VẤN ĐÁP GIỚI LUẬT Abhayalankara Sayadaw (Mahavihara) CÂU 1. ĐỜI SỐNG NHÀ SƯ KHÔNG TIỀN BẠC Hỏi: Thưa Sayadaw, các sư vừa không có người hộ Tăng (kappiyakāraka), vừa không có thí chủ hộ độ tứ vật dụng, lại không được cầm tiền. Nếu vậy, các sư làm sao tồn tại được? Khi cần một thứ gì đó thì phải làm thế nào? Kính mong Sayadaw chỉ dạy. Đáp: Trong kinh điển có đề cập đến Bhikkhācāravattena, điều này rất quan trọng. Một số người thắc mắc: “Tiền không cầm, tiền không có, kappiyakāraka cũng không thì làm sao sống đây?”. Chính vì vậy, Đức Phật đã đề ra Bhikkhācāravattena, nghĩa là “có được đầy đủ những nhu cầu thiết yếu bằng việc thực hành hạnh đi khất thực”. Một vị Tỳ-kheo được trao cho chiếc bình bát; với chiếc bình bát ấy, mọi thứ vị ấy cần đều có thể có được đầy đủ (icchāsaya). Bản thân một vị sư cần những gì? Để có được những thứ mình cần, hãy đi khất thực từng nhà. Nếu có thí chủ tác bạch tứ vật dụng thì có thể hỏi xin từ họ; hoặc nếu có bà con thân quyến thì cũng có thể hỏi xin từ bà con thân quyến. Nếu không có bà con thân quyến hộ độ, người tác bạch tứ vật dụng cũng không có, thì đi khất thực thôi. Vị sư đắp y, ôm bình bát, rồi đi đến đứng trước ngôi nhà mà mình nghĩ rằng họ có thể cúng dường. Đứng trước nhà họ xong, dù họ cúng dường thứ gì cũng phải từ chối, vì thứ họ cúng dường không phải thứ mình cần. Cúng dường tiền hay vật thực cũng đều từ chối. Khi từ chối như vậy, mục đích là muốn họ hỏi xem mình có nhu cầu về thứ gì. Ví dụ họ có thể hỏi: “Thưa sư, sư nhận được thứ gì? Sư cần gì ạ?”. Nếu được hỏi như vậy, vị sư cần cuốn sách có thể trả lời là cần cuốn sách. Nếu có thể, tất nhiên họ sẽ cúng dường. Còn nếu không, họ sẽ nói: “Dạ con xin sám hối sư!” rồi thỉnh mình đi nhà khác. Đây là cách các sư tìm kiếm tứ vật dụng phù hợp với mong muốn của Đức Phật. Những thứ cần thiết đã được giải quyết bằng cách thực hành hạnh đi khất thực như vậy rồi. Có một sự thực hành gọi là hạnh đi bát khất thực. Các sư cần phải thực hành theo cách thức như vậy. Ngày nay, cách thực hành đúng đắn không còn được hiểu rõ, ngay cả trong chư Tăng cũng có nhiều vị chưa thông suốt, nên mới có chuyện đi đến từng nhà để nhận cúng dường tiền bạc. Những cách thức như đứng trên đường nhận tiền cũng dần xuất hiện. Vì thế, một vị tỳ-kheo cần phải thực hiện đúng phận sự của mình như đã được chỉ dạy. CÂU 2. LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIÚP CHA MẸ TRẢ NỢ? Hỏi: Thưa Ngài, nếu cha mẹ đang mắc nợ, con có thể làm cách nào để giúp cha mẹ trả nợ? Đáp: Đối với vị tỳ-kheo có cha mẹ đang mang nợ, nếu vị ấy là người có công đóng góp cho Giáo Pháp và có ơn với chư Tăng, thì chư Tăng trong tự viện nơi vị ấy trú ngụ có thể cùng nhau trợ giúp. Việc này cần được thông báo và xin phép chư Tăng. Phải trình rõ: “Cha mẹ của vị tỳ-kheo này đang mắc nợ như thế này… Xin chư Tăng xả bớt phần vật dụng chung có giá trị tương đương để giúp vị ấy.” Nếu chư Tăng đồng ý thì được phép thực hiện. Trường hợp khoản nợ quá lớn, vượt khả năng của chư Tăng, thì có thể giải quyết bằng cách đi khất thực. Vật dụng của chư Tăng vốn được cúng dường để dùng chung, nếu dùng cho cá nhân quá nhiều thì không thích hợp. Ở mức độ hợp lý, sau khi thông báo và được chư Tăng chấp thuận thì có thể sử dụng. Còn với khoản nợ lớn, chư Tăng có thể cùng nhau đi khất thực để gom góp trả nợ giúp vị ấy. Cách này có thể giải quyết được vấn đề. CÂU 3. KHI GẠO, DẦU SẮP HẾT THÌ XỬ LÝ RA SAO? Hỏi: Thưa Ngài, trong thời kỳ chiến tranh khó khăn, nếu không có thí chủ cúng dường vật thực, mà trong chùa gạo và dầu cũng sắp cạn, thì phải xử lý thế nào? Vấn đề này cũng tương tự như đã được trình bày ở câu hỏi trước. Nếu có cận sự nam, cận sự nữ hộ độ tứ vật dụng, quý thầy có thể thông báo cho họ biết việc chùa đang dần hết gạo. Đối với các thí chủ hộ độ tứ vật dụng hoặc bà con thân quyến, chư Tăng trong chùa có thể đến nói chuyện với họ. Nếu không có ai như vậy, thì như Sư đã nói, quý thầy có thể ôm bát đi khất thực từng nhà để nhận sự cúng dường. Những hoàn cảnh tương tự như thế này, thời Đức Phật cũng đã từng gặp phải, thậm chí còn trải qua rất nhiều. Đó chính là lý do vì sao trong Luật tạng, vấn đề này lại được đề cập rất rõ ràng và chi tiết. Nếu thời Đức Phật chưa từng có trường hợp nào như vậy, thì có lẽ những điều luật liên quan đã không được quy định minh bạch đến thế. Có thể khẳng định rằng, những vấn đề chúng ta gặp phải ngày nay, thì từ thời Đức Phật cũng đã từng xảy ra. Một minh chứng cụ thể là câu chuyện của Tỳ-kheo Sudinna. Tỳ-kheo Sudinna xuất gia với đức tin trong sạch. Sau khi xuất gia, Ngài đi đến một vùng quê khác và an cư tại đó suốt tám mùa an cư kiết hạ, thay vì sống tại quê nhà. Tám hạ tức là tám năm trường. Lúc bấy giờ, vùng quê nơi Ngài đang trú phải đối mặt với nạn đói (dubbhikkhantara). Trong suốt thời kỳ khó khăn ấy, đời sống của chư Tăng gặp nhiều bất tiện. Khi ấy, trong tâm Ngài khởi lên suy nghĩ: “Đã lâu rồi ta chưa về thăm quê nhà. Nếu ta trở về, ta sẽ có cơ hội để tế độ cha mẹ, cha mẹ ta cũng có dịp tỏ lòng tôn kính, và cả ta lẫn chư Tăng đều sẽ có được sự thuận lợi về vật thực. Vậy ta nên trở về.” Nghĩ như vậy rồi, Ngài thỉnh chư Tăng cùng đi. Đương nhiên, sau đó cha mẹ của Ngài đã cúng dường vật thực đến Ngài và toàn thể chư Tăng đi cùng. Qua đó chúng ta thấy, với cách thức như vậy, vị Tỳ-kheo được phép thỉnh cầu sự hộ độ từ thân quyến hoặc từ các thí chủ hộ độ tứ vật dụng. Nếu không có những điều kiện ấy, thì như đã nói, chư Tăng có thể ôm bình bát đi khất thực, đứng trước nhà thí chủ để nhận sự cúng dường. CÂU 4. TỲ-KHEO TỰ MÌNH NẤU ĂN CÓ ĐƯỢC KHÔNG? Hỏi: Thời điểm hiện nay, khi các loại dịch bệnh do virus đang lan rộng (như đại dịch Covid-19), việc chư Tăng đi khất thực có lẽ không nên thực hiện. Vậy nếu chư Tăng tự nấu ăn trong chùa rồi dùng thì có hợp luật không, thưa Ngài? Đáp: Nếu việc nấu ăn được thực hiện bởi kappiyakāraka (người hộ Tăng) hoặc Sa-di, sau đó dâng lên chư Tỳ-kheo thì được phép. Tỳ-kheo tuyệt đối không được phép tự mình nấu nướng. Kappiyakāraka nấu rồi dâng, hoặc Sa-di nấu rồi dâng thì đều hợp lệ. Tỳ-kheo tự nấu là không được phép. CÂU 5. CÓ NÊN CÚNG DƯỜNG TIỀN KHÔNG? Hỏi: Thưa Ngài, ở cổng phía Nam của ngôi tháp Shwedagon, có một số vị Tỳ-kheo đưa ra nhiều lý do để xin tiền, chẳng hạn như nói dép bị hỏng rồi thỉnh cầu tài vật. Nếu chúng con cúng dường tiền trong trường hợp đó thì có hợp luật không? Đáp: Trong hoàn cảnh ấy, không nên cúng dường tiền. Việc cúng dường tiền như vậy vô tình tiếp tay cho những người mạo danh Tăng-giả. Nếu là vị Tỳ-kheo chân chính, vị ấy sẽ tự biết cách xoay xở, chứ không dễ dàng nhắc đến tiền bạc. Một khi đã đề cập đến tiền thì chắc chắn là không hợp luật. Thay vào đó, có thể cúng dường những vật dụng cần thiết khác cho chư Tăng. Nếu vị ấy cần dép, thí chủ có thể cúng dường dép. Nếu cần nước uống, nên cúng dường chai nước. Nếu cần sách vở, hãy cúng dường sách vở. Trong tình huống trên, thí chủ có thể hộ độ đúng pháp theo cách sau: khi vị sư đến, thí chủ chắp tay thưa: “Thưa sư, sư cần gì ạ?” Nếu vị ấy đáp: “Dép sư bị đứt!”, thí chủ nên thưa: “Con thỉnh sư chờ ở đây một lát ạ!”, rồi nhanh chóng đi mua dép. Nếu vị sư thực sự cần dép thì sẽ nhận đôi dép được cúng dường đúng lúc. Còn nếu vị ấy chỉ muốn xin tiền, thì sau đó sẽ không nhận dép. Trong trường hợp xin tiền, thí chủ không có lý do để cúng dường. Ngược lại, nếu đúng là vị ấy cần dép vì dép hỏng, thì tự nhiên sẽ nhận dép, như vậy không phải là người tu giả. Vì thế, các Phật tử nam nữ cần phân biệt thật giả bằng cách thưa rằng: “Thưa sư, thỉnh sư đợi ở đây một lát, hoặc nếu tiện, con thỉnh sư đi cùng con. Sư cần vở hay bút gì con cũng xin được cúng dường ạ!”. Nếu Phật tử nào cũng nhất quán làm như vậy, thì những người tu giả sẽ dần biến mất. Bằng không, nếu mọi người cứ dễ dàng rút tiền cúng dường, thì những kẻ giả dạng tu hành để kiếm ăn sẽ ngày càng tăng. Chừng nào còn có người sẵn sàng cúng dường tiền bạc, thì chừng ấy vẫn còn những người đội lốt nhà tu, lợi dụng Phật giáo để mưu sinh. Nếu không còn ai cúng dường tiền, nguồn cung ứng bị cắt, những kẻ kiếm ăn như thế cũng sẽ không thể tồn tại. Ngài Leydi Sayadaw thường dạy rằng: “Chừng nào vẫn còn những người cúng dường theo cách này, thì những kẻ mượn danh tu hành vẫn còn có lực lượng hậu thuẫn. Nhờ vậy, họ càng thêm mạnh dạn và ngang nhiên tiếp tục. Nếu không còn ai cúng dường tiền bạc, họ sẽ không thể tồn tại, vì không còn lý do để mưu sinh như trước nữa, nên họ buộc phải dừng lại. Vì vậy, chớ nên làm những việc tiếp sức cho người phá giới.” Ngài Sayadaw luôn nhấn mạnh điều này. CÂU 6: TỲ-KHEO BÓI TOÁN VÀ CHỮA BỆNH CÓ HỢP LUẬT KHÔNG Hỏi: Thưa Ngài, chư Tỳ-kheo bói toán và chữa bệnh thì có hợp luật không ạ? Việc bói toán là không được phép. Hành vi xem bói hay chữa bệnh của chư Tỳ-kheo được liệt kê trong 22 loại tà mạng (anesana). Những vật dụng có được từ việc xem bói cũng không hợp luật đối với chư Tăng. Dù quý vị cư sĩ có sở thích xem bói, cũng không nên đến hỏi các vị sư làm thầy bói, mà nên tìm đến những thầy bói ngoài đời. Bởi khi quý vị đến hỏi các vị sư hành nghề bói toán, vị ấy sẽ tự làm giảm phẩm hạnh và giá trị của mình vì hai nguyên nhân. Thứ nhất, việc một vị sư chấp nhận tin vào bói toán sẽ hủy hoại đức tin vào nghiệp và quả của nghiệp (Kammasakata sammādiṭṭhi). Thứ hai, điều đó phá hoại giới hạnh của chính vị ấy. Việc dựa dẫm, tin tưởng quá nhiều vào bói toán có thể dẫn đến sự hủy hoại đức tin vào nghiệp và quả của nghiệp. Muốn thi đậu mà không nỗ lực, lại nhờ thầy bói yểm bùa vào chiếc bút bi, những việc như vậy là không đúng đắn. Muốn thi đậu thì phải cố gắng học hành. Có người thắc mắc: “Vậy chẳng lẽ không cần sự hỗ trợ của nghiệp sao?” Thực ra là có cần. Nhưng thầy bói không phải là nghiệp, cũng không phải người điều khiển nghiệp. Nghiệp vốn nằm trong tay quý vị. Quý vị sẽ phải làm gì? Sáng thức dậy thật sớm, đảnh lễ Đức Phật, dâng nước, dâng hoa, hay thọ trì ngũ giới – đó chính là những nghiệp mà quý vị có thể tự tạo. Nghiệp là cần thiết, thực sự cần thiết. Nhưng thầy bói không thể giúp nghiệp của quý vị tốt đẹp lên được. Thầy bói giải hạn không thể thay đổi bất cứ điều gì đối với nghiệp của ai cả. CÂU 7: VIỆC CÚNG DƯỜNG TIỀN BẮT ĐẦU XUẤT HIỆN KHI NÀO? Hỏi: Thưa Ngài, trước thời kỳ vua Mindon, việc cúng dường tiền đã có chưa ạ? Rất hiếm, thậm chí có thể nói là không có. Chỉ sau thời kỳ vua Min-don, việc cúng dường tiền xu mới xuất hiện, nhưng rất ít và không phổ biến. Thời đó chưa phân ra trường phái Shwechin hay Sudammā, tất cả chư Tăng đều tuân thủ giới không nhận tiền. Nếu vị nào nhận tiền sẽ bị số đông chỉ trích, chê trách. Vì thế, không ai dám công khai nhận tiền, cũng không ai dám công khai cúng dường tiền. Nếu có, họ chỉ thực hiện một cách kín đáo, không lộ liễu. Việc cúng dường tiền công khai hoàn toàn không có trong giai đoạn đó. Chỉ sau thời kỳ vua Min-don, việc cúng dường tiền và nhận tiền công khai mới xuất hiện, dần dần không còn ai cảm thấy ghê sợ hay hổ thẹn khi nhận tiền nữa. Việc làm này hiện nay gần như được xem là hợp luật. Thậm chí những người biết đến điều giới chư Tăng không được nhận tiền cũng trở nên hiếm hoi. Gần đây, nhờ việc chia sẻ giới luật rộng rãi cho cư sĩ nên dần dần mới có thêm người biết đến. CÂU 8: TIỀN CỦA TỲ-KHEO DÙNG XÂY CHÙA CÓ ĐƯỢC KHÔNG? Hỏi: Thưa Ngài, một vị Tỳ-kheo dùng tiền được cúng dường cho mình để đóng góp vào việc xây nhà ăn thì nhà ăn đó có hợp luật không ạ? Không được. Tỳ-kheo không được đem tiền của mình bỏ vào. Trước đây đã có một vị Sayadaw đến hỏi về vấn đề này. Ví dụ, cư sĩ cúng dường tiền với lời tác bạch: “Bạch Ngài, chúng con xin cúng dường để xây nhà ăn ạ!”. Vị sư nhận số tiền đó. Khi ấy, vì hành vi nhận tiền nên vị sư phạm giới tác ác (dukkaṭa). Tuy nhiên, số tiền đó không cần phải xả bỏ (nissaggiya). Tại sao? Vì số tiền đó không phải của vị Tỳ-kheo, không được cúng dường cho cá nhân vị ấy. Vậy số tiền đó cần xử lý thế nào? Phải giao lại cho ban hộ Tự hoặc nhóm phụ trách xây dựng. Có thể nói: “Đây là tiền cúng dường cho chùa, kappiyakāraka hãy nhận lấy.” rồi trao cho họ. Sau đó, họ dùng số tiền đó để xây dựng chùa, cốc liêu… thì những công trình ấy là hợp luật. Còn nếu vị sư không giao tiền cho nhóm phụ trách mà tự đi mua vật liệu như xi măng, sắt thép… thì lại không hợp luật. Về việc nhận tiền, nếu Tỳ-kheo nhận cho riêng mình thì số tiền ấy bắt buộc phải xả bỏ; còn nếu nhận cho chùa thì không cần xả, chỉ cần giao lại cho ban hộ Tự là được. Một điểm cần lưu ý nữa: nếu vị sư dùng tiền cá nhân của mình bỏ thêm vào việc xây nhà ăn thì hoàn toàn không hợp luật. Tại sao? Vì đó là tiền của Tỳ-kheo. Nếu vị ấy đem số tiền mình có được cúng vào việc xây dựng, thì số tiền ấy thuộc loại phải xả bỏ. Vì vậy, lời tác bạch của thí chủ rất quan trọng. Cần phân biệt rõ: nếu thí chủ nói: “Bạch sư, con xin thành kính cúng dường đến sư ạ!” rồi đưa tiền, thì số tiền đó thuộc về vị sư. Đã là tiền của vị sư thì phải xả bỏ, không thể đem đóng góp hay sử dụng vào việc nào khác. Còn nếu thí chủ nói: “Con xin cúng dường cho chùa” rồi đặt vào tay vị sư, thì số tiền đó là của chùa, không phải của vị ấy, và vị ấy không có quyền xả bỏ số tiền này. Do đó, các sư cần căn cứ vào lời tác bạch cúng dường của thí chủ để quyết định. Với trường hợp này, Phật tử đang xây chùa mà vị sư dùng tiền cá nhân thêm vào là không hợp luật. Hỏi: Dạ thưa Sayadaw, nếu nhà ăn đó không hợp luật thì phải xử lý như thế nào ạ? Đáp: Việc cần làm tiếp theo là phải xả bỏ. Nhà ăn đó nên được xả bỏ cho các cư sĩ. Vị tỳ-khưu có thể nói: “Nhà ăn này không hợp luật nên chư Tăng không thể sử dụng, tôi xả bỏ lại cho quý vị!”, sau khi xả bỏ là việc được hoàn tất. Hỏi: Thưa Sayadaw, ví dụ trong nhà ăn đó có những bộ bàn ăn, nếu cư sĩ chúng con dùng chính những bàn ăn ấy để sửa soạn vật thực rồi cúng dường cho chư Tăng, như vậy những thức ăn ấy có hợp luật không ạ? Đáp: Quý vị muốn hỏi về những bàn ăn đặt trong nhà ăn đó phải không? Nếu trước đó nhà ăn đã được xả bỏ hoàn toàn cho cư sĩ rồi, thì với tư cách là đồ dùng của cư sĩ, quý vị có thể thỉnh mời chư Tăng thọ dụng được. Còn nếu chưa xả bỏ thì chư Tăng không được phép bước vào hoặc sử dụng nhà ăn đó. Vì vậy cần phải xả bỏ, trao lại toàn quyền sở hữu cho cư sĩ, họ muốn sử dụng thế nào là tùy ý. Nếu họ muốn dùng nơi đó làm chánh điện, rồi thỉnh chư Tăng đến để truyền giới hoặc thuyết pháp thì đều được, nhưng chư Tăng không được ở lại đó. Có thể giải quyết theo cách này.