kiến", ý chỉ những người bám chấp một cách mù quáng và cực đoan vào đức tin của họ, chứ không chỉ đơn thuần là những người không phải Phật tử. (၂) သေလွန်သူ ဆွေမျိုးများကို မှန်းလျက် လှူဒါန်းရာ၌ကား သေသူက ငရဲကျသော်လည်းကောင်း၊ တိရစ္ဆာန်အမိဝမ်း၌ ဖြစ်သော်လည်းကောင်း၊ → (2) Trong việc cúng dường hồi hướng cho quyến thuộc đã khuất: nếu người chết bị đọa vào địa ngục, hoặc sinh vào bụng của loài thú... အလွန်ဝေးသော တော, တောင်, မြစ်, သမုဒ္ဒရာကမ်း၌ ပြိတ္တာဖြစ်နေသော်လည်းကောင်း၊ လူ့အမိဝမ်း၌ ဖြစ်ရသော်လည်းကောင်း၊ နတ် ဗြဟ္မာဖြစ်ရသော်လည်းကောင်း၊ → ...hoặc thành ngạ quỷ ở những nơi xa xôi như rừng rậm, núi cao, sông ngòi, bờ đại dương, hoặc tái sanh vào bụng người, hoặc sanh làm Thiên nhân, Phạm thiên... TRANG 151 ဤက လှူဒါန်းသောကုသိုလ်ကို သူတို့မသိနိုင်ကြ။ သိနိုင်သော်လည်း သူတို့မှာ အကျိုးထူးမရကြ။ → ...thì họ không thể biết được phước báo từ việc cúng dường ở đây. Dù có biết đi nữa, họ cũng không nhận được lợi ích đặc biệt nào (từ vật thực cúng dường đó). သို့သော် လှူဒါန်းသူ ဆွေမျိုးတို့မှာကား ထုံးစံအတိုင်း ဒါနကုသိုလ် ဖြစ်ကြရပါသည်။ → Tuy nhiên, về phía những thân nhân thực hiện việc bố thí, họ vẫn tích lũy được thiện nghiệp bố thí theo lẽ thường. သေလွန်သူသည် မိမိအိမ် ရွာမြို့အနီးအပါး အကြံအကြား၌ သွားလာလျက် စားရမဲ့ သောက်ရမဲ့ ပြိတ္တာမျိုး (အမိမ်း တစ္ဆေ သရဲ) ဖြစ်နေလျှင် → Nếu người quá vãng sanh làm loài ngạ quỷ (như quỷ đói, ma hèn) vất vưởng không nơi ăn chốn ở, đi lại quanh quẩn gần nhà cửa, làng mạc hoặc thành phố... ကျန်ရစ်သော ဆွေမျိုးများက ဆွမ်း, သင်္ကန်းစသည်ကို လှူဒါန်း၍ “ဤအလှူသည် သွားလေသူ (အမိ, အဖ, ဆွေမျိုး) အတွက် ဖြစ်ပါစေသတည်း။ → ...mà những thân nhân còn sống thực hiện cúng dường vật thực, y phục, v.v... rồi hồi hướng rằng: "Cầu mong phần phước này dành cho người đã khuất (cha, mẹ, thân quyến). သွားလေသူ (အမိ, အဖ, ဆွေမျိုး) မည်သူမည်ဝါသည် ချမ်းသာပါစေသတည်း” ဤကုသိုလ်ကို ဝမ်းမြောက်စွာ သာဓုခေါ်ပါလော့။ → Cầu mong người đã khuất tên là... được hạnh phúc." "Hãy vui mừng hoan hỷ và nói lời Thādu (lành thay) đối với thiện nghiệp này. အညီအမျှ ကုသိုလ်ရအောင် အမျှယူပါလော့၊ အမျှဝေပါ၏” ဟု ပြောဆို၍ အမျှဝေသောအခါ ထိုပြိတ္တာများ တွေ့မြင်ကြားသိလျှင် သာဓုခေါ်၍ အဝတ်အစား တို့ကို နတ်သမီး နတ်သားများကဲ့သို့ပင် ရရှိနိုင်ကြသည်။ → Hãy nhận phần phước này để có được công đức đồng đều, tôi xin chia sẻ phần phước này." Khi nói lời chia phước như vậy, nếu những ngạ quỷ đó thấy hoặc nghe được mà đồng thanh Thādu, họ có thể nhận được y phục và vật dụng ngay lập tức như những vị Thiên nam, Thiên nữ. မိမိအတွက် လှူဒါန်းနေသော်လည်း မမြင်မကြားရသဖြင့် သာဓုမခေါ်နိုင်လျှင် မရကြသေး။ → Dù là đang cúng dường dành cho mình, nhưng nếu họ không thấy hoặc không nghe nên không thể nói lời Thādu, thì họ vẫn chưa nhận được phần phước đó. ထို့ကြောင့် သေလွန်သူကို ရည်မှန်း၍ “ဒက္ခိဏ” ကို ပြုသောအခါ မပြုမီကပင် အချို့အရပ်၌ သုသာန်စသည်သွား၍ “ယနေ့ အလှူဒါန ပြုမှာမို့ လိုက်ခဲ့ပါ” ဟု ဖိတ်မန်ကာ အိမ်သို့ ခေါ်လာကြသည်။ → Do đó, khi thực hiện lễ cúng dường hồi hướng "Dakkhiṇā" cho người quá cố, ở một số nơi, ngay cả trước khi hành lễ, người ta thường đi đến nghĩa trang và thỉnh mời rằng: "Hôm nay tôi sẽ làm lễ cúng dường, xin hãy đi cùng tôi về nhà". ထိုကုသိုလ်ကို အလွန်ဝေးသော ရှေးရှေးဘဝက ပြိတ္တာဖြစ်ကြသော ဆွေမျိုးဟောင်းများလည်း သာဓုခေါ်နိုင်လျှင် အဖို့ရခွင့် ရှိပါ၏။ → Đối với thiện nghiệp này, ngay cả những quyến thuộc từ nhiều kiếp xa xưa hiện đang là ngạ quỷ, nếu có thể nói lời Thādu, họ cũng có cơ hội nhận được phần phước. ထို့ကြောင့် တစ်စုံတစ်ယောက် ဆုံးသောအခါ ဆူဆူပူပူနှင့် ပကာသနအတွက် သုသာန်မှာ လှူခြင်းထက် မိမိအိမ်မှာပင် ဆုံးသည့်နေ့ကစ၍ လှူဒါန်းလျက် အမျှဝေသောနည်းသာ ကောင်းမြတ်ပါသည်။ → Vì vậy, khi có ai đó qua đời, thay vì tổ chức ồn ào mang tính phô trương tại nghĩa trang, thì việc tổ chức cúng dường và chia phước ngay tại nhà mình kể từ ngày mất là phương cách tốt đẹp và cao quý hơn. TRANG 152 ရက်လည်ဆွမ်း။ ။ တစ်ချို့အရပ်၌ ဆွေမျိုးတစ်ယောက် အနိစ္စရောက်ပြီးသောအခါ ရက်လည်ဆွမ်းကျွေးမှုကို ပြုကြ၏။ → Lễ cúng dường tuần thất (7 ngày): Ở một số nơi, sau khi một người thân qua đời, người ta thường tổ chức lễ cúng dường vào ngày thứ bảy. ထိုသို့ ပြုရသည့် အကြောင်းရင်းကား “လူတစ်ယောက် သေဆုံးသောအခါ ကံပတ်ချာဘဝသို့ ချက်ချင်းမပြောင်းသေးဘဲ ဘဝဟောင်း၌ ရှိရစ်သော အိမ်နှင့် ဆွေမျိုးများ၏အနီးအပါးဝယ် တဝဲလည်လည်နှင့် လည်လည်ကြည့်ရှုကာ ခုနစ်ရက်ကြာအောင် နေသည်” ဟု အယူရှိကြ၏။ → Nguyên nhân của việc này là do họ có quan niệm rằng: "Khi một người chết đi, họ chưa tái sanh ngay vào cảnh giới mới theo nghiệp, mà vẫn quanh quẩn gần nhà cửa và quyến thuộc ở kiếp cũ, cứ đi tới đi lui quan sát trong suốt bảy ngày". ထို့ကြောင့် ခုနစ်ရက်ပြည့်သောအခါ “ဘဝတစ်ပါးသို့ အပြောင်းတွင် ဘဝဟောင်းက ဆွေမျိုးများပြုသော ကုသိုလ်ကို ဝမ်းမြောက်စွာ သာဓုခေါ်ပြီးလျှင် ကောင်းရာဘဝသို့ ရောက်ပါစေတော့” ဟု ရည်စူးလျက် ၇-ရက်လည်မှ ဆွမ်းသွတ်ကြသည်။ → Do đó, khi đủ bảy ngày, với tâm nguyện rằng: "Trong lúc chuyển sang cảnh giới khác, cầu mong họ được hoan hỷ nói lời Thādu trước thiện sự do quyến thuộc đời này làm, để rồi được sanh về cảnh giới tốt lành", nên họ mới tổ chức cúng dường vào ngày thứ bảy. နည်းလမ်းမဟုတ်။ ။ စင်စစ်မှာ ထိုသို့ မှတ်ထင် စွဲလမ်းသည့်အတိုင်း ၇-ရက်မျှ မိမိအိမ်၏ အနီးအပါးတွင် စောင့်စားလှည့်လည် နေတော့သည် မဟုတ်ပါ။ → Điều này không đúng sự thật: Trên thực tế, người chết không hề chờ đợi hay đi quanh quẩn gần nhà mình trong suốt bảy ngày như những gì người ta hằng lầm tưởng và bám chấp. ကံစီမံရာဘဝသို့ ချက်ချင်းပင် ပြောင်းကြရပါသည်။ → Họ phải tái sanh ngay lập tức vào cảnh giới do nghiệp lực sắp đặt. ငရဲရောက်မည့်သူကို ကံက ဆိုင်းငံ့စောင့် စားနေမည်မဟုတ်၊ ချက်ချင်းပစ်ချလိမ့်မည်။ → Nghiệp sẽ không trì hoãn hay chờ đợi kẻ phải sa vào địa ngục, mà sẽ đẩy họ xuống đó ngay tức khắc. နတ်ပြည်ရောက်မည့်သူကလည်း ဆွေမျိုးဟောင်းများကို ငဲ့ညှာနေမည်မဟုတ်၊ → Người được sanh lên cõi trời cũng sẽ không còn quyến luyến gì với những thân nhân cũ. အိမ်အနီးအပါး၌နေ၍ ဤဘဝဆွေမျိုးများက ပြုမည့်ကုသိုလ်ကို မျှော်လင့်နေသူကား ပြိတ္တာဘဝ ရောက်နေသူသာတည်း။ → Chỉ có những người đã tái sanh vào cảnh giới ngạ quỷ mới ở quanh quẩn gần nhà để mong chờ phần phước từ những thân nhân trong kiếp này. ထို့ကြောင့် ရက်လည်အောင် ဆိုင်းငံ့ခြင်းသည် နည်းလမ်းမဟုတ်ပါ။ ဆုံးသည့်နေ့ကစ၍ တတ်အားသမျှ ကုသိုလ်ပြု အမျှဝေခြင်းသာ နည်းလမ်းကျပါသည်။ → Do đó, việc trì hoãn cho đến ngày thứ bảy là không đúng phương cách. Phương pháp đúng đắn là hãy thực hiện các thiện sự và chia phước ngay từ ngày họ vừa nằm xuống tùy theo khả năng của mình. TRANG 153 ပြိတ္တာ ရှစ်သောင်းလေးထောင်။ ။ ဤကမ္ဘာမှ ပြန်၍ ရေတွက်သော် ၉၂-ကမ္ဘာအထက်၌ “ဖုဿ” မည်သော ဘုရားရှင်ပွင့်တော်မူပါသည်။ → Tám mươi bốn ngàn ngạ quỷ: Nếu đếm ngược từ kiếp trái đất này, vào khoảng 92 kiếp trước, có một vị Phật tên là Phussa đã xuất hiện trên thế gian. *ထိုဘုရားရှင်၏ ညီတော် မင်းသားသုံးယောက်တို့သည် စည်းစိမ်များကို ကဏ္ဍရေးမင်းကြီးနှင့် အခွန်ဝန်အား လွှဲအပ်၍ အရပ်ရပ်ကိစ္စတို့ကို မှာထားပြီးလျှင် ကျွန်တော်ရင်းတစ်ထောင်နှင့်တကွ တစ်ဝါတွင်းလုံး ဆယ်ပါးသီလ စောင့်ထိန်းလျက် ကျောင်းတော်မှာ နေကြလေသည်။ → Ba vị hoàng tử là em trai của vị Phật đó đã bàn giao tài sản cho vị quan đại thần Kaṇḍare và quan thu thuế, dặn dò các công việc khắp nơi, rồi cùng với một ngàn cận vệ thân tín ở lại trong chùa suốt một mùa an cư để thọ trì *Thập thiện giới. လွှဲအပ်သော ဝန်ကြီးများက ဘုရားအမှူးရှိသော သံဃာတော်များနှင့်တကွ မင်းသားတို့၏ အခြွေအရံများအတွက်ပါ ချက်ပြုတ်၍ ပြုစုကြရ၏။ → Các vị quan được ủy thác có nhiệm vụ lo việc nấu nướng và chăm sóc cho đoàn tăng chúng do Đức Phật dẫn đầu, cũng như cho quyến thuộc của các hoàng tử. [ * ဤစကားကို ထောက်၍ “ရှိရင်းရွှေငွေကို တစ်ခါတည်း မပေးမစွန့်သော်လည်း သီလစောင့်ခိုက် မကိုင်မခံလျှင် ဆယ်ပါးသီလကို စောင့်ကောင်း၏” ဟု သိသာ၏။ ] → [ * Dựa vào câu này, có thể hiểu rằng: "Dù không từ bỏ hoàn toàn vàng bạc đang có, nhưng nếu trong lúc thọ giới mà không cầm nắm hay đụng chạm đến, thì vẫn có thể thọ trì Thập thiện giới tốt đẹp." ] ထိုအခါ ကိစ္စကြီးငယ် ရွက်ဆောင်ပြုလုပ် ချက်ပြုတ်ကြသူ ဝန်မင်းဆွေမျိုးတို့သည် ရှစ်သောင်းလေးထောင်ခန့် ရှိသတတ်။ → Lúc bấy giờ, số lượng quyến thuộc của các vị quan tham gia lo liệu các việc lớn nhỏ và nấu nướng có khoảng tám mươi bốn ngàn người. သူတို့သည် သံဃာတော်များအတွက် ချက်ပြုတ်ထားသော စားသောက်ဖွယ်မှ သံဃာတော်များ မကပ်ရခင် နေ့စဉ်မပြတ် သားသမီးများကိုလည်း ကျွေးမွေးကြ၊ မိမိတို့လည်း စားသောက်မိကြသဖြင့် ဤကမ္ဘာ၏ အစလောက်ကပင် အားလုံးပြိတ္တာများ ဖြစ်ကြ၍ စားရမဲ့ သောက်ရမဲ့ နေကြရလေသည်။ → Những người đó đã lấy những vật phẩm thực phẩm được nấu dành cho Tăng đoàn để cho con cái họ ăn và chính họ cũng ăn trước khi dâng cúng đến Tăng chúng một cách liên tục hàng ngày; do đó, từ khoảng đầu kiếp trái đất này, tất cả họ đều đã sanh làm ngạ quỷ và phải sống trong cảnh đói khát. ဤဝတ္ထုကို ထောက်၍ သူများ ဒါနပြုရာ၌ မိမိတို့က ဦးဦးဖျားဖျား မစားမိအောင်၊ ကလေးများကိုလည်း မကျွေးမိအောင် သတိပြုကြပါ။ → Dựa vào câu chuyện này, hãy cẩn thận đừng để bản thân mình ăn trước, cũng như đừng cho trẻ nhỏ ăn những món đồ trước khi người khác thực hiện việc cúng dường. TRANG 154 ထို့နောက် ပွင့်တော်မူလာသော ရှေးဘုရားရှင်များ အထံတော်သို့ ချဉ်းကပ်လျက် စားသောက်ရမည့်ကာလကို လျှောက်ထားကြရာ → Sau đó, họ đã đến gần các đức Phật quá khứ đã ra đời để thưa hỏi về thời điểm mà họ sẽ được ăn uống. “ဂေါတမဘုရား ပွင့်တော်မူလျှင် သင်တို့၏ ဆွေမျိုးဖြစ်ခဲ့သော အဇာတသတ်သည် ဗိမ္ဗိသာရမင်းဖြစ်၍ ဒါနပြုသောအခါ သင်တို့အား အမျှပေးဝေလိမ့်မည်။” → "Khi đức Phật Gotama ra đời, thân quyến của các ngươi là vua Ajātasattu sẽ trở thành vua Bimbisāra; khi vị ấy thực hiện việc bố thí, vị ấy sẽ chia phước đến cho các ngươi." “ထိုအခါ၌ သင်တို့ စားသောက်ကြရပေလိမ့်မည်” ဟု မိန့်တော်မူခဲ့သဖြင့် အမျှော်ကြီး မျှော်လင့်၍ နေခဲ့ကြလေသည်။ → "Vào lúc đó, các ngươi sẽ được ăn uống"; vì lời dạy đó mà họ đã sống trong sự mong đợi mỏi mòn. ထို့နောက် ငါတို့ဘုရားရှင် ပွင့်တော်မူလာ၍ ဗိမ္ဗိသာရမင်းသည် ရှေးဦးစွာ လှူဒါန်းကျွေးမွေးသောအခါ အမျှမဝေမိသဖြင့် အဖို့မရ၍ → Sau đó, khi đức Phật của chúng ta ra đời, vua Bimbisāra đã thực hiện việc cúng dường đầu tiên nhưng vì không hồi hướng chia phước, nên họ đã không nhận được phần phước đó. ညဉ့်အခါ အသံပြုလျက် ကိုယ်ထင်ပြကြလေသည်။ → Vào ban đêm, họ đã phát ra tiếng động và hiện thân cho vua thấy. ဗိမ္ဗိသာရမင်းလည်း ဘုရားအထံတော်လာ၍ အကြောင်းကို လျှောက်ထားရာ အကြောင်းစုံကို ဟောတော်မူသောကြောင့် → Vua Bimbisāra đã đến đảnh lễ đức Phật để thưa hỏi sự việc; sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng đầy đủ nguyên nhân... နောက်ထပ် သင်္ကန်း, ဆွမ်းတို့ကိုလှူ၍ အမျှပေးဝေရာ သာဓုခေါ်ကြသဖြင့် ပြိတ္တာအဖြစ်မှ လွတ်မြောက်၍ နတ်အဝတ်အစားများ ပေါ်ပေါက်ရလေသတဲ့။ → ...vua đã cúng dường thêm y phục và vật thực rồi hồi hướng chia phước; nhờ họ đồng thanh Thādu nên đã thoát khỏi kiếp ngạ quỷ và có được thiên y hiện ra ngay lập tức. သတိထားဖွယ်။ ။ အမျှပေးဝေမှုနှင့် စပ်၍ သတိထားဖွယ် တစ်ရပ်ကို ဥပရိပဏ္ဏာသ, ဒက္ခိဏာဝိဘင်္ဂသုတ် အဋ္ဌကထာ၌ တွေ့ရ၏။ → Điều cần lưu ý: Một điểm cần lưu ý liên quan đến việc chia phước được tìm thấy trong Chú giải kinh Dakkhiṇāvibhaṅga, thuộc bộ Uparipaṇṇāsa. မုဆိုးတစ်ယောက်သည် သေလွန်၍ ပြိတ္တာဖြစ်နေသော ဆွေမျိုးကို ရည်စူးလျက် သီလသိက္ခာမရှိသော (ရဟန်းအတု) ကိုယ်တော်အား ၂-ကြိမ်တိုင်အောင် အလှူပေး၍ အမျှပေးဝေသော်လည်း အမျှမရဘဲရှိရာ → Một người thợ săn vì muốn hồi hướng cho người thân đã chết đang làm ngạ quỷ, nên đã cúng dường đến một vị "sư" không có giới hạnh (sư giả) hai lần và chia phước, nhưng vị ngạ quỷ vẫn không nhận được gì. ၃-ကြိမ်မြောက် ပေးလှူပြန်သောအခါ ပြိတ္တာက “ငါ့ဖို့ ဥစ္စာကို ဒုသီလကြီးက လုယူထားသည်” ဟု အော်ဟစ်သတဲ့။ → Đến lần cúng dường thứ ba, vị ngạ quỷ ấy đã gào thét lên rằng: "Tài sản dành cho ta đã bị kẻ phá giới này chiếm đoạt mất rồi". --- TRANG 155 ဒုသီလကို လှူ၍ အမျှပေးဝေသောကြောင့် “ငါမှာ အဖို့မရဘူး” ဟု ဆိုလိုသည်။ → Điều này có nghĩa là vì cúng dường đến kẻ phá giới rồi chia phước nên "tôi không nhận được phần phước nào cả". ထို့ကြောင့် ဆွေမျိုးဟောင်းကို ရည်မှန်း၍ လှူဒါန်းရာ၌ မိမိကိုယ်တိုင် သီလဆောက်တည်လျက် သီလရှိသူအား လှူဒါန်း၍ အမျှပေးဝေမှ အဖို့ရဖွယ်ရှိကြောင်း ကောင်းကောင်းကြီး သတိပြုသင့်ကြပေသည်။ → Do đó, khi cúng dường hồi hướng cho quyến thuộc cũ, cần phải hết sức lưu ý rằng chính mình phải thọ trì giới và cúng dường đến bậc có giới hạnh thì họ mới có khả năng nhận được phần phước. သီလရှိသောပုဂ္ဂိုလ်ကို မရွေးချယ်တတ်လျှင်လည်းကောင်း၊ ရွေးချယ်ရာ အားနာလျှင်လည်းကောင်း၊ သံဃာကုန်ကို ရည်မှန်းလှူဒါန်း၍ အမျှဝေသင့်ပါသည်။ → Nếu không biết cách chọn lựa bậc có giới hạnh, hoặc nếu cảm thấy ngại ngùng trong việc chọn lựa, thì nên cúng dường hướng đến toàn thể Chư Tăng (Saṅghika dāna) rồi chia phước. “သံဃာ” ဟူရာ၌ ရဟန်းတော်အများစုမှ “သံဃာ” ဟု မမှတ်ရ၊ ရဟန်းတစ်ပါးပင် ဖြစ်သော်လည်း မိမိက “သံဃာအား လှူ၏” ဟု သံဃာကိုရည်စူး၍ ဆွမ်းတစ်ထပ် လှူလျှင်လည်း သံဃိကဒါန ဖြစ်နိုင်၏။ → Chữ "Saṅgha" không nhất thiết phải là một nhóm đông các vị Tỳ-kheo; dù chỉ là một vị Tỳ-kheo nhưng nếu mình khởi tâm hướng đến toàn thể Tăng đoàn (Saṅgha) khi cúng dường một bữa ăn, thì đó vẫn là Saṅghika dāna. ရဟန်းတော်များကို ပင့်၍ လှူရာ၌ အထူးပြောဖွယ်မရှိပါ။ → Còn việc thỉnh mời các vị Tỳ-kheo đến để cúng dường thì (giá trị phước báu) không cần phải bàn cãi thêm. ထို့ပြင် သေလွန်သူကို အကျိုးရစေလိုသောဆန္ဒဖြင့် ကုသိုလ်ပြုရာ၌ မည်သည့်နည်းနှင့်မျှ ဂုဏ်ပကာသနတွေ မပါရအောင် သတိပြုသင့်ပါသည်။ → Ngoài ra, khi làm thiện sự với mong muốn người quá cố được lợi ích, cần phải cẩn trọng để không cho sự phô trương danh tiếng xen tạp vào dưới bất kỳ hình thức nào. အဉ္စလိကရဏီယ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Añjalikaraṇīya (Để học thuộc lòng): (၈) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သေ သော သာဝကသံဃော-အရိယာလေးပါး၊ သီးခြားရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ ဤအရိယာ သူတော်ကောင်းသည်။ → (8) Bhagavato - Sāvaka saṅgho: Các vị đệ tử của Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của vinh hiển, gồm bốn đôi và tám bậc Thánh nhân, là những bậc cao thượng này. --- TRANG 156 အဉ္စလိကရဏီယော-တစ်လောကလုံး၊ ကိုင်းညွှတ်ရုံးလျက်၊ ရှစ်ဖြာကြည်ညို၊ ရိုသေမြတ်နိုး၊ လက်အုပ်မိုး၍၊ ရှိခိုးခြင်းကိုလည်း ထိုက်တော်မူပါပေ၏။ → Añjalikaraṇīyo: Là bậc xứng đáng được toàn thể thế gian cung kính cúi đầu, với tám phần tịnh tín, tôn kính ngưỡng mộ, chắp tay trên trán để thực hiện việc lễ bái. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét: အဉ္စလိကရဏီယ ဂုဏ်တော်သည် “လက်အုပ်ချီမှုကို ပြုထိုက်၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ [ အဉ္စလိ-လက်အုပ်ချီမှု + ကရဏီယ-ပြုထိုက်သည်။ ] → Ân đức Añjalikaraṇīya thể hiện ý nghĩa: "Xứng đáng được thực hiện sự chắp tay lễ bái". → [ Añjali-chắp tay + Karaṇīya-xứng đáng làm. ] အရိယာသံဃာတော်အပေါင်းသည် တစ်လောကလုံးရှိ လူနတ်ဗြဟ္မာသတ္တဝါတို့၏ ကြည်လင်ရွှင်ပြ မြတ်နိုးလှစွာ ကိုင်းညွှတ်ရှိသေမှု လက်အုပ်ကို နဖူးပေါ်ရောက်အောင် မိုးလျက် ရှိခိုးမှုကို ခံထိုက်ပေ၏။ → Toàn thể các bậc Thánh Tăng xứng đáng thọ nhận sự lễ bái chắp tay trên trán, một sự tôn kính cúi đầu đầy tịnh tín và ngưỡng mộ của tất cả chúng sinh là người, trời và Phạm thiên trong toàn thế gian. ပုထုဇဉ် သံဃာတို့ကား အရိအသေသံထိုက်လောက်အောင် သီလ, သမာဓိ, ပညာဂုဏ်မရှိပါလျှင် လူတို့က အရိုအသေပြုမှုကြောင့် မိမိတို့အပေါ်၌ ကြီးလေးသော တာဝန်များတက်ရောက် လာဖွယ်ရှိသည်။ → Đối với những vị Tăng phàm phu, nếu không có đủ các đức tính Giới, Định, Tuệ để xứng đáng nhận sự tôn kính của các bậc Thánh, thì do sự tôn kính của người đời, có thể sẽ phải gánh chịu những trách nhiệm rất nặng nề trên chính bản thân mình. ဝိသုဒ္ဓိမဂ်လာ အောက်ပါဂါထာသည် အလွန်သံဝေဂဖြစ်ဖွယ်ကောင်းသော ဂါထာပေတည်း။ → Bài kệ dưới đây trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) là một bài kệ rất đáng để khởi tâm kinh cảm (saṃvega). ပိဏ္ဍပါတဿ အယောဂုဠော၊ အယောပဋ္ဌော စ စီဝရံ၊ ဝိဟာရော အယောကုမ္ဘီဝ၊ သတ္တေဝေသော အဉ္စလိ။ → Piṇḍapātassa ayoguḷo, Ayopaṭṭho ca cīvaraṃ, Vihāro ayokumbhīva, Sattaveso añjali. --- TRANG 158 အဿ-ထိုသီလသိက္ခာ၊ ကောင်းစွာမစင်၊ ပုထုဇဉ်ဆိုး၊ ရဟန်းမျိုး၏၊ ပိဏ္ဍပါတော-ဒကာ ဒကာမ၊ သဒ္ဓါကြည်ဖြူ၊ လှူဒါန်းစားဖွယ်ဆွမ်းသည်လည်း၊ အယောဂုဠော-အရှိန်ရဲရဲ၊ မီးလျှံစွဲသည့်၊ သံခဲသံလုံး၊ သံတုံးတွေနှင့် တူလှပေ၏။ → Piṇḍapātassa ayoguḷo: Đối với hạng Tỳ-kheo phàm phu ác giới, giới hạnh không thanh tịnh, thì vật thực khất thực (Piṇḍapāta) do thí chủ tin tưởng cúng dường sẽ giống như những hòn sắt nóng đỏ rực lửa. စီဝရံ-ကိုယ်ဝယ်ဆင်မြန်း၊ ဝတ်သင်္ကန်းသည်၊ အယောပဋ္ဌော-အရှိန်ကြီးမား၊ မီးလျှံဝါးသည့် သံပြားကြီးနှင့် တူလှပေ၏။ → Ayopaṭṭho ca cīvaraṃ: Y phục (Cīvara) đang mặc trên thân sẽ giống như những tấm sắt lớn mang hơi nóng hừng hực và rực lửa. ဝိဟာရော-သွားရပ်ထိုင်လျောင်း၊ နေရာကျောင်းသည်၊ အယောကုမ္ဘီဝ-စန်းကျင့်တောက်ပြောင်၊ ရဲရဲလောင်သည့် သံအိုးကြီးနှင့် တူလှပေ၏။ → Vihāro ayokumbhīva: Chỗ ở hay ngôi chùa (Vihāra) nơi đi đứng nằm ngồi sẽ giống như một cái vạc sắt lớn đang cháy đỏ rực và nóng bỏng. အဉ္စလိ-လူသူအားလုံး၊ များညွှတ်ရုံးလျက်၊ ရွှင်ပြကြည်ညို၊ ရိုသေမြတ်နိုး၊ လက်အုပ်မိုး၍၊ ရှိခိုးကြခြင်းသည်၊ သတ္တေဝေသော-အရောင်လက်လက်၊ မြံထက်သည့် လက်နက်လှံစို့၊ ဝိုင်း၍ထိုးသည်နှင့် တူလှပေသတည်း။ → Sattaveso añjali: Việc chắp tay (Añjali) lễ bái với sự tôn kính và tịnh tín của mọi người dành cho, sẽ giống như việc bị bao quanh và đâm bởi những vũ khí giáo mác sắc bén và sáng loáng. မိမိ၏ သီလသိက္ခာ မလုံလောက်လျှင် ရဟန်းအဖြစ်၌ နေထိုင်ဖို့ရန်ပင် မသင့်တော့ပြီ။ → Nếu giới hạnh của bản thân không đủ đầy, thì việc tiếp tục sống trong tư cách một vị Tỳ-kheo là không còn phù hợp nữa. ရဟန်းအဖြစ်ဟူသည် အလွန်ကြီးမားသော ဆုထူးကို ရည်ရွယ်မှန်းထားသော အဂ္ဂသာဝက မဟာသာဝက အလောင်း, ဘုရားအလောင်းများနှင့်သာ သို့မဟုတ် နိဗ္ဗာန်ကို မြန်မြန်ရလို၍ သံသရာ၌ ငြီးငွေ့သော သူတော်ကောင်းတို့နှင့်သာ ထိုက်တန်၏။ → Phẩm hạnh Tỳ-kheo chỉ xứng đáng với những bậc Bồ-tát Toàn Giác, Bồ-tát Thinh Văn (Đại Thinh Văn, Tối Thượng Thinh Văn) vốn đang hướng đến những quả vị lớn lao, hoặc với những bậc thiện trí thức đã nhàm chán luân hồi và muốn mau chóng đạt đến Niết-bàn. အမှတ်တမဲ့နေသူတို့မှာ ဗုဒ္ဓသာသနာတော်နှင့် မတန်မရာချေ။ → Đối với những kẻ sống hờ hững thiếu chánh niệm, họ thật không xứng đáng với giáo pháp của Đức Phật. သို့ပါလျက် အမြင်တိုသော ဆွေမျိုးများက “လူ့ဘောင်၌ တေလေလုပ်နေလျှင် အိမ်မှာ အနှောင့်အယှက်ပေးလိမ့်မည်၊ → Dù vậy, những người thân có tầm nhìn ngắn hẹp lại nghĩ rằng: "Nếu nó cứ sống lang thang ở ngoài đời thì sẽ gây phiền phức cho gia đình... TRANG 158 ရာဇဝတ်မှု ကျူးလွန်လျှင် ထောင်ကျ၍ ဆင်းရဲလိမ့်မည်၊ → Nếu phạm tội ác, kẻ ấy sẽ phải vào tù và chịu cảnh khổ cực. ဘာမျှ အလုပ်အကိုင် မတတ်လျှင် အသက်မွေးမှု ခက်လိမ့်မည်၊ → Nếu không có nghề nghiệp chuyên môn, việc nuôi sống bản thân sẽ trở nên khó khăn. ဘုန်းကြီး လုပ်နေလျှင်ကား အစားအသောက် အနေအထိုင် မကြောင့်ကြရ၊ → Nhưng nếu đi làm sư, kẻ ấy sẽ chẳng phải lo lắng về chuyện ăn uống hay nơi cư ngụ. ဘာမျှမလုပ်ကိုင်ဘဲ ဘုရားထူး ဦးချခံ၍ ဟန်ပန်ပန်ပန်ကြီး နေနိုင်သည်” ဟု သူတို့တွက်ကိန်းအရ အိမ်၌ အသုံးမကျပုံ မပေါ်သူကို ဘုန်းကြီးလုပ်ဖို့ တိုက်တွန်းလိုက်ကြသဖြင့် သာသနာ့ဝန်ကို မဆောင်နိုင်ဘဲ သာသနာတော်ကြီးကို “ဖိစီး” နေသော သာသနာ့ဝန်စီးတွေ ပေါများ၍နေသည်မှာ လွန်စွာဝမ်းနည်းဖွယ်ကောင်းလှတော့၏။ → "Chẳng cần làm lụng gì mà vẫn được người đời lạy lục tôn kính, lại có thể sống một đời nhàn nhã đĩnh đạc"; theo cách tính toán đó, họ hối thúc những đứa trẻ vô dụng trong gia đình đi làm sư, dẫn đến việc có quá nhiều kẻ ăn bám giáo pháp (sāsana-vun-see) — những kẻ không gánh vác nổi gánh nặng giáo pháp mà chỉ làm trì trệ đạo pháp — đây thật là một điều vô cùng đáng buồn. လောကကောင်းကျိုးကို ဆောင်ရွက်နေသော ပုဂ္ဂိုလ်ကောင်းများနှင့် ဆက်ဆံခွင့်မရသော ခေတ်လူငယ် တစ်ချို့က ထိုသာသနာ့ဝန်စီးများကိုကြည့်၍ သာသနာရေးကို ပစ်ပယ်လိုသော စိတ်ထားများလည်း ယခုအခါ ပေါ်ပေါက်လာသဖြင့် သာ၍ ကြောက်ဖွယ်ဘေးကြီးနှင့် ရင်ဆိုင်ရတော့မလို ဖြစ်နေချေပြီ။ → Một số thanh niên thời nay, do không có cơ hội tiếp xúc với những bậc thiện tri thức đang phụng sự lợi ích cho đời, khi nhìn vào những kẻ ăn bám giáo pháp này đã nảy sinh tâm lý muốn ruồng bỏ tôn giáo; điều này đang khiến chúng ta phải đối mặt với một mối hiểm họa còn đáng sợ hơn nữa. ဝန်ဆောင်ပုဂ္ဂိုလ်များသည် သာသနာသန့်ရှင်းရေးကို ကြိုးစားနိုင်ကြလျှင် ကြိုးစားဖို့ အချိန်ရောက်နေပါပြီ။ → Đã đến lúc những bậc đang gánh vác trọng trách giáo pháp cần phải nỗ lực hết mình để làm trong sạch đạo pháp. မကြိုးစားနိုင်ကြလျှင်ကား တစ်ခြားနိုင်ငံက ဘုန်းကြီးများ၏ အခြေအနေသို့ ရောက်ရှိရန် အချိန်ကြာကောင်းမှ ကြာပေလိမ့်မည်။ → Nếu không nỗ lực, có lẽ chẳng bao lâu nữa tình trạng của chư Tăng (ở đây) cũng sẽ trở nên giống như tình trạng của chư Tăng ở một số quốc gia khác. [တစ်ခြားနိုင်ငံ၌ ဘုန်းကြီးအခေါ်ခံရသူများကို အထက်တန်းမှာ မထားကြ၊ ထိုဘုန်းကြီးများလည်း သင့်တော်သလို ရှာဖွေ၍ အသက်မွေးကြရရှာသည်။] → [Ở một số quốc gia khác, những người được gọi là sư không được đặt ở vị trí cao quý trong xã hội, và chính những vị sư đó cũng phải tự tìm cách làm việc để nuôi thân tùy theo hoàn cảnh.] TRANG 159 အနုတ္တရံ ပုညက္ခေတ္တံ ဂုဏ်တော်ဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích ân đức Anuttaraṃ Puññakkhettaṃ (Để học thuộc lòng): (၉) ဘဂဝတော-ရွှေဘုန်းတော်သခင်၊ ရှင်တော်မြတ်ဘုရား၏၊ သေ သော သာဝကသံဃော-အရိယာလေးပါး၊ သီးခြားရှစ်ဖော်၊ သံဃာတော်အပေါင်း၊ ဤအရိယာသူတော်ကောင်းသည်။ → (9) Bhagavato - Sāvaka saṅgho: Các vị đệ tử của Đức Thế Tôn, bậc chủ tể của vinh hiển, gồm bốn đôi và tám bậc Thánh nhân, là những bậc cao thượng này. လောကဿ-လူနတ်ဗြဟ္မာ၊ သတ္တဝါအပေါင်း၏၊ အနုတ္တရံ-အတုမရှိ မြတ်ခေါင်ထိသော၊ ပုညက္ခေတ္တံ-ကုသိုလ်ကောင်းမှု၊ မျိုးစေ့စုကို၊ ကြီးထုမြင့်မား၊ စွင့်စွင့်ကားလျက်၊ ပျိုးထွားဖွယ်ရာ၊ လယ်ယာမြေကောင်းအတူ၊ ဖြစ်တော်မူပါပေ၏။ → Lokassa - Anuttaraṃ puññakkhettaṃ: Là phước điền vô thượng của toàn thể chúng sinh gồm người, trời và Phạm thiên; các Ngài giống như mảnh ruộng màu mỡ để gieo trồng các hạt giống công đức, giúp chúng sinh trưởng, lớn mạnh và trổ quả dồi dào. ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét: အနုတ္တရံပုညက္ခေတ္တ ဂုဏ်တော်သည် “ကောင်းမှုမျိုးစေ့ကို ကြဲချစိုက်ပျိုးရန် မြတ်သောလယ်ယာနှင့် တူတော်မူ၏” ဟူသော အနက်ကို ပြသည်။ → Ân đức Anuttaraṃ Puññakkhettaṃ thể hiện ý nghĩa: "Các Ngài giống như mảnh ruộng cao quý để gieo vãi và trồng trọt các hạt giống thiện lành". [ အနုတ္တရ-မြတ်သော + ပုည-ကောင်းမှု + ခေတ္တ-လယ်ယာ ] → [ Anuttara-cao quý/vô thượng + Puñña-phước thiện + Khetta-ruộng vườn ] အရိယာသံဃာတော်သည် လယ်ယာမြေကောင်းနှင့် တူ၏။ → Bậc Thánh Tăng giống như một mảnh ruộng tốt. ကောင်းမှုရှင်များကား လယ်ယာရှင်နှင့် တူသည်။ → Những người làm việc thiện giống như chủ nhân của mảnh ruộng đó. ကောင်းမှုရှင်များ ပြုကြသော လှူဒါန်းမှု၊ ရဟန်းတော်များ၏ အဆုံးအမအတိုင်း သီလဆောက်တည်မှု၊ ဘာဝနာကမ္မဋ္ဌာန်း စီးဖြန်းမှုမှာ အောင်အောင်မြင်မြင် အနှစ်ပြည့်ဝသော မျိုးစေ့နှင့် တူသည်။ → Việc thực hiện bố thí của các bậc thiện chí, việc thọ trì giới theo lời dạy của chư Tăng, hay việc thực hành thiền định đều giống như những hạt giống chất lượng và chắc khỏe. လယ်ယာစိုက်ပျိုးရာ၌ မြက် သစ်ပင် စသော အနှောင့်အယှက်ကင်း၍ သန့်ရှင်းသော လယ်ယာ၌ စိုက်ပျိုးသော မျိုးစေ့များသည် စည်ပင်ပြန့်ပွား ပျိုးထွားကြီးမားသကဲ့သို့ → Giống như trong việc canh tác, những hạt giống được gieo trên mảnh ruộng sạch sẽ, không bị cỏ dại hay cây cối ngăn trở thì sẽ sinh trưởng mạnh mẽ và to lớn... TRANG 160 ကောင်းမှုရှင်များသည် လှူဒါန်းမှု အစရှိသော မျိုးစေ့တို့ကို အညစ်အကြေးတို့မှ ကင်းဝေးစင်ကြယ်ပြီးသော အရိယာသံဃာတော်၌ စိုက်ပျိုးကြသူများသာ နောင်အခါ၌ အလွန်ကြီးမားသော အကျိုးများကို ခံစားကြရပါလိမ့်မည်။ → ...cũng vậy, chỉ những bậc thiện chí nào gieo hạt giống bố thí và các thiện sự khác nơi bậc Thánh Tăng — những bậc đã gột sạch các uế nhiễm — thì sau này mới được hưởng những quả báo vô cùng to lớn. ထို့ကြောင့် ယခုဘဝအခါ အရိယာသံဃာဟူ၍ သေသေချာချာ မထင်ရှားရကား သံဃာများနှင့် စပ်ဆိုင်သော ကထိန်သင်္ကန်းလှူဒါန်းမှု၊ နေ့စဉ်ဆွမ်းလောင်းမှုစသော ကိစ္စ၌ ပရိနိဗ္ဗာန်စံဝင်ပြီးသော သံဃာတော်များနှင့် တစ်သာသနာလုံး သံဃာတော်များကို ရည်မှန်း၍ လှူဒါန်းကြပါ။ → Do đó, vì thời nay các bậc Thánh Tăng không hiện diện một cách rõ ràng, nên trong các việc như dâng y Kathina hay đặt bát cúng dường hàng ngày vốn liên quan đến Tăng đoàn, quý vị hãy hướng tâm cúng dường đến toàn thể Tăng chúng trong giáo pháp, bao gồm cả những bậc đã nhập Niết-bàn. တစ်ပါး နှစ်ပါး စသည် လှူဒါန်းရာ၌ကား သီလ, သမာဓိ, ပညာ ကောင်းစွာလုံလောက်သော ပုဂ္ဂိုလ်များကို ရွေးချယ်၍ လှူဒါန်းမှသာ အကျိုးများများ ရနိုင်ပါမည်။ → Còn khi cúng dường riêng lẻ cho một hoặc hai vị, quý vị phải chọn lựa những vị có đầy đủ Giới, Định, Tuệ thì mới có thể nhận được nhiều lợi ích. ပုထုဇဉ် သူတော်ကောင်းများလည်း သောတာပန်လောက်နီးနီး ခရီးရောက်ကြပေသည်။ → Những vị phàm phu thiện trí cũng đã tiến bước rất gần đến quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). လာဇာနတ်သမီး ဝတ္ထု။ ။ ဘုရားလက်ထက်တော်က ဆင်းရဲသူ အမျိုးသမီးတစ်ယောက်သည် လယ်တောစောင့်ရင်း သွားရည်စာအဖြစ် စားဖို့ရာ ပေါက်ပေါက်ကလေးများကို လှော်ထား၏။ → Chuyện nàng thiên nữ Lājā: Vào thời đức Phật, có một phụ nữ nghèo khổ, trong lúc trông coi ruộng lúa đã rang một ít bỏng ngô (Lājā) để làm thức ăn nhẹ. အရှင်မဟာကဿပထေရ်မြတ်လည်း နိရောဓသမာပတ်မှ ထလျှင် ဆင်းရဲသူမလေးကို မြင်သဖြင့် လယ်တောသို့ ဆွမ်းခံကြွတော်မူသည်။ → Ngài Đại trưởng lão Mahā Kassapa sau khi xả định Diệt Thọ Tưởng, nhìn thấy cô gái nghèo ấy nên đã đi vào cánh đồng để khất thực. အမျိုးသမီးကလေးသည် မိမိစားဖို့ရာ ပေါက်ပေါက်ကလေးများကို လာရောက်လှူဒါန်းပြီးလျှင် ဝမ်းမြောက်ဝမ်းသာ မိမိ၏အလှူကို အောက်မေ့လျက် လယ်စောင့်တဲသို့ အပြန်တွင် ကင်း (ကန့်သင်း) ရိုးမှ မြွေကိုက်သဖြင့် ချက်ချင်းဆုံးလေသည်။ → Cô gái ấy đã mang phần bỏng ngô dành cho mình ra cúng dường; sau đó, trong lúc hân hoan nhớ về thiện sự vừa làm trên đường trở về chòi canh, cô đã bị rắn cắn ở bờ ruộng và qua đời ngay lập tức. TRANG 161 ထိုအခါ မိမိကုသိုလ်ကို ဝမ်းမြောက်သောစိတ်က စွဲနေသဖြင့် အလွန်မဆင်းရဲရဘဲ နတ်ပြည်သို့ရောက်၍ ပေါက်ပေါက်စတွေ တွဲရွဲဆွဲနေသောဘုံ၌ နတ်သမီးဖြစ်ကာ “လာဇာနတ်သမီး” ဟု ထင်ရှားလေသည်။ [ပေါက်ပေါက်ကို ပါဠိလို “လာဇာ” ဟု ခေါ်သည်။] → Lúc đó, vì tâm đang bám chặt vào niềm hoan hỷ nơi thiện nghiệp nên cô không phải chịu khổ cảnh mà được sanh lên cõi trời, làm một vị thiên nữ trong tòa lâu đài có những chuỗi bỏng ngô treo lủng lẳng, và được biết đến với tên gọi "Thiên nữ Lājā". [Trong tiếng Pali, bỏng ngô gọi là "Lājā".] ထို့နောက် အရှင်မဟာကဿပထေရ်ကို ကျေးဇူးတင်လှ၍ ဝတ်ကြီးဝတ်ငယ် ပြုလိုသောကြောင့် အရှင်မဟာကဿပ နေရာလိပ်ဂူသို့ ဆင်းလာသောအခါ အရှင်မဟာကဿပက အလှူအတမံမခံသဖြင့် ငိုယိုကာ နတ်ပြည်သို့အပြန်တွင် ဘုရားရှင် မြင်တော်မူ၍ တရားဟောတော်မူရာ “သောတာပန်” အဖြစ်သို့ ရောက်လေသည်။ → Sau đó, vì vô cùng cảm kích Ngài Đại Kassapa nên nàng muốn xuống cõi người để làm các việc phục dịch (quét dọn) tại hang động nơi Ngài trú ngụ; tuy nhiên, Ngài Kassapa đã không chấp nhận sự phục vụ đó; trong lúc nàng đang khóc lóc trở về cõi trời, Đức Thế Tôn đã nhìn thấy và thuyết pháp cho nàng, nhờ đó nàng đắc quả Tu-đà-hoàn. ဤသို့လျှင် အရိယာသံဃာတော်သည် ကောင်းမှုတည်းဟူသော မျိုးစေ့ကို စိုက်ပျိုးဖို့ရာ အတုမရှိသော လယ်ယာမြေကောင်းနှင့် တူပါပေသည်။ [ဓမ္မပဒ အဋ္ဌကထာ၊ ပါဝင်၏] → Như vậy, bậc Thánh Tăng chính là mảnh ruộng tốt vô thượng để gieo trồng các hạt giống thiện lành. [Có trong Chú giải Kinh Pháp Cú] ဤဝတ္ထု၌ အနည်းငယ်သော ပေါက်ပေါက်ကလေးများကို လှူဒါန်းမှုကြောင့် နတ်စည်းစိမ်ရရုံမျှမက သောတာပန်ဖြစ်သည်တိုင်အောင် ကြီးကျယ်သော အကျိုးထူးကို ရသည်မှာ ညောင်စေ့ကလေး စိုက်ပျိုးလိုက်ရာ ညောင်ပင်ကြီးပေါက်လာသကဲ့သို့ တူသောကြောင့် “ညောင်စေ့လောက် လှူလိုက်လျှင် ညောင်ပင်ကြီးလောက် ရ၏” ဟု ပြောစမှတ်ပြုကြသည်။ → Trong câu chuyện này, việc cúng dường chỉ một ít bỏng ngô mà không chỉ nhận được thiên lạc trái lại còn đạt được lợi ích vĩ đại là quả vị Tu-đà-hoàn; điều này giống như việc gieo một hạt đa nhỏ mà mọc lên một cây đa khổng lồ, nên người ta thường có câu: "Cúng dường bằng hạt đa, nhận quả bằng cây đa". TRANG 162 တိုက်တွန်းချက်။ ။ယခုကာလ မိကောင်း ဖကောင်း သားသမီးတို့မှာ ရှေးကပြုခဲ့သော အကုသိုလ်တွေရှိစေကာမူ အကျိုးမပေးရလျှင် မနေနိုင်လောက်အောင် (အပါယ် ၄-ပါးသို့ မချရလျှင် မနေနိုင်လောက်အောင်) ကြီးကျယ်သော အကုသိုလ်ကံများကား အကျိုးပေးသင့်သမျှ ပေးပြီးဖြစ်၍ နောက်ထပ် အကျိုးပေးဖို့ရာ အကုသိုလ်ကံကြီးများ မရှိသလောက် နည်းပါးလေပြီ။ → Lời khuyên: Đối với con cái của những gia đình tử tế trong thời đại này, dù có những bất thiện nghiệp đã làm từ trước, thì những ác nghiệp to lớn đến mức nhất thiết phải trổ quả (nhất thiết phải đẩy vào bốn đường ác) hầu như đã trổ quả xong xuôi rồi, và những đại ác nghiệp để trổ quả tiếp sau này cũng đã giảm bớt đến mức gần như không còn nữa. ထို့ကြောင့် ယခုဘဝ၌ ကြီးကျယ်သော အကုသိုလ်ကံများကို နောက်ထပ်မဖြစ်ရအောင် စောင့်စည်း၍ ကြိုးကြိုးစားစား ပါရမီဖြည့်သွားလျှင် ကောင်းသော ဘဝသို့ ရောက်ဖို့ရန် မလွဲနိုင်တော့ပြီ၊ တကယ်တမ်း လိုချင်ပါမူ နိဗ္ဗာန်နှင့် နီးလှပေပြီ။ → Vì vậy, nếu trong kiếp này biết thu thúc để không tạo thêm những đại ác nghiệp mới và nỗ lực bồi đắp ba-la-mật, thì việc đạt được một cảnh giới tốt đẹp là điều chắc chắn; nếu thực sự khát khao, thì Niết-bàn đã ở rất gần rồi. ယခုဘဝကား သေရေးရှင်ရေးထက် အရေးကြီးသော ဘဝပေတည်း၊ ယခုဘဝ၌ မေ့မေ့လျော့လျော့နှင့် ခပ်ပေါ့ပေါ့နေသွားကြလျှင် သံသရာမှ ကျွတ်လွတ်ဖို့အတွက် မျှော်လင့်ချက် ဝေးလှ၏။ → Kiếp sống này là một kiếp sống quan trọng hơn cả chuyện sống chết; nếu ở kiếp này mà cứ sống lơ là, xem nhẹ mọi việc, thì hy vọng thoát khỏi vòng luân hồi là rất xa vời. ယခုဘဝ၌ အားရပါးရ ကြိုးစားကြလျှင်ကား အထက်တန်းရောက်ဖို့လည်း မခက်၊ သံသရာမှ လွတ်ဖို့လည်း မခက်တော့ပြီ။ → Ngược lại, nếu trong kiếp này nỗ lực hết mình, thì việc đạt đến cảnh giới cao hơn không khó, và việc thoát khỏi luân hồi cũng chẳng còn khó khăn nữa. သို့အတွက် ကိုယ်စီကိုယ်စီ စိတ်ထားမြင့်မြတ်အောင် ပြုပြင်လျက် အကုသိုလ်များကို အထူးဆင်ခြင်ကြပြီးလျှင် ပြခဲ့သောဝတ္ထုကို ထောက်ထား၍ ကုသိုလ်ကောင်းမှုကို နေ့စဉ် ကြိုးစားကြပါ။ → Vì thế, mỗi người hãy tự tu sửa để tâm hồn trở nên cao thượng, đặc biệt thận trọng với các bất thiện nghiệp, và dựa trên câu chuyện đã dẫn mà nỗ lực làm các thiện sự mỗi ngày. ထိုကဲ့သို့ ကြိုးစား၍ စိတ်ကောင်းထားသူသည် ဘဝအဆက်ဆက်၌ သူတော်ကောင်းနှင့် တွေ့၍ ထိုသူတော်ကောင်းအထံမှ ကောင်းသောဩဝါဒကို ရနိုင်၏။ → Người nỗ lực và giữ tâm lành như vậy sẽ gặp được bậc thiện tri thức trong suốt các kiếp vị lai và nhận được những lời giáo huấn tốt đẹp từ bậc thiện tri thức đó. ထိုဩဝါဒအတိုင်း နေထိုင်လျှင် အပါယ်မကျနိုင်တော့ဘဲ ပါရမီ အဆင့်ဆင့် ရနိုင်ပါသည်။ → Nếu sống theo lời giáo huấn đó, kẻ ấy sẽ không còn bị sa vào ác đạo và có thể đạt được các cấp độ ba-la-mật cao dần. TRANG 163 သူတော်ကောင်းဆိုသည်မှာ- (၁) ငါးပါးသီလကို လုံခြုံသူ၊ (၂) ငါးပါးသီလ၌ မပါသေးသော ဒုစရိုက်များကို ရှောင်လေ့ရှိသူ၊ (၃) ဣဿာ မစ္ဆရိယ မဖြစ်အောင် သတိထားသူ၊ (၄) ဒါနစသော ပုညကြိယဝတ္ထုကို စွမ်းနိုင်သမျှ ပြုလေ့ရှိသူသာတည်း။ → Bậc thiện trí thức nghĩa là: (1) Người giữ gìn ngũ giới trọn vẹn, (2) Người có thói quen tránh xa các ác hạnh chưa bao gồm trong ngũ giới, (3) Người cẩn trọng để tâm đố kỵ và bỏn xẻn không phát sinh, (4) Người thường xuyên thực hiện các việc phước đức như bố thí... tùy theo khả năng của mình. သံဃာရတနာ ဂါထာဖွင့် (ကျက်မှတ်ရန်) → Giải thích bài kệ về Tăng Bảo (Để học thuộc lòng): ဝေ နဝဟိ ဂုဏေဟိ၊ လောကမိ ဝိသုတံ ဂဏံ၊ သာသနံ ဇိနစက္ကာရံ၊ ဝန္ဒာမိ တိဟိ သာဒရံ။ ဝေ နဝဟိ ဂုဏေဟိ-ဤသုပ္ပဋိပန္နတာ အစရှိသည့် ကိုးဖြာသော ဂုဏ်တော်အပေါင်းတို့ဖြင့်၊ လောကမိ-ဘဝတံဆုံးအောင်၊ ဘုံသုံးဆောင်၌၊ ဝိသုတံ-တိတ္ထိတို့ဘောင်၊ လွန်များမြောင်သည့်၊ ဟန်ဆောင်သံဃာ၊ အဖြာဖြာထက်၊ အရာရာဖြင့်၊ ဂုဏ်ရည်တင့်၍၊ ကြီးမြှင့်ထင်ရှားပေသော။ → Ve navahi guṇehi - Lokami - Visutaṃ: Nhờ vào chín loại ân đức bắt đầu bằng Suppaṭipannatā (Diệu hạnh), Tăng đoàn lừng danh và cao quý hơn hẳn mọi loại "tăng giả hiệu" trong hàng ngũ ngoại đạo khắp ba cõi cho đến tận cùng của vòng sinh tử. ဂဏံ-ကမ္ဘာကမ္ဘာ၊ လွန်လေပါလည်း၊ တစ်ခါတစ်ရံ၊ ကြုံရခဲကပ်၊ အမြတ်ရတနာ၊ ဤသာသနာတော်မြတ်ကြီးကို၊ စီရံတာရံ-ဘုရားလက်ထက်၊ အဆက်ဆက်မှ၊ မပျက်ရအောင်၊ ပို့ချသင်ယူ၊ ဆောင်ရွက်တော်မူလာပေသော၊ ဂဏံ-အတွင်းစိတ်ဓာတ်၊ မြင့်မြတ်ကြည်လင်၊ သူတော်စင်ကောင်း၊ အရိယာသံဃာတော်အပေါင်းကို။ → Gaṇaṃ: Tăng đoàn gồm những bậc Thánh thiện trí có nội tâm thanh cao và trong sạch; các Ngài là những vị đã đảm đương việc dạy dỗ, học tập và truyền thừa để giáo pháp quý báu này — thứ vô cùng khó gặp dù trải qua bao nhiêu đại kiếp — không bị mai một từ thời Đức Phật qua các thế hệ liên tục. တိဟိ-လက်အုပ်အဉ္စလီ၊ နှုတ်သံချိုကြည်၊ စိတ်ကြည်လင်မှု၊ သုံးပါးသော ဒွါရတို့ဖြင့်၊ သာဒရံ-လေးမြတ်ကြည်ညို၊ ရိုသေခြင်းရှိသည်ဖြစ်၍၊ ဝန္ဒာမိ-နှလုံးမှန်းဆ၊ လက်အုပ်မိုး၍၊ ရှိခိုးကန်တော့ပါ၏ဘုရား။ → Tihi - Sādaraṃ - Vandāmi: Con xin chắp tay, dùng lời dịu dàng và tâm trong sạch — tức ba cửa (thân, khẩu, ý) — với lòng kính tin sâu sắc, cung kính đảnh lễ và hướng tâm quy hướng đến Tăng đoàn. TRANG 164 [ဂုဏ်တော် ၉-ပါးကို သံဃာ့ဂုဏ်တော်ဖွင့် အစဉ် ပြခဲ့ပြီ။] → [Chín ân đức của Tăng đã được trình bày theo đúng thứ tự giải thích ân đức Tăng.] ကြည့်ရန် အဓိပ္ပာယ် → Ý nghĩa cần xem xét: တိတ္ထိတို့ဘောင်၊ ကြီးမြှင့်ထင်ရှားပေသော။ ။ဘာသာတိုင်း၌ ဘုရားအပြင် တပည့်သံဃာများလည်း ရှိကြရိုးပင် ဖြစ်ပေ၏။ → "Lừng danh và cao quý hơn hẳn... trong hàng ngũ ngoại đạo": Trong mọi tôn giáo, ngoài vị giáo chủ thường cũng đều có các hàng đệ tử Tăng đoàn. တိတ္ထိတပည့်ဟူသမျှထက် ဘုရားရှင်၏ အရိယာဖြစ်ပြီးသော တပည့်သံဃာတော်များက အရာရာ၌ ဂုဏ်အရည်အချင်း သာလွန် ကျော်စောတော်မူကြပေသည်။ → So với tất cả đệ tử ngoại đạo, các vị đệ tử Tăng đã thành bậc Thánh của Đức Thế Tôn đều vượt trội và lừng danh về mọi phẩm hạnh và năng lực. ရာဇဂြိုဟ် သူဌေးကြီး။ ။ဘုရားရှင် လက်ထက်တော်အခါ ရာဇဂြိုဟ်ပြည်၌ သူဌေးတစ်ဦးသည် ရေချိုးရာမှ စန္ဒကူးနံ့သာတုံးကို ရသဖြင့် သပိတ်လုပ်စေပြီးလျှင် “ယခုကာလ၌ ရဟန္တာတွေ အလွန် ပေါများနေပေသည်။ → Trưởng giả thành Vương Xá (Rājagaha): Vào thời Đức Phật, một vị trưởng giả ở thành Vương Xá trong lúc tắm đã tìm được một khúc gỗ đàn hương; ông bèn cho thợ làm thành một cái bát và tuyên bố: "Thời nay các vị A-la-hán có rất nhiều." ရဟန္တာအစစ်ရှိလျှင် ဤသပိတ်ကို တန်ခိုးဖြင့် ဆောင်ယူပါလော့” ဟု ကြော်ငြာပြီးလျှင် အတောင် ၆၀-မြင့်သော ဝါးကြီးကို စိုက်ထောင်ကာ သပိတ်ကို ဆွဲထားလေသည်။ → "Nếu có vị A-la-hán thật sự, hãy dùng thần thông đến lấy cái bát này"; nói rồi ông cho dựng một cây tre cao sáu mươi hắc tay và treo cái bát lên đó. ထိုအခါ တပည့်သံဃာများနှင့်တကွ တိတ္ထိဆရာကြီးများကိုယ်တိုင် လာ၍ ဈာန်ပျံတော့မည်ဟန်ပြရာ တပည့်များက “အရှင်ဘုရား သပိတ်ကလေး တစ်လုံးအတွက် အဖိုးများစွာထိုက်သော တန်ခိုးတော်ကို ပြတော်မမူပါနှင့်ဘုရား” ဟု ဆွဲကြငင်ကြ တောင်းပန်ကြ၍ ဟန်ကိုပြလျက် ပြန်ကြလေသည်။ → Khi đó, chính các vị đạo sư ngoại đạo cùng các đệ tử đã kéo đến; các đạo sư vờ như sắp bay lên không trung, còn đám đệ tử thì kéo tay ngăn lại và nài nỉ: "Thưa thầy, xin thầy đừng vì một cái bát nhỏ mà hiển lộ thần thông vô giá"; thế là họ chỉ diễn trò rồi đi về. TRANG 165 ဤနည်းအတိုင်း ဟန်ပြလျက် အချိန်ကုန်ပြီးနောက် ၇-ရက်မြောက်၌ကား အရှင်မောဂ္ဂလာန်၏ တိုက်တွန်းချက်အရ အရှင်ပိဏ္ဍောလ မထေရ်သည် သုံးဂါဝုတ်လောက်ရှိသော ကျောက်ဖျာကြီးကို ခြေမဖြင့်တွန်း၍ ရာဇဂြိုဟ်ပြည်၏အထက် ကောင်းကင်၌ ဈာန်ပျံလေရာ တစ်ပြည်လုံး အုတ်အုတ်ကျက်ကျက်ဆူကာ “အရှင်ဘုရား သတိထားတော်မူပါ၊ ကျောက်ဖျာကြီး ကျလာပါလိမ့်မည်၊ သတိထားတော်မူပါ” ဟု လက်နှစ်ဖက်ဖြင့် ဦးခေါင်းပေါ်မှာ ကွယ်ကာကြလျက် တောင်းပန်သူက တောင်းပန်၊ ဗန်း-ဆန်ကော စသည်ကို ဦးခေါင်းပေါ်တင်၍ ကာကွယ်သူက ကာကွယ်၊ အိမ်တွင်းမှာ ပုန်းသူက ပုန်းနှင့် တရုန်းရုန်း လှုပ်ရှားနေလေသည်။ → Sau khi họ diễn trò hết thời gian như vậy, đến ngày thứ bảy, theo lời hối thúc của Ngài Moggallāna (Mục-kiền-liên), Ngài trưởng lão Piṇḍola đã dùng ngón chân cái đẩy một phiến đá lớn rộng khoảng ba gāvuta (do dặm) rồi bay liệng trên bầu trời thành Vương Xá; cả thành phố náo loạn, mọi người vừa che đầu bằng hai tay vừa van nài: "Thưa Ngài xin hãy cẩn trọng, phiến đá lớn sắp rơi xuống rồi, xin hãy cẩn trọng"; người thì van xin, kẻ thì lấy mâm hay nia đội lên đầu để che chắn, người thì trốn biệt trong nhà, tạo nên một cảnh tượng vô cùng hỗn loạn. [ဈာန်အဘိညာဉ်၏ တန်ခိုးသည် လေးသော အရာပေါ့၊ ပေါ့သောအရာ လေးအောင် ပြုနိုင်သည်။] → [Năng lực của Thần thông thông qua Thiền định có thể làm cho vật nặng trở nên nhẹ, và vật nhẹ trở nên nặng.] ထို့နောက် အတော်ကြာအောင် လှည့်ဝဲပြီးမှ သူဌေးကြီး၏ ပင့်လျှောက်ချက်အရ ကျောက်ဖျာကြီးကို သူ့နေရာသူချ၍ ကောင်းကင်မှ ဆင်းသက်တော်မူခဲ့သည်၊ ဤသို့လျှင် ဘုရားရှင်၏ သာဝကဖြစ်သော သံဃာတော်များသည် တိတ္ထိတို့၏ ဟန်ဆောင် သံဃာများနှင့် အနေအထိုင်မှစ၍ ဂုဏ်အရည်အချင်းအားဖြင့် အရာရာကွာခြားလျက် ကြီးကျယ်ထင်ရှားပါပေသည်။ [စူဠဝဂ္ဂ ပါဠိတော်၊ ခုဒ္ဒကဝတ္ထု ခန္ဓက။] → Sau khi bay liệng một lúc lâu, theo lời thỉnh cầu của vị trưởng giả, Ngài đã đặt phiến đá về chỗ cũ rồi từ trên không hạ xuống; như vậy, các vị Tăng là đệ tử của Đức Thế Tôn khác biệt hoàn toàn với những kẻ giả tăng của ngoại đạo từ lối sống cho đến năng lực phẩm hạnh, và các Ngài luôn lừng danh và vĩ đại. [Tiểu Phẩm (Cullavagga) thuộc Tạng Luật, chương Khuddakavatthu Khandhaka.] [a]Danh Dau